1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của thức ăn và hệ thống nuôi đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm hùm xanh (panulirus homarus) nuôi thương phẩm

96 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh trưởng tích lũy về chiều dài thân tôm mm ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau .... Sinh trưởng tuyệt đối về chiều dài thân tôm mm/ngày ở giai đoạn 10g đến

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TRẦN THỊ LƯU

ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ HỆ THỐNG NUÔI

ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA

TÔM HÙM XANH (Panulirus homarus)

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,

đã công bố theo đúng quy định

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn củaViệt Nam chưa từng được sử dụng hay công bố trong bất kì công trình khác cho đến thời điểm này

Tôi xin cam đoan!

Học viên cao học

Trần Thị Lưu

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các cơ quan, thầy cô giáo, giáo viên hướng dẫn cùng các bạn bè đồng nghiệp

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Võ Văn Chí,

là người trực tiếp định hướng, hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình về mọi mặt

để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo giảng dạy trường Đại học Quy Nhơn đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường

Tôi đồng chân thành cảm ơn tới công ty TNHH Thủy Sản Đắc Lộc

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này

Cảm ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, người thân, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Bình Định, tháng 9 năm 2021

Học viên

Trần Thị Lưu

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của tôm hùm 4

1.2 Tình hình nghiên cứu tôm hùm trên thế giới 6

1.2.1 Nghiên cứu về nuôi thương phẩm 6

1.2.2 Nghiên cứu về thức ăn 7

1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8

1.3.1 Nghiên cứu về nuôi thương phẩm 8

1.3.2 Nghiên cứu về thức ăn 10

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

2.3 Nội dung nghiên cứu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 17

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17

2.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu 20

Trang 5

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 21 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 23 3.1 Ảnh hưởng thức ăn đến sinh trưởng và tỉ lệ sống tôm hùm xanh giai đoạn 10g đến 200g 23

3.1.1 Môi trường trong quá trình thí nghiệm 23 3.1.2 Sinh trưởng khối lượng tôm hùm xanh giai đoạn 10g đến 200g 24 3.1.3 Sinh trưởng chiều dài thân tôm hùm xanh giai đoạn 10g đến 200g 28 3.1.4 Sinh trưởng chiều dài giáp đầu ngực tôm hùm xanh giai đoạn 10g đến 200g 31 3.1.5 Sinh trưởng chiều rộng giáp đầu ngực tôm hùm xanh giai đoạn 10g đến 200g 35 3.1.6 Ảnh hưởng thức ăn đến tỉ lệ sống của tôm hùm xanh ở giai đoạn 10g đến 200 g 39 3.1.7 Thảo luận chung cho thí nghiệm 1 40

3.2 Ảnh hưởng thức ăn đến sinh trưởng và tỉ lệ sống tôm hùm xanh ở giai đoạn 200g/con đến thu hoạch 41

3.2.1 Môi trường trong quá trình thí nghiệm 41 3.2.2 Ảnh hưởng thức ăn đến sinh trưởng khối lượng tôm hùm xanh ở giai đoạn 200g đến thu hoạch 42 3.2.3 Ảnh hưởng thức ăn đến sinh trưởng chiều dài tôm hùm xanh ở giai đoạn 200g đến thu hoạch 46 3.2.4 Sinh trưởng chiều dài giáp đầu ngực 50 3.2.5 Sinh trưởng chiều rộng giáp đầu ngực 54 3.2.6 Ảnh hưởng của thức ăn đến tỉ lệ sống của tôm hùm xanh giai đoạn

200 g đến thu hoạch 57 3.2.7 Thảo luận chung cho thí nghiệm 2 58

Trang 6

3.3 Ảnh hưởng của hệ thống nuôi đến sinh trưởng và tỉ lệ sống của tôm

hùm xanh 59

3.3.1 Môi trường trong quá trình thí nghiệm 59

3.3.2 Ảnh hưởng của hệ thống nuôi đến sinh trưởng khối lượng thân của tôm hùm xanh 60

3.3.3 Ảnh hưởng của hệ thống nuôi đến sinh trưởng kích thước của tôm hùm xanh 63

3.3.4 Sinh trưởng chiều dài giáp đầu ngực 66

3.3.5 Sinh trưởng chiều rộng giáp đầu ngực 68

3.3.6 Ảnh hưởng của hệ thống nuôi đến tỷ lệ sống của tôm hùm xanh 70

3.3.7 Hệ số chuyển đổi thức ăn trong hai hệ thống nuôi 71

3.3.8 Thảo luận chung cho thí nghiệm 3 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

1 KẾT LUẬN 73

2 KIẾN NGHỊ 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 RAS: Recirculating Aquaculture Systems

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Công thức thức ăn cho tôm hùm bông 11

Bảng 1.2 Công thức thức ăn cho tôm hùm bông ở 3 mức năng lượng 11

Bảng 1.3 Công thức thức ăn sản xuất viên thức ăn nuôi tôm hùm xanh 12

Bảng 2.1 Các yếu tố môi trường và tần suất đo 21

Bảng 3.1 Các chỉ số môi trường trong quá trình thí nghiệm 23

Bảng 3.2 Sinh trưởng tích lũy khối lượng tôm (g) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 25

