Do vậy, việc gắn giá trị ĐDSH cao nguyên Kon Hà Nừng với hoạt động trải nghiệm HĐTN trong dạy học Địa lí chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao, tạo hứng thú học tập cho học sinh HS, giúp ch
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ đặc điểm địa lí và xác định định tính giá trị ĐDSH của cao nguyên Kon Hà Nừng phần thuộc tỉnh Gia Lai
Khảo sát và làm rõ khả năng khai thác các giá trị ĐDSH của cao nguyên Kon Hà Nừng là cơ sở để xây dựng các hoạt động trải nghiệm (HĐTN) trong dạy học địa lý THPT Việc nhận diện và khai thác các giá trị đa dạng sinh học của vùng này không chỉ giúp học sinh hình thành nhận thức về hệ sinh thái mà còn phát huy kỹ năng quan sát, phân tích và tư duy địa lý thông qua các hoạt động thực địa, thảo luận nhóm và dự án nghiên cứu Nội dung hướng tới tập trung vào phân bố và đặc điểm của hệ sinh thái trên cao nguyên, vai trò của ĐDSH trong cân bằng sinh thái và phát triển bền vững, cũng như mối liên hệ giữa ĐDSH và đời sống của người dân địa phương Từ đó, giáo viên có thể thiết kế các hoạt động trải nghiệm phù hợp với chương trình THPT, tăng cường tính thực tiễn của bài học, đồng thời nâng cao nhận thức bảo tồn và trách nhiệm cộng đồng của học sinh.
Nội dung nghiên cứu
Trong tổng quan tài liệu trong nước và nước ngoài về dạy học địa lý, nghiên cứu tập trung vào giá trị của đa dạng sinh học (ĐDSH) và vai trò của hoạt động giáo dục trải nghiệm Nghiên cứu cơ sở lý luận cho thấy ĐDSH không chỉ là nguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn là cơ sở để hình thành nhận thức, kỹ năng quan sát và tư duy phản biện ở học sinh thông qua các hoạt động giáo dục trải nghiệm trong dạy học địa lý Kết quả các nghiên cứu cho thấy tích hợp hoạt động giáo dục trải nghiệm giúp học sinh nhận diện mối liên hệ giữa ĐDSH và môi trường, tăng sự tham gia và động lực học tập, từ đó nâng cao chất lượng dạy học địa lý Trên cơ sở này, các đề xuất nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục địa lý ở cấp phổ thông và đại học, đồng thời mở rộng phạm vi khai thác giá trị ĐDSH trong giảng dạy.
- Phân tích giá trị ĐDSH cao nguyên Kon Hà Nừng, tỉnh Gia Lai
- Nghiên cứu khai thác giá trị ĐDSH trên cao nguyên Kon Hà Nừng, tỉnh
Gia Lai cho xây dựng một số HĐTN trong dạy học môn địa lí THPT.
Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Quan điểm tổng hợp là đặc trưng và nền tảng của phép biện chứng, yêu cầu khi nghiên cứu phải xem xét đối tượng một cách toàn diện và đa mặt Đa dạng sinh học của cao nguyên Kon Hà Nừng đại diện cho một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế - văn hóa - giáo dục và cả môi trường Vì vậy, khi nghiên cứu đặc điểm của ĐDSH, cần phân tích đặc trưng của toàn bộ hệ thống tự nhiên và mối quan hệ biện chứng giữa hệ thống tự nhiên với hệ thống kinh tế - văn hóa - giáo dục Kết quả của phân tích này là cơ sở để xây dựng các hoạt động trải nghiệm địa lý dành cho học sinh THPT.
Quan điểm lãnh thổ là một hướng tiếp cận truyền thống của Khoa học Địa lý, bởi mỗi đối tượng địa lý gắn với một không gian cụ thể và có các quy luật hoạt động riêng, phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của lãnh thổ ấy Đồng thời, mỗi lãnh thổ luôn có sự phân hóa nội tại và có mối quan hệ mật thiết với các lãnh thổ xung quanh Vận dụng quan điểm lãnh thổ giúp giải quyết một cách cụ thể các vấn đề trong thực tiễn quản lý và khai thác lãnh thổ Do vậy, các nghiên cứu địa lý thường được gắn với một lãnh thổ cụ thể.
Theo quan điểm này, vấn đề nghiên cứu phải xuất phát từ các mâu thuẫn khách quan và các yêu cầu cấp bách, tính thời sự của thực tiễn đời sống và thực tiễn giáo dục; kết quả nghiên cứu sau đó quay trở lại phục vụ thực tiễn, nhằm giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra Trong khuôn khổ đó, việc nghiên cứu đặc điểm ĐDSH cao nguyên Kon Hà Nừng góp phần xây dựng các HĐTN địa lý cho HS THPT, xuất phát từ nhu cầu "học đi đôi với hành", "thực tiễn gắn với lý thuyết" của chương trình phổ thông mới và yêu cầu giáo dục hiện đại.
5.1.4 Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Trong những năm gần đây, quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đã trở thành trọng tâm của nhiều chương trình, nghiên cứu và giáo dục Các nhà địa lý đã vận dụng quan điểm này để nghiên cứu và đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Việc áp dụng quan điểm này vào nghiên cứu giá trị ĐDSH cho HĐTN nhằm đề xuất các giải pháp khai thác giá trị ĐDSH tại cao nguyên Kon Hà Nừng, tỉnh Gia Lai theo hướng phát triển bền vững.
5.1.5 Quan điểm tiếp cận năng lực
Việc dạy học theo hướng tiếp cận năng lực được xem là chìa khóa để đổi mới giáo dục; để thực hiện đổi mới nội dung này, giải pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực cần xác định chính xác ngưỡng nhận thức năng lực phù hợp của người học Vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu giá trị ĐDSH cho HĐTN nhằm đề xuất các giải pháp khai thác giá trị ĐDSH cao nguyên Kon Hà Nừng, tỉnh Gia Lai theo hướng phát triển năng lực Đây là những yếu tố quan trọng hướng tới một nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao.
5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
Việc thu thập, tổng quan và kế thừa nguồn tài liệu, tư liệu liên quan đến nội dung, yêu cầu và mục tiêu của luận văn được thực hiện đồng thời tiếp cận và cập nhật thông tin, tài liệu mới trong và ngoài nước Tài liệu được chọn lọc, hệ thống hóa và phân loại theo nội dung nghiên cứu của đề tài, bao gồm hệ thống bản đồ, số liệu thống kê, công trình nghiên cứu và các báo cáo liên quan đến cao nguyên Kon Hà Nừng, tỉnh Gia Lai, cùng các tư liệu điều tra, khảo sát Các dữ liệu này được chuẩn hóa, sắp xếp và xử lý để làm cơ sở phân tích, định hướng khai thác và thực hiện nghiên cứu của luận văn.
Khảo sát thực địa là một phương pháp truyền thống không thể thiếu trong nghiên cứu địa lý và đặc biệt có giá trị cho luận văn Mục đích của nghiên cứu thực địa là thu thập tư liệu, tìm hiểu thực tế địa bàn, và kiểm tra, đối chiếu tư liệu với các kết quả nghiên cứu đã có nhằm xây dựng luận cứ vững chắc Quá trình khảo sát địa phương giúp nắm bắt đặc điểm tự nhiên và xã hội của khu vực nghiên cứu, cung cấp bằng chứng thực tế để phân tích và giải thích các hiện tượng không gian một cách có hệ thống Đồng thời, khảo sát thực địa còn là cơ sở để lựa chọn địa điểm tổ chức các hoạt động thực địa địa lý cho học sinh, thiết kế nội dung giáo dục phù hợp với thực tế và tăng cường tính trực quan cho người học Việc lên kế hoạch, ghi nhận quan sát và đối chiếu dữ liệu từ thực địa làm tăng tính tin cậy và độ sâu của nghiên cứu.
Trong gian đoạn thực hiện đề tài, học viên đã thực hiện hai đợt khảo sát theo dạng điểm, dạng tuyến Cụ thể như sau:
Đợt 1 diễn ra từ ngày 01/02/2020 đến 02/02/2020, học viên đã khảo sát VQG Kon Ka Kinh nhằm thu thập tư liệu và tìm hiểu thực tế địa bàn Dựa trên kết quả khảo sát, các em chọn nội dung phù hợp và xây dựng các hoạt động địa lý cho học sinh, giúp nâng cao hiểu biết về vùng đất Kon Ka Kinh và ứng dụng kiến thức địa lý vào thực tế.
Đợt 2, ngày 22/08/2020, học viên đã khảo sát khu BTTN Kon Chư Răng nhằm thu thập tư liệu và tìm hiểu thực tế địa bàn Trên cơ sở kết quả khảo sát này, các địa điểm được lựa chọn để xây dựng các HĐTN địa lý cho học sinh.