Bảng 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối khối lượng tôm (g/ngày) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 25

Bảng 3.4: Sinh trưởng đặc trưng khối lượng tôm (%/ngày) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 27

Bảng 3 5 Sinh trưởng tích lũy về chiều dài thân tôm (mm) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 28

Bảng 3.6 Sinh trưởng tuyệt đối về chiều dài thân tôm (mm/ngày) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 29

Bảng 3.7 Sinh trưởng đặc trưng chiều dài thân tôm (%/ngày) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 31

Bảng 3.8 Sinh trưởng tích lũy về chiều dài giáp đầu ngực (mm) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 32

Bảng 3.9 Sinh trưởng tuyệt đối về chiều dài giáp đầu ngực (mm) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 33

Bảng 3.10 Sinh trưởng đặc trưng chiều dài giáp đầu ngực (%/ngày) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 34

Bảng 3.11 Sinh trưởng tích lũy chiều rộng giáp đầu ngực (mm) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 36

Trang 9

Bảng 3 12 Sinh trưởng tuyệt đối chiều rộng giáp đầu ngực (mm/ngày) ở

giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 36 Bảng 3.13 Tăng trưởng đặc trưng chiều rộng giáp đầu ngực (%/ngày) ở

giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 37 Bảng 3.14 Tỉ lệ sống (%) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các nghiệm thức

cho ăn khác nhau 39 Bảng 3 15 Hệ số chuyển đổi thức ăn ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các

nghiệm thức cho ăn khác nhau 40 Bảng 3.16 Các chỉ số môi trường trong quá trình thí nghiệm 41 Bảng 3.17 Sinh trưởng tích lũy về khối lượng (g) ở giai đoạn 200 g đến thu

hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 43 Bảng 3.18 Sinh trưởng tuyệt đối khối lượng tôm (g/ngày) ở giai đoạn 200g

đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 44 Bảng 3.19 Sinh trưởng đặc trưng về khối lượng (%/ngày) ở giai đoạn 200g

đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 45 Bảng 3.20 Sinh trưởng tích lũy chiều dài thân tôm (mm) ở giai đoạn 200g

đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 47 Bảng 3.21 Sinh trưởng tuyệt đối chiều dài thân tôm (mm/ngày) ở giai đoạn

200g đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 48 Bảng 3.22.Tốc độ sinh trưởng đặc trưng chiều dài thân (%/ngày) ở giai

đoạn 200g đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 49 Bảng 3.23 Sinh trưởng tích lũy chiều dài giáp đầu ngực tôm (mm) ở giai

đoạn 200g đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 51 Bảng 3.24 Sinh trưởng tuyệt đối chiều dài giáp đầu ngực (mm/ngày) ở giai

đoạn 200g đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 52 Bảng 3.25 Sinh trưởng đặc trưng chiều dài giáp đầu ngực (%/ngày) ở giai

đoạn 200g đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 53

Trang 10

Bảng 3.26 Sinh trưởng tích lũy chiều rộng giáp đầu ngực (mm) ở giai đoạn

200g đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 54 Bảng 3.27 Sinh trưởng tuyệt đối chiều rộng giáp đầu ngực tôm (mm/ngày)

ở giai đoạn 200g đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 55 Bảng 3.28 Sinh trưởng đặc trưng chiều rộng giáp đầu ngực (%/ngày)ở giai

đoạn 200g đến thu hoạch ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau 56 Bảng 3.29 Kết quả tỉ lệ sống (%) ở giai đoạn 200g đến thu hoạch ở các

nghiệm thức cho ăn khác nhau 57 Bảng 3.30 Hệ số chuyển hóa thức ăn và chi phí thức ăn ở các nghiệm thức

cho ăn khác nhau ở giai đoạn tôm 200g/con đến thu hoạch 58 Bảng 3.31 Môi trường trong hai hệ thống thí nghiệm 59 Bảng 3.32 Sinh trưởng tích lũy khối lượng thân tôm (g) ở hai hệ thống thí

nghiệm 61 Bảng 3.33 Sinh trưởng tuyệt đối khối lượng thân (g/ngày) ở hai hệ thống

nuôi 61 Bảng 3.34 Sinh trưởng đặc trưng khối lượng thân (%/ngày) ở hai hệ thống 63 Bảng 3.35 Sinh trưởng tích lũy chiều dài thân (mm) ở hai hệ thống 64 Bảng 3.36 Sinh trưởng tuyệt đối chiều dài thân (mm/ngày) ở hai hệ thống 64 Bảng 3.37 Sinh trưởng đặc trưng về chiều dài thân (%/ngày) ở hai hệ

thống nuôi 65 Bảng 3.38 Sinh trưởng tích lũy chiều dài giáp đầu ngực tôm hùm xanh