Do áp lực công việc, ảnh hưởng của dịch Covid-19 và thời gian làm luận văn ngắn, việc tìm hiểu, thu thập số liệu và tư liệu cho địa bàn nghiên cứu vẫn còn nhiều khó khăn Vì vậy, trong quá trình khảo sát thực địa, học viên đã kết hợp với đồng nghiệp, thầy cô và học sinh nhằm hỗ trợ đề tài luận văn được thực hiện một cách tốt nhất và đảm bảo dữ liệu thu thập được đầy đủ, chính xác.
Hình 1 Bản đồ thực địa tại cao nguyên Kon Hà Nừng
5.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Để thực hiện luận văn, tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn với lượng thông tin lớn nên cần quy trình xử lý, phân tích, chọn lọc và tổng hợp có hệ thống Phương pháp phân tích hệ thống cho phép lựa chọn tư liệu phù hợp với mục đích nghiên cứu và làm rõ đặc điểm, sự đa dạng sinh học của cao nguyên Kon Hà Nừng, tỉnh Gia Lai Kết quả phân tích sẽ làm nổi bật những nét độc đáo, có giá trị khoa học và giáo dục, từ đó đóng góp vào xây dựng các hoạt động địa lý THPT và nâng cao chất lượng giáo dục địa lý, đồng thời gợi ý các hoạt động trải nghiệm địa lý hiệu quả cho học sinh.
Phương pháp bản đồ kết hợp với hệ thống thông tin địa lý (GIS) được sử dụng xuyên suốt từ khi bắt đầu đến khi kết thúc luận văn Ngay từ những bước đầu, bản đồ được vẽ để xác định tuyến thực địa và chọn điểm khảo sát; khi nghiên cứu điều kiện tự nhiên và ĐDSH khu vực nghiên cứu, bản đồ được kết hợp với các biểu đồ thu thập được để làm rõ hiện trạng của vấn đề Ở phần kết quả, dữ liệu đã được xử lý trình bày bằng biểu đồ và bản đồ kết quả với sự hỗ trợ của GIS nhằm thể hiện phân hóa không gian của ĐDSH trên cao nguyên Kon Hà Nừng, tỉnh Gia Lai Điều này tăng tính trực quan cho kết quả nghiên cứu và làm căn cứ cho định hướng, đề xuất các biện pháp khai thác các giá trị đa dạng sinh học hợp lý cho hoạt động giáo dục và trải nghiệm địa lý.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Bổ sung và làm phong phú phương pháp luận về nghiên cứu giá trị ĐDSH cao nguyên Kon Hà Nừng phục vụ xây dựng HĐTN trong dạy học địa lí
- Ý nghĩa thực tiễn : Cung cấp thông tin, giá trị về ĐDSH, từ đó xây dựng và tổ chức các HĐTN địa lí cho học sinh THPT, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu cùng hướng ở các địa phương khác.
Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu trong 03 chương với 07 bảng và 17 hình:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Cao nguyên Kon Hà Nừng, thuộc tỉnh Gia Lai, được giới thiệu ở Chương 2 với giá trị đa dạng sinh học phong phú, hệ sinh thái đặc sắc và nguồn gen quý hiếm, đóng vai trò then chốt trong bảo tồn sinh thái và phát triển du lịch sinh thái bền vững Chương 3 đề xuất cách khai thác những giá trị này cho hoạt động trải nghiệm địa lý bằng cách khảo sát hệ động thực vật, nghiên cứu địa hình và thiết kế các trải nghiệm giáo dục môi trường có sự tham gia của cộng đồng địa phương, nhằm nâng cao nhận thức, bảo tồn và tạo nguồn lực kinh tế cho vùng cao nguyên Kon Hà Nừng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ TRẢI NGHIỆM ĐỊA LÍ
VÀ TRẢI NGHIỆM ĐỊA LÍ
Theo Dickson Adom và cộng sự (2019), từ “đa dạng sinh học” lần đầu tiên được gọi là “đa dạng sinh học” bởi Dasmann (1968) trong một cuốn sách ông viết để vận động cho việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Sau này thuật ngữ ĐDSH đã được sử dụng rộng rãi với nhiều quan điểm khác nhau, như các quan điểm được IUCN trình bày.
Vào những năm đầu thập niên 1980, các công trình của Wilson (1981) và Peter (1988) đã mở ra cái nhìn về giá trị của đa dạng sinh học (ĐDSH) Đến năm 1992, các giá trị ĐDSH được làm sáng tỏ hơn trong phần mở đầu của Công ước về ĐDSH, bao gồm các giá trị nội tại, sinh thái, di truyền, xã hội, kinh tế, giá trị khoa học, giáo dục, văn hóa, giải trí và thẩm mỹ Lúc này thuật ngữ “giá trị ĐDSH” bắt đầu được chú ý và có những hướng nghiên cứu nổi bật sau.
Giá trị ĐDSH theo hướng bảo tồn (giá trị bảo tồn) là hướng nghiên cứu của các nhà sinh thái, động vật học, tiếp nối quan điểm của Dasmann, được triển khai tại VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, khu di sản (KDS), công viên tự nhiên và ngày càng phát triển mạnh mẽ Nhiều công trình nghiên cứu như ETFRN NEWS (2010), Mukrimah Abdullaha và cộng sự (2015), và Richard A Niesenbaum (2019) đã sử dụng phương pháp từ định tính đến định lượng để đánh giá ĐDSH tại các khu rừng từ Brazil, Lebanon đến Malaysia, nhằm liên kết giá trị ĐDSH với công tác bảo tồn và hướng tới sự phát triển bền vững.
Trong khuôn khổ định giá kinh tế, giá trị của đa dạng sinh học được xem xét dựa vào giá trị sử dụng và được chia thành hai hình thức: giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp Giá trị sử dụng trực tiếp được sinh ra từ việc khai thác hoặc tận dụng tài nguyên thực tế (ví dụ: gỗ rừng, giải trí, đánh bắt cá), trong khi giá trị sử dụng gián tiếp liên quan đến các lợi ích từ chức năng của hệ sinh thái như bảo vệ đầu nguồn và hấp thụ carbon của rừng Dòng nghiên cứu này được đại diện bởi Desaigues và Ami (2001), Marianne Kettunen và Patrick ten Brink (2006), Peter và cộng sự (2007), Nick Hanley và Charles Perrings (2019) Theo hướng tiếp cận này, giá trị nội tại của ĐDSH thường không được coi trọng, dẫn đến nhiều ý kiến bất đồng với các nhà bảo tồn, sinh thái và động vật học.
Giá trị của đa dạng sinh học (ĐDSH) theo hướng giao hòa giữa bảo tồn, kinh tế và xã hội đặt mục tiêu vừa bảo vệ hệ sinh thái vừa đảm bảo lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội Các công trình nghiên cứu của Peter J Edwards và Cyrus Abivardi đã khảo sát cách định giá và thể hiện các dịch vụ hệ sinh thái, từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính sách để cân bằng giữa bảo tồn và phát triển Nhấn mạnh của các tiếp cận này là ĐDSH vừa là vốn tự nhiên vừa là nguồn lực kinh tế và cơ sở xã hội, đòi hỏi sự phối hợp giữa các biện pháp bảo vệ, đầu tư và công bằng xã hội Việc tích hợp các yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội giúp tối ưu hoá lợi ích lâu dài, giảm thiểu rủi ro mất mát ĐDSH và thúc đẩy phát triển bền vững.
Những công trình như (1998) và Alho (2008) cho thấy đây là một hướng nghiên cứu khó, đòi hỏi tiếp cận đa ngành Tuy vậy, sự suy giảm tài nguyên, bao gồm mất ĐDSH, đã làm thay đổi nhận thức của các nhà kinh tế và đẩy họ theo đuổi nghiên cứu về phát triển bền vững Trong khuôn khổ này, khái niệm giá trị ĐDSH được thể hiện thông qua dịch vụ hệ sinh thái, nhấn mạnh vai trò của hệ sinh thái đối với nền kinh tế và xã hội Các công trình của Partha Dasgupta và cộng sự đã đóng góp nổi bật, hình thành lý thuyết và hướng ứng dụng về dịch vụ hệ sinh thái và giá trị của ĐDSH.