(mm) ở hai hệ thống nuôi 66 Bảng 3.39 Sinh trưởng tuyệt đối chiều dài giáp đầu ngực tôm hùm xanh

(mm/ngày) ở hai nghiệm thức 67 Bảng 3.40 Sinh trưởng đặc trưng chiều dài giáp đầu ngực tôm (%/ngày) ở

hai nghiệm thức 68

Trang 11

Bảng 3.41 Sinh trưởng tích lũy chiều rộng giáp đầu ngực (mm) ở hai hệ

thống nuôi 68 Bảng 3.42 Sinh trưởng tuyệt đối chiều rộng giáp đầu ngực (mm/ngày) ở

hai hệ thống nuôi 69 Bảng 3.43 Sinh trưởng đặc trưng chiều rộng giáp đầu ngực (%/ngày) ở hai

hệ thống nuôi 70 Bảng 3.44 Tỉ lệ sống của tôm (%) ở hai hệ thống nuôi 70 Bảng 3.45 Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) ở hai nghiệm thức 72

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống HT1 13 Hình 1.2 Sơ đồ hệ thống HT2 15 Hình 1.3 Một số bộ phận trong hệ thống HT2 16 Hình 3.1 Sinh trưởng khối lượng tôm hùm xanh ở 3 nghiệm thức thí

nghiệm 43 Hình 3 2 Sinh trưởng tích lũy chiều dài thân tôm ở các nghiệm thức cho

ăn khác nhau 48

Trang 13

`MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Các đối tượng tôm hùm được nuôi chủ yếu hiện nay ở nước ta gồm 04

loài, đó là tôm hùm bông (Panulirus ornatus), tôm hùm xanh/tôm hùm đá (P

homarus), tôm hùm tre (P polyphagus) và tôm hùm đỏ (P longipes) Trong

đó, ngoài tôm hùm bông được nuôi phổ biến, trong thời gian gần đây tôm hùm xanh cũng là đối tượng được ưa chuộng để nuôi thương phẩm ở nhiều địa phương trong cả nước Tôm hùm xanh có những ưu điểm nhất định so với tôm hùm bông như: giá tôm thương phẩm ổn định, tôm giống dễ mua và giá

rẻ, bên cạnh đó loài này dễ nuôi, kháng bệnh tốt, chống chịu tốt với biến động trong môi trường tự nhiên Ngoài ra, thời gian nuôi hùm xanh ngắn, thu hồi vốn nhanh

Phú Yên là tỉnh thuộc vùng Nam Trung Bộ, có vị trí địa lý và điều kiện

tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nuôi tôm hùm, trong đó tôm hùm xanh

là đối tượng chủ lực Kết quả điều tra cho thấy, số lượng lồng nuôi tôm hùm tại Phú Yên năm 2014 là 23.627 lồng, tăng 11% so với 2013 Tuy nhiên, nuôi tôm hùm trong môi trường biển hở dẫn đến khó kiểm soát môi trường và mầm bệnh nên dịch bệnh thường xuyên xảy ra Ngoài ra, nghề nuôi này cũng phần nào bị tác động bởi tình trạng ô nhiễm môi trường trong các vịnh bởi các lý

do khác nhau, đáng chú ý là lượng chất thải tạo ra từ hoạt động nuôi ở mật độ quá cao vượt quá sức tải của môi trường vùng nuôi [7] Bên cạnh đó, hiện tượng thiên tai như bão số 12 năm 2017 đã tàn phá hầu hết các bè nuôi tôm hùm ở vùng nuôi trọng điểm gây thiệt hại rất lớn cho người dân [13]

Trước thực trạng đó, có những nghiên cứu về thức ăn và nuôi thương phẩm tôm hùm được thực hiện, nhưng chủ yếu trên đối tượng tôm hùm bông như: Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ nuôi tôm hùm bông

(Panulirus ornatus) trong hệ thống bể của Nguyễn cơ Thạch và ctv, 2013;

Trang 14

nghiên cứu công nghệ nuôi thâm canh tôm hùm thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn của Mai Duy Minh và ctv, 2018 Ngược lại, những nghiên cứu ở tôm hùm xanh vẫn còn rất hạn chế Năm

2015, Phan Đình Thịnh đã triển khai mô hình nuôi tôm hùm xanh trong bể xi măng 2 x 2 m2 có thả các ống nhựa để tạo nơi trú ẩn cho tôm, với cỡ giống 20-30 g/con, thay nước hàng ngày và cho tôm ăn thức ăn viên công nghiệp dạng viên bán ẩm Sau 12 tuần nuôi, tôm phát triển bình thường, đạt tỉ lệ sống 76% [12] Tác giả này kiến nghị nên tiếp tục nghiên cứu nuôi tôm hùm xanh trong bể xi-măng bằng thức ăn viên giai đoạn từ 2g/con đến thương phẩm 300-500g/con, ngoài ra cần nghiên cứu, đầu tư áp dụng hệ thống tuần hoàn nước để nâng cao tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng của tôm Do vậy, những nghiên cứu tiếp theo về thức ăn và hệ thống nuôi là rất cần thiết, vì đây được xem là một trong những yếu tố then chốt góp phần nâng cao năng suất nuôi thương phẩm tôm hùm xanh cũng như giảm sức tải cho môi trường tự nhiên