Việc khai thác các giá trị của giáo dục trải nghiệm để phục vụ công tác giảng dạy nằm trong hướng nghiên cứu thứ ba Giáo dục trải nghiệm xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, bắt đầu như một hình thức học tập mang tính thực hành; ở Mỹ, năm 1902 hình thành các câu lạc bộ trồng ngô dành cho trẻ em nhằm dạy các em áp dụng kiến thức khoa học và kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Hơn 100 năm sau, hệ thống các câu lạc bộ này trở thành tổ chức phát triển thanh thiếu niên lớn nhất nước Mỹ và đi đầu trong học tập qua lao động, trải nghiệm Năm 1907, một viên tướng trong quân đội Anh tổ chức cuộc cắm trại hướng đạo đầu tiên, từ đó phong trào hướng đạo lan rộng khắp toàn cầu Hướng đạo được xem như một loại hình giáo dục trải nghiệm, chú ý đặc biệt tới các hoạt động thực hành ngoài trời, gồm cắm trại, kỹ năng sống trong rừng, kỹ năng sinh tồn, lửa trại, các trò chơi tập thể và các môn thể thao.
Vào năm 1977, sự thành lập Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm (Association for Experiential Education - AEE) đã chính thức thừa nhận giáo dục trải nghiệm bằng văn bản và tuyên bố rộng rãi Tại Hội nghị thượng đỉnh Liên Hợp Quốc về phát triển bền vững năm 2002, UNESCO thông qua chương trình Dạy và học vì một tương lai bền vững, trong đó học phần quan trọng về giáo dục trải nghiệm được giới thiệu, phổ biến và phát triển sâu rộng Quan điểm học qua trải nghiệm đã trở thành tư tưởng giáo dục phổ biến khi được gắn liền với các nhà tâm lý học và giáo dục học như John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, David Kolb, William James, Carl Jung, Paulo Freire, Carl Rogers, và hiện nay tư tưởng Học thông qua làm, học qua trải nghiệm vẫn là một triết lý giáo dục điển hình ở Mỹ.
1.1.2 Tại Việt Nam và khu vực nghiên cứu
Việt Nam nằm ở phần đông bán đảo Đông Dương, chịu ảnh hưởng của nhiều kiểu khí hậu từ nhiệt đới gió mùa, á nhiệt đới đến ôn đới núi cao, đồng thời có địa hình đa dạng và cảnh quan đặc sắc Sự đa dạng về địa hình, đất đai và khí hậu đã hình thành hệ sinh thái và nguồn gen vô cùng phong phú, giúp Việt Nam xếp hạng 16 trên thế giới về đa dạng nguồn gen và sở hữu nhiều nguồn gen được ứng dụng trong nông nghiệp, công nghiệp và y tế Tính đến nay, hơn 14.000 nguồn gen cây trồng và vật nuôi được bảo tồn và lưu giữ để phục vụ cho bảo tồn và phát triển kinh tế Đến tháng 5 năm 2018, Việt Nam được công nhận 9 khu Dự trữ sinh quyển thế giới, 2 khu Di sản thiên nhiên thế giới, 8 khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar) và 6 Vườn Di sản ASEAN.
Cho dù chưa được ghi nhận đầy đủ, đa dạng sinh học Việt Nam đã đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc gia, đặc biệt ở các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, dịch vụ, thủy sản và y tế ĐDSH là nền tảng bảo đảm an ninh lương thực, duy trì nguồn gen và phát triển các giống vật nuôi, cây trồng, đồng thời cung cấp vật liệu xây dựng, dược liệu và các nguồn nguyên liệu thiết yếu Bên cạnh đó, các loài đặc hữu và hệ sinh thái độc đáo của Việt Nam có giá trị khoa học và tiềm năng du lịch sinh thái, nhưng vẫn còn chưa được đánh giá và khai thác đúng mức Các hệ sinh thái còn đóng vai trò quan trọng trong điều hòa khí hậu thông qua lưu trữ và hấp thụ carbon, điều tiết lượng mưa, lọc không khí và nước, phân hủy chất thải và giảm nhẹ tác động của thiên tai như lở đất hay bão lũ Giá trị lưu giữ và hấp thụ carbon của rừng Việt Nam, đặc biệt là rừng tự nhiên, là rất đáng kể.
Hiện nay, giáo dục trải nghiệm đang phát triển mạnh và hình thành mạng lưới rộng lớn các cá nhân, tổ chức giáo dục, trường học trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam UNESCO xem giáo dục trải nghiệm là một triển vọng tươi sáng cho giáo dục toàn cầu trong các thập kỷ tới Theo John Dewey, học tập qua trải nghiệm được xem là phương pháp cốt lõi của giáo dục trải nghiệm Học tập qua trải nghiệm xảy ra khi người học tham gia trải nghiệm, nhìn lại, đánh giá và xác định những gì hữu ích cần nhớ để sử dụng những điều này trong các hoạt động tương lai Học tập qua trải nghiệm diễn ra theo mô hình 5 bước, giúp người học kết nối kinh nghiệm với kiến thức và hành động một cách có hệ thống.
Hình 1.1 Các bước học tập trải nghiệm
Trong sơ đồ này, mỗi bước đều bao gồm câu hỏi mở hoặc yêu cầu hành động nhằm kích thích học sinh suy nghĩ sâu và tự rút ra bài học cho bản thân, đồng thời là thời điểm đánh giá lại quá trình trải nghiệm của người học và thúc đẩy học tập chủ động Học sinh được khuyến khích khám phá kiến thức và tìm giải pháp, từ đó phát triển năng lực cá nhân và làm cho quá trình dạy và học trở nên thú vị và hiệu quả hơn Khi học sinh tham gia tích cực, các em sẽ tăng hứng thú và tập trung vào những gì đã học, ít gặp vấn đề về tuân thủ kỷ luật Nhờ đó, học sinh có thể rèn luyện các kỹ năng sống qua các bài tập và hoạt động lặp đi lặp lại, từ đó tăng cường khả năng ứng dụng chúng vào thực tế.
Gia Lai được đánh giá là một trong những tỉnh của Tây Nguyên có hệ đa dạng sinh học phong phú với nhiều hệ động, thực vật và vi sinh vật quý hiếm thuộc Sách đỏ của thế giới và Việt Nam Hiện nay, tỉnh đang tận dụng những lợi thế về ĐDSH để khai thác các giá trị của đa dạng sinh học nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và phục vụ HĐTN trong dạy học, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục tích cực.
Gia Lai có diện tích rừng tự nhiên trên 1.550.000 ha, lớn nhất Tây Nguyên, nổi bật với hai khu rừng đặc dụng là VQG Kon Ka Kinh và BTTN Kon Chư Răng, nơi lưu giữ hệ động, thực vật và vi sinh vô cùng phong phú với hàng trăm loài nằm trong Sách đỏ thế giới và Việt Nam Nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước cho thấy BTTN Kon Chư Răng đáp ứng đầy đủ tiêu chí của một di sản thiên nhiên, địa chất và môi trường, và đang được xem xét để đưa vào hệ thống khu vực sinh quyển thế giới Đây là nền tảng để Gia Lai khai thác các giá trị sinh thái, kinh tế, giáo dục và thẩm mỹ Bên cạnh đó, An Khê có di sản văn hóa và di sản khảo cổ học, cho thấy tỉnh có sự giao thoa giữa thiên nhiên và di sản văn hóa, tương tự như các di sản nổi tiếng ở Quảng Nam như Hội An.
Mỹ Sơn là một di sản lớn; Gia Lai được xem là một vùng có tiềm năng trong tương lai, và nếu chúng ta bảo vệ thành công các giá trị của di sản này, Gia Lai sẽ có những di sản độc đáo, khác biệt Tuy nhiên, việc khai thác các giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH) phục vụ cho HĐTN trên địa bàn tỉnh Gia Lai vẫn chưa được chú trọng Vì vậy, nghiên cứu các giá trị ĐDSH trên cao nguyên Kon Hà Nừng để phục vụ cho HĐTN địa lý là vô cùng cần thiết.
GIÁ TRỊ ĐA DẠNG SINH HỌC
Qua tổng quan và phân tích các tài liệu thu thập tại mục 1.1, cho thấy hiện nay tồn tại nhiều quan điểm về giá trị ĐDSH và các quan điểm ấy vẫn chưa được thống nhất Tuy nhiên, các nghiên cứu đã đi sâu vào hai nhiệm vụ khác nhau nhưng có liên quan và quyết định lẫn nhau trong việc xác định giá trị ĐDSH.
Thứ nhất: là phân tích định lượng các chỉ số ĐDSH (biodiversity measurement) (IVI- Importance Value Index; H- Shannon - Weiner’s Index, Cd- Simpson’s index, vv )
Đánh giá giá trị của tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) là một quá trình mang tính tương đối về không gian và thời gian Theo quy luật tự nhiên, mức độ ĐDSH cao sẽ mang lại giá trị ĐDSH lớn và nhiều nguồn lợi hơn thông qua việc tổ chức các hoạt động giáo dục và trải nghiệm nhằm tăng cường hiểu biết, mở rộng kinh nghiệm, phát triển kỹ năng, hình thành các giá trị sống và khai phá tiềm năng của bản thân.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn thạc sĩ, mục tiêu đề tài được xác định rõ và căn cứ kết quả tổng quan tài liệu nghiên cứu Học viên lựa chọn hướng nghiên cứu thứ hai dựa trên các giá trị về đa dạng sinh học được đề cập trong Công ước Đa dạng sinh học năm 1992.