Trước những vấn đề đó, tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của thức ăn

và hệ thống nuôi đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm hùm xanh

(Panulirus homarus) nuôi thương phẩm”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm ra khẩu phần ăn thích hợp nhất để đảm bảo cho sinh trưởng và sống sót tối ưu nhất của tôm hùm xanh ở giai đoạn nuôi từ cỡ tôm 10 g đến khi thu hoạch

- Tìm ra được hệ thống nuôi phù hợp để đảm bảo cho sinh trưởng và sống sót tối ưu nhất của tôm hùm xanh ở giai đoạn nuôi từ cỡ tôm 10g đến cỡ 200g/con

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Đề tài cung cấp những thông tin quan trọng về khẩu phần ăn và các hệ

Trang 15

thống nuôi trong nuôi thương phẩm tôm hùm xanh Những thông tin này là cơ

sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo có liên quan, đồng thời có thể được sử dụng như nguồn tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện quy trình nuôi thương phẩm tôm hùm xanh trong bể bằng hệ thống tuần hoàn nước

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của tôm hùm

Tôm hùm là tên gọi chung của nhóm giáp xác 10 chân, có 4 họ

Palinuridae, Scyllaridae, Nephropidae và Synaxidae Tôm hùm xanh (tôm

hùm đá) có tên tiếng anh là Scalloped spiny lobster, tên khoa học Panulirus

homarus, Linnaeus 1758, thuộc họ tôm hùm gai (Palinuridae), phân bố khá

rộng từ Tây Thái Bình Dương, Nam Phi, dọc bờ biển Đông Phi, biển đỏ, Nam Nhật Bản, đảo Solomon, Papua New Guinea, Australia, New Caledonia và Fiji Chúng thường phân bố trong môi trường nước biển sạch có rạn san hô và

di cư theo mùa

Chu kỳ lột xác của các loài hay giữa các giai đoạn khác nhau của từng loài không giống nhau Ở giai đoạn tôm con (chiều dài giáp đầu ngực CL = 20-30 mm), thời gian giữa hai lần lột xác của tôm hùm bông và tôm hùm đá khoảng 23-25 ngày Còn ở giai đoạn tôm lớn (63-68 mm CL) thời gian giữa 2 lần lột xác tương ứng là khoảng 40 ngày và 50 ngày

Chiều dài giáp đầu ngực (CL) là chỉ số hình thái thể hiện sự sinh trưởng (tăng lên về kích thước) của tôm Căn cứ vào chỉ số này người ta dự đoán chu

kỳ lột xác của tôm Bên cạnh đó, có thể xác định độ tuổi thành thục và sức sinh sản của tôm hùm [11]

Do sống trong hệ sinh thái rạn san hô, nên yêu cầu về môi trường khá trong sạch và ổn định Tôm hùm lột xác bình thường và đồng loạt, không bị mòn phần phụ, màu sắc tươi sáng, mạnh khỏe khi nuôi trong lồng đặt ở ao nuôi tôm sú, nơi

có độ mặn 28 – 35‰, ô xy hòa tan 4,5-7,2 mg/l, độ đục khá cao, tính kiềm nhẹ [26] Nhiệt độ phù hợp cho tôm hùm phát triển là 25-31oC, trong khi đó ở độ mặn 35‰[38][39] Tôm hùm phát triển bình thường trong điều kiện tổng hàm lượng

NH3 và NH4 (TAN) = 0,4 mg/l (Sumbing và cộng sự, 2016); NO2-N< 4,0 mg/l

Trang 17

[36] Hàm lượng TAN trong các hệ thống nuôi tôm hùm nên thấp hơn 2 mg/l đối

với P Cygnus và J edwardsii còn nitrite nên thấp hơn 5 mg/l Điều kiện phù hợp

nhất cho tôm hùm nuôi lồng phát triển là độ mặn từ 30 – 35‰; ô xy hòa tan (DO)

từ 6,2 - 7,2 mg/l; pH từ 7,5 - 8,5; nhiệt độ từ 24 - 31oC [45]

Ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển và chu kỳ lột xác ở tôm hùm Ánh sáng mạnh ngăn quá trình lột xác và trong môi trường hoàn toàn tối ấu trùng

có tăng trưởng tốt hơn ngoài ánh sáng [22] Con giống và trưởng thành ở H

americanus thường lột xác nhiều vào ban ngày [40] Do tôm hùm kiếm thức

ăn thiên về ban đêm nên việc chiếu sáng liên tục có thể ngăn chặn khả năng lấy thức ăn và ảnh hưởng bất lợi đến tăng trưởng, trong khi hoạt động quá nhiều khi bị kích thích bởi điều kiện tối ổn định có thể làm tiêu tốn năng

lượng và tác động bất lợi đến tăng trưởng của tôm [15] Tôm giống J

edwardsii trong điều kiện thí nghiệm thường lớn chậm hơn trong điều kiện

chu kỳ chiếu sáng dài hơn hoặc chu kỳ tối dài hơn so với tôm nuôi trong điều kiện cân bằng chu kỳ sáng tối 12L-12D [18]