Đa dạng sinh học (ĐDSH) đề cập đến sự đa dạng của các dạng sống tồn tại trong tự nhiên, là kết quả của lịch sử tiến hóa Mỗi loài có quyền tồn tại và quyền được bảo vệ bất kể mức độ phong phú hay lợi ích của chúng đối với con người Tất cả các loài là một phần của sự sáng tạo và có quyền tồn tại trên Trái Đất như con người Con người không chỉ không có quyền làm hại các loài khác mà còn có trách nhiệm bảo vệ sự tồn tại của chúng.
Con người là một loài phụ thuộc vào tự nhiên để cung cấp oxy cho quá trình hô hấp và các nguồn dinh dưỡng thiết yếu như thực phẩm và sức khỏe Dựa vào chu trình và các quá trình sinh học của hệ sinh thái, chúng ta khai thác nguồn lực từ Đa dạng sinh học (ĐDSH) cho nhu cầu hàng ngày và nhận được nhiều dịch vụ thiết yếu ở mức độ gián tiếp ĐDSH góp phần duy trì chu trình thủy văn, bảo đảm sự phát triển của thảm thực vật để giữ nước và độ ẩm, và cân bằng lượng oxy và carbon dioxide trong khí quyển Vì thế, bảo tồn ĐDSH là bảo vệ các chức năng tự nhiên mà loài người phụ thuộc để phát triển bền vững.
Các loài trong một hệ sinh thái có mối quan hệ chằng chịt và phức tạp, là một phần của quần xã tự nhiên; sự mất mát của một loài sẽ ảnh hưởng đến các thành viên khác Vì vậy, chúng ta nhận thức được sự cần thiết của bảo tồn loài và bảo tồn ĐDSH như một cách để bảo vệ chính mình Khi thế giới tự nhiên đạt được sự phồn thịnh, cuộc sống của con người cũng trở nên phồn thịnh và bền vững Đa dạng sinh học là nền tảng xác định nguồn gốc sự sống và là câu trả lời cho hai huyền thoại lớn của triết học và khoa học về vì sao sự sống có mặt và tại sao ĐDSH lại tồn tại như ngày nay Hàng ngàn chuyên gia sinh học đang nghiên cứu và tiến gần tới lời giải, nhưng khi các loài tuyệt chủng đi mất, những mắt xích quan trọng bị mất đi khiến huyền thoại ấy khó tìm lời giải.
ĐDSH có giá trị bảo tồn vì nó là một phần của thế giới tự nhiên; việc bảo tồn các loài, nguồn gen và hệ sinh thái có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì các quá trình sinh thái tự nhiên Bảo tồn đa dạng sinh học giúp duy trì cân bằng hệ sinh thái, bảo vệ nguồn gen quý hiếm cho y học và nông nghiệp, và duy trì các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu như điều hòa khí hậu, lọc nước và bảo vệ đất Việc gìn giữ ĐDSH là nền tảng cho sự phát triển bền vững và khả năng thích ứng với biến đổi môi trường.
Mặc dù chưa có con số chính thức đánh giá đầy đủ giá trị của đa dạng sinh học Việt Nam (ĐDSH), giá trị to lớn và tầm quan trọng của bảo tồn ĐDSH là điều không thể phủ nhận ĐDSH mang lại lợi ích thiết essential cho hệ sinh thái, kinh tế xanh và an ninh lương thực, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn nguồn gen quý hiếm và sự đa dạng văn hóa Vì vậy, tăng cường bảo tồn ĐDSH thông qua chính sách bền vững, nghiên cứu và sự tham gia của cộng đồng là cần thiết để duy trì cân bằng sinh thái và mang lại lợi ích lâu dài cho Việt Nam.
Do vậy, đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học từ Chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây Trong giai đoạn hiện tại, nguồn vốn này tập trung vào bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng, bảo tồn loài nguy cấp và thúc đẩy phát triển bền vững thông qua các dự án hợp tác giữa nhà nước, khu vực tư nhân và cộng đồng địa phương Sự tham gia của các đối tác quốc tế còn nâng cao năng lực thực thi, áp dụng các công nghệ bảo tồn tiên tiến và tăng cường nhận thức của cộng đồng về giá trị của đa dạng sinh học và sự phụ thuộc của kinh tế xã hội vào hệ sinh thái.
Trong giai đoạn 1996–2004, tổng đầu tư cho bảo tồn ĐDSH đạt 256 triệu USD, trong đó ngân sách nhà nước chiếm 81,6 triệu USD (32%), và nguồn vốn từ các nhà tài trợ quốc tế là 177 triệu USD (68%) Riêng năm 2005, tổng đầu tư cho bảo tồn ĐDSH được dự báo đạt 51,8 triệu USD, theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2005.
Các hệ sinh thái là nền tảng sinh tồn của mọi sinh vật, có vai trò điều hòa khí hậu, làm sạch không khí và nước, đồng thời duy trì các chu trình cơ bản như chu trình dinh dưỡng, nước, nitơ, cacbon và photpho Đa dạng sinh học góp phần giữ độ phì của đất, cân bằng nguồn nước và ngăn ngừa dịch bệnh Tuy nhiên, mất lớp phủ rừng và khai thác gỗ bừa bãi hay sử dụng đất không hợp lý đang gây hậu quả nghiêm trọng, làm suy yếu các vùng đầu nguồn và kéo theo lũ lụt, thiệt hại tài sản, cùng ảnh hưởng đến đời sống người dân Ngày nay, một phần năm dân số thế giới thiếu nước uống sạch và một nửa thiếu nước cho vệ sinh (RUPES, 2004) Việc tàn phá rừng đầu nguồn khiến thảm họa tự nhiên gia tăng, làm giảm tuổi thọ hồ chứa thủy điện và tăng chi phí sản xuất điện, đồng thời ô nhiễm nguồn nước đe dọa sinh vật và chất lượng nước phục vụ sinh hoạt hàng ngày Như vậy, rừng đóng hai chức năng quan trọng trong việc duy trì khả năng phòng hộ của các vùng đầu nguồn: bảo vệ nguồn nước và giảm thiểu rủi ro thiên tai cho cộng đồng và sản xuất.
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế xói mòn đất và bồi lắng Xói mòn đất là vấn đề nghiêm trọng đối với sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đồng thời là một trong những nguyên nhân chính gây thoái hóa đất và sa mạc hóa Khi rừng bị tàn phá, bề mặt đất mất khả năng che phủ sẽ chịu tác động trực tiếp của mưa và dòng chảy bề mặt, từ đó làm cho xói mòn đất tăng nhanh.
Thứ hai rừng điều tiết dòng chảy hạn chế lũ lụt, cung cấp nguồn nước
Rừng và nguồn nước không thể tách rời nhau, các loài cây đều sử dụng nước cho đến khi nó bị chặt hạ Sự xuất hiện của thực vật là chỉ thị cho sự sẵn có của nguồn nước Vì vậy, trong vùng nhiệt đới lớp thảm thực vật sẽ phát triển tốt tươi ở những nơi có nguồn nước dồi dào Rừng giúp giữ đất, giữ nước và mang lại lợi ích to lớn đối với đời sống và sinh hoạt của con người Rừng đầu nguồn hạn chế tình trạng sạt lở và xói mòn đất Trong khi đó, nếu rừng được bảo vệ, lợi ích về chống xói mòn, rửa trôi, kiểm soát dòng chảy có thể lên tới 80 USD/ha/năm [24]
Vậy ĐDSH, đặc biệt rừng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong phòng hộ đầu nguồn mà nhờ đó hạn chế được xói mòn đất và lũ lụt, quá trình bồi lắng và đồng thời đảm bảo nguồn nước sạch dồi dào phục vụ cho sinh hoạt, tưới tiêu sản xuất nông nghiệp và làm thuỷ điện
1.2.3 Giá trị kinh tế ĐDSH là nguồn lương thực, thực phẩm, nơi cư trú, nguồn giống vật nuôi, cây trồng và nguồn dược liệu quí giá đảm bảo cho loài người tồn tại và phát triển ĐDSH còn cung cấp các nguyên vật liệu cho nhiều ngành nghề như: gỗ, nhựa, sợi, da, lông và đặc biệt là củi đun cho hàng tỉ con người trên thế giới Một trong những nhu cầu không thể thiếu được của con người là protein, nguồn này có thể kiếm được bằng săn bắn các loài động vật hoang dã để lấy thịt Trên toàn thế giới, 100 triệu tấn cá, chủ yếu là các loài hoang dã bị đánh bắt mỗi năm Phần lớn số cá này được sử dụng ngay tại địa phương