Tập tính ăn thịt đồng loại là vấn đề nghiêm trọng trong quá trình phát triển sớm của tôm hùm liên quan đến tần suất cho tôm ăn [27] Theo Cortes-Jacinto và cộng sự (2003) cho ăn 4 đến 6 lần/ngày có thể tăng tỉ lệ sống của

tôm càng Cherax quadricarinatus qua đó nâng cao tăng trưởng so với chỉ áp

dụng số lần ăn trong ngày ít hơn[20]

Các kết quả nghiên cứu cho thấy tôm hùm là đối tượng có yêu cầu rất khắt khe về điều kiện môi trường nuôi, trong đó yêu cầu nước biển có tính ổn định, sạch và biên độ giao động hẹp, môi trường ánh sáng vừa đủ

Thức ăn tự nhiên của tôm hùm: Tôm hùm là đối tượng ăn tạp, thức ăn của chúng bao gồm các loại có nguồn gốc động vật và thực vật Đối với giai

đoạn ấu trùng trôi nổi, trong dạ dày tôm J adwardssi có các động vật phù du

là chủ yếu và phân tích thành phần thức ăn này thu được 79 – 98% độ ẩm; 1,9

Trang 18

– 54% protein; 0,4-11,2% carbonhydrate; 0,1 – 27% lipid; 4 – 76% tro [43] Khác với giai đoạn trôi nổi, ở giai đoạn con giống, trong dạ dày của tôm hùm gồm có các động vật đáy như chân bụng, hai mảnh vỏ, giun nhiều tơ, cầu gai, tảo biển [19] Elner và Campbell (1987) phân tích thành phần thức ăn trong

dạ dày của 1100 cá thể H Americanus có kích thước chiều dài giáp đầu ngực

từ 11-140 mm từ môi trường truyền thống và môi trường có nhiều rong biển, cầu gai sinh sống cho thấy phổ dinh dưỡng của tôm hùm là tương tự như nhau

ở cả hai môi trường và các thành phần chiếm ưu thế là thực vật biển (rong nâu, rong xanh, rong đỏ), nhuyễn thể (hai mảnh vỏ và chân bụng), giáp xác,

da gai và giun nhiều tơ[23] Thức ăn tự nhiên như cá tươi, giáp xác và động vật thân mềm đã chứng tỏ là thích hợp cho việc nuôi tôm hùm gai giống trong điều kiện phòng thí nghiệm [21], [24] Tuy nhiên, việc nuôi tôm hùm bằng thức ăn tươi khai thác tự nhiên không được chấp nhận ở một số quốc gia như

Úc, do chất thải của thức ăn và sự phóng thích dưỡng chất vào môi trường sau

đó Những nghiên cứu thức ăn với P ornatus, J edwardsii và P cygnus cho

thấy các loài này đều dễ tiếp nhận thức ăn viên khô, nhưng chúng có những

ưu tiên đáng kể cho những thành phần nguyên liệu nhất định [46]

1.2 Tình hình nghiên cứu tôm hùm trên thế giới

1.2.1 Nghiên cứu về nuôi thương phẩm

Nuôi tôm hùm thương phẩm trong lồng biển trên thế giới chưa phát triển như ở Việt Nam Các mô hình nuôi bằng lồng biển đã được thử nghiệm ở một

số quốc gia như Úc, Ấn Độ và Indonesia [31], [41] Tại đây, tôm hùm được nuôi trong lồng theo mô hình của Việt Nam ngoài ra có kết hợp với một số đối tượng khác như cá mú hoặc rong biển Trong môi trường ao đất ở Úc, nuôi trong các lồng lưới có kích thước mắt lưới 2a=15 mm, hình chữ nhật kích thước lồng 1,8 x 1,8 x 0,9 m3 đặt trôi nổi nhờ hệ thống phao; che mát bằng tấm vải; cỡ tôm 750 g/con; mật độ thả 0,5 con/m2 Thức ăn viên kích cỡ

Trang 19

7 mm được cho ăn 2 lần/ngày Thức ăn được làm tại cơ sở bằng cách phối trộn 50% thức ăn dùng cho nuôi tôm sú, cá tươi, vẹm, chất kết dính và sắc tố; theo chế độ ăn khoảng 3% trong ngày Ban đầu tôm biểu hiện các dấu hiệu đen đuôi, mòn bụng do lồng đặt sát đáy Khi kéo lồng lên mức cao hơn đã khắc phục tình trạng trên [28]và chất lượng sản phẩm tôm nuôi tương tự như tôm nuôi trong lồng biển ở Việt Nam [37]

Tôm hùm cũng đã được nghiên cứu nuôi thử nghiệm mô hình trong

bể Tôm hùm bông giống cỡ 3 g/con nuôi trong bể xi măng hình chữ nhật, sử dụng nước tuần hoàn ở các mật độ khác nhau (14; 29 và 43 con/m2) Sử dụng thức ăn chuyên dùng cho nuôi tôm sú theo chế độ 2 lần/ngày và có bổ sung thêm cá, tôm và nhuyễn thể, ở điều kiện độ mặn 35‰, nhiệt độ 27-31oC Sau

272 ngày nuôi cho thấy mật độ nuôi không ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm Tại thời điểm thu hoạch tôm đạt 220 g/con; tỉ lệ sống 52% [28] Tôm

hùm bông P ornatus cỡ 150 g/con được nuôi trong hệ thống tuần hoàn, sau

10 tháng nuôi tăng trọng đạt 160 g/con tương ứng cỡ tôm tôm đạt 310 g/con, tương đương với SGR= 0,125%; tỉ lệ sống sau 10 tháng nuôi đạt 80% [37]

Một thử nghiệm về nuôi tôm hùm xanh trong bể được thực hiện tại Mirat, 2010 Tôm được cho ăn bằng cá mòi cắt nhỏ, kết quả là nhìn chung tỷ

lệ sống sót cao trong 6 tháng đầu nuôi (86,7%) và thấp trong những tháng tiếp theo Cuối thí nghiệm, tỷ lệ chết của tôm là 48,9% Môi trường được ghi nhận tại đây chưa tối ưu cho nuôi tôm hùm Độ mặn cao hơn 37,5 ppt, trong khi nhiệt độ nước <20 oC [16]

Như vậy, trên thế giới đã có nghiên cứu nuôi trong bể cho tôm hùm bông nhưng vẫn chưa hoàn thiện Nghiên cứu về tôm hùm xanh còn rất ít Đối với tôm hùm xanh, kết quả nghiên cứu bước đầu nuôi trong bể là sử dụng thức ăn tươi và môi trường nuôi chưa thực sự phù hợp

1.2.2 Nghiên cứu về thức ăn

Trang 20

Để sản xuất ra thức ăn công nghiệp hiệu quả, các nghiên cứu đã tập trung vào xác định đặc tính vật liệu, chất dẫn dụ, chất kết dính cũng như kết cấu viên thức ăn phù hợp với tôm hùm Williams (2007) đã tổng kết giá trị dinh dưỡng của các nguyên liệu thức ăn tiềm năng tập trung vào khả năng tiêu hóa protein, lipid, năng lượng thô của các nguyên liệu tiềm năng[44]

Hiện nay trong thức ăn nuôi tôm hùm bông, loại chất kết dính đang được sử dụng là wheat gluten 8 – 10% [43]

Khởi đầu, các tác giả đã xây dựng công thức và sản xuất viên thức ăn công nghiệp nuôi tôm hùm cho tôm cỡ 700-1000 g/con [28] và tôm cỡ 2 g/con Tuy nhiên, các sản phẩm thức ăn này chưa được thương mại rộng rãi

do chưa thay thế hoàn toàn thức ăn tươi [44] Tiếp theo đó viên thức ăn công nghiệp đã được phát triển cho tôm hùm cỡ 100-500 g/con Cho đến nay nuôi tôm hùm quy mô thương mại, sản xuất hàng hóa vẫn sử dụng thức ăn tươi, chưa chấp nhận thức ăn công nghiệp

1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.3.1 Nghiên cứu về nuôi thương phẩm

1.3.1.1 Nuôi tôm hùm trong lồng

Việt Nam là quốc gia phát triển nghề nuôi tôm hùm thương phẩm trong lồng ở biển sớm nhất, đạt sản lượng ước tính 1600-2000 tấn/năm, đem lại trên

3500 tỉ đồng mỗi năm [13] Lồng thường có kích cỡ 3 x 3x 1,5 m3; 3 x 3,5 x 1,5 m3 hoặc 2 x 3 x 1,2m3; 3 x 2,5 x 1,2 m3 Khung bè nổi được làm bằng tre già hoặc bằng gỗ có đường kính từ 10 - 15 cm, chắc chắn, chịu được sóng gió

và nước biển, chiều dài cây gỗ khoảng 4 - 6 m, được liên kết lại với nhau bằng đinh vít và dây thép có đường kính từ 3 - 5 mm tạo thành những ô lồng

3 x 5 m, thường thì mỗi bè có 6 - 10 ô lồng, tùy theo khả năng đầu tư của từng người nuôi Các lồng được che nắng bằng các tấm che Đối với lồng nổi, các

ô vuông khung nổi trên mặt nước nhờ các thùng phi và các khung này được

Trang 21

gắn các túi lưới sâu 5-10 m Bốn góc bè có neo để giữ cho bè luôn ở thế ổn định Vị trí đặt bè nuôi có nền đáy là cát hoặc cát pha bùn lẫn san hô nơi có độ mặn từ 30 – 35‰; ô xy hòa tan từ 6,2 - 7,2 mg/l; pH từ 7,8 - 8,5; nhiệt độ từ

24 - 31oC.Mật độ ương và nuôi tôm hùm tùy thuộc vào kích cỡ của tôm, từ 30

- 40 con/m2 lồng đối với tôm trắng và san thưa theo thời gian và ở cỡ 200 g/con trở lên thả 3 - 5 con/m2 lồng

Thức ăn sử dụng là dạng sản phẩm tươi bao gồm các loại giáp xác (tôm, cua, ghẹ ), động vật thân mềm (vẹm, sò lông, sò đá ), các loài cá tạp

Nuôi tôm hùm lồng biển ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, người nuôi

đã có nhiều kinh nghiệm nhưng đang đối mặt với nhiều thách thức như hiểm họa thiên tai, dịch bệnh Cơn bão năm 2017 đã tàn phá hoàn toàn hệ thống nuôi tôm hùm ở hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa Hàng năm dịch bệnh vẫn xảy ra gây chết tôm hàng loạt ở các vùng nuôi tôm hùm trọng điểm của hai địa phương này [13] Sử dụng thức ăn tươi khai thác từ biển nuôi tôm hùm, phụ thuộc vào mùa vụ, chất lượng không ổn định, khó tạo sản phẩm tôm hùm đảm bảo an toàn thực phẩm Với mật độ lồng nuôi ngày càng dày, dẫn tới môi trường ngày càng ô nhiễm dẫn tới việc nuôi tôm hùm ngày càng khó khăn Điều này cho thấy tính chất không bền vững của nghề nuôi tôm hùm lồng ở Việt Nam

1.3.1.2 Nuôi tôm hùm trong hệ thống bể tái sử dụng nước

Tôm hùm cũng đã được nghiên cứu nuôi thử nghiệm mô hình trong bể tái sử dụng nước ở quy mô khác nhau Ở quy mô thực nghiệm nhỏ, nuôi tôm hùm bông 24,8 g/con trong bể xi măng thay 50% nước hằng ngày (bán tuần hoàn); cho tôm ăn thức ăn viên tự sản xuất Giai đoạn nhỏ đến cỡ 200 g/con, tôm được cho ăn thức ăn viên sinh trưởng chậm hơn so với tôm được cho ăn thức ăn tươi; giai đoạn 200 g/con trở lên, tăng trưởng của tôm ăn thức ăn công nghiệp dạng viên và thức ăn tươi là tương tự như nhau; màu sắc của tôm nuôi

Trang 22

tương tự như tôm tự nhiên [8] Các kết quả đạt được mang tính chất thăm dò

và là cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu phát triển nuôi tôm hùm trong

hệ thống tuần hoàn

Ở quy mô sản xuất, Nguyễn Cơ Thạch và cộng sự (2013)[10] thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, đã thực hiện đề tài khoa học

“Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ nuôi tôm hùm bông (Panulirus

ornatus) trong hệ thống bể đạt năng suất 5 kg/m2” bằng thức ăn tươi Đây là hướng nghiên cứu có tính đột phá nhằm tạo ra công nghệ nuôi mới mang tính bền vững về năng suất và sản lượng cũng như thân thiện với môi trường đối với nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam Tiếp đó, Mai Duy Minh và cộng sự (2019) đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu công nghệ nuôi thâm canh tôm hùm thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn” với đối tượng nghiên cứu là tôm hùm bông trong năm 2016-2018 Kết quả cho thấy tôm hùm bông giống kích cỡ 10,50 ± 0,56 g sau 17 tháng nuôi đạt 0,859 ± 0,072 kg/con; tỉ lệ sống đạt 71,39 ± 4,52% [4]

Như vậy, tại Việt Nam đã triển khai hình thức nuôi trong bể tái sử dụng nước và bước đầu cho kết quả khả quan, tuy nhiên nghiên cứu được thực hiện trên tôm hùm bông là chủ yếu Đồng thời, việc thử nghiệm các hệ thống tuần hoàn (RAS) vẫn còn rất hạn chế

1.3.2 Nghiên cứu về thức ăn

Ở Việt Nam, Lại Văn Hùng và các cộng sự Trường Đại học Nha Trang

đã nghiên cứu khá đầy đủ về nhu cầu dinh dưỡng, nguyên liệu làm thức ăn và sản xuất viên thức ăn công nghiệp nuôi tôm hùm [1], [8],[9] Theo các tác giả này, đối với tôm hùm bông cỡ 500 g/con, bổ sung 2,1% DHA vào thức ăn công nghiệp cho kết quả tốt hơn về tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) so với lượng 2,0%; 2,2% hoặc cá tạp; đồng thời việc bổ sung DHA đã không ảnh hưởng tới tỉ lệ sống của tôm hùm bông Tương tự như vậy, việc bổ

Trang 23

sung EPA ở mức 2,0% có hiệu quả hơn các mức 2,2%; 2,4% hoặc cá tạp và không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của tôm hùm bông

Các tác giả cũng đã xây dựng được công thức thức ăn cho tôm hùm bông như trong Bảng 1.1 (Lại Văn Hùng và cộng sự, 2014)

Bảng 1.1 Công thức thức ăn cho tôm hùm bông

Bảng 1.2 Công thức thức ăn cho tôm hùm bông ở 3 mức năng lượng

lượng cao

Năng lượng trung

Năng lượng thấp

Trang 24

Theo nghiên cứu của Mai Duy Minh và cộng sự (2019), thức ăn cho tôm hùm xanh có công thức như sau:

Bảng 1.3 Công thức thức ăn sản xuất viên thức ăn nuôi tôm hùm xanh

Trang 25

hùm bông và nghiên cứu còn hạn chế trên tôm hùm xanh Tuy nhiên, cho đến nay, thức ăn viên vẫn chưa được người nuôi chấp nhận do chưa có cơ sở khoa học thật sự Do đó, những nghiên cứu về thức ăn đối với đến sinh trưởng và tỉ

lệ sống của tôm hùm nói chung và tôm hùm xanh nói riêng là cần thiết

1.3.3 Một số thông tin về các hệ thống nuôi

- Các bể nuôi thí nghiệm hình chữ nhật có diện tích 12 m2, kích thước 7x1,7x1,1 m Trong mỗi bể đặt các tấm lưới để làm chỗ ẩn nấp cho tôm, mức nước trong bể là 0,6 mét

- Bể lắng vật liệu xi măng, hình tròn, Ø 4 m, thể tích của bể là 23 m3 Đầu

Trang 26

nước ra cách đáy 0.5m, đầu nước vào cách đáy 1m

- Bể lọc sinh học có kích thước 6,8 x 1,8 m , được chia làm 3 ngăn kế tiếp, thể tích mỗi ngăn là 5 m3 và mỗi ngăn được đổ đầy san hô cành cỡ hạt 2-4 cm

ở phần đáy và có mút lọc ở ngăn đầu tiên

- Bể làm mát hình vuông, vật liệu xi măng, cạnh 4,4 m, sâu 1,4 m có đặt thiết bị ổn định nhiệt độ nước

- Skimmer: vật liệu nhựa tổng hợp hoặc vỏ nhựa để tránh han gỉ do nước mặn, tránh nhiễm điện Hiệu suất lọc nước thải 55 m3/h Chiều cao: 2 m đường kính 1 m Qúa trình tạo bọt có khả năng loại bỏ các hạt lơ lửng 1-30 µm

Nguyên tắc hoạt động của hệ thống HT1: Nước từ bể nuôi đổ vào hố ga sau đó dẫn vào bể lắng Tại đây, các chất thải dạng hạt cỡ lớn trên 100 µm có thể loại bỏ nhờ bể lắng Tiếp theo nước được dẫn vào bể lọc sinh học và những chất thải nhỏ hơn 100 được giữ lại tại mút lọc, tại đây nhờ hoạt động vi sinh vật chuyển hóa chất độc và ít độc thành không độc sau đó dẫn tới bể chuẩn hóa chất lượng nước Nước được dẫn vào skimmer nhờ cơ chế tạo bọt loại bỏ các chất lơ lửng 1 – 30 µm Sau đó qua hệ thống khử trùng UV và cấp vào các bể nuôi

Chọn nguồn nước vào ngày nắng ấm, lúc cao triều, độ mặn 28-35‰ Đầu tiên, nước biển được xử lý bằng chlorine 70% ở nồng độ 2 ppm và 3 ngày sau trung hòa bằng thiosulphate để xử lý chlorine tồn dư, lọc qua bể lọc tinh trước khi cấp vào HT1

1.3.3.2 Hệ thống HT2

Hệ thống HT2 là hệ thống hiện đại hơn bao gồm các bể nuôi và hệ thống máy móc trang thiết bị hiện đại

Trang 27

- Skimmer: Làm bằng vật liệu nhựa tổng hợp hoặc vỏ nhựa để tránh han

gỉ do nước mặn, tránh nhiễm điện Hiệu suất lọc nước thải 55 m3/h Chiều cao: 2 m đường kính 1 m Quá trình tạo bọt có khả năng loại bỏ các hạt lơ lửng 1-30 µm

- Bể lọc sinh học: Là các bồn nhựa được chứa đầy vật liệu lọc Vật liệu lọc là các hạt nhựa hình trụ tròn được kích hoạt trước khi cho vào các bồn lọc sinh học Gồm 3 bồn lọc (5m3/bồn)

- Trikling filter: Bồn lọc phía trên cao, được cung cấp oxy, bên trong được lấp đầy bằng các giá thể nhựa có diện tích tiếp xúc lớn

Trang 28

Hệ thống phản nitrate: hệ thống thu các chất cặn từ trống lọc sau đó đánh tan các chất cặn bã được tách từ trống lọc và dẫn quay lại trống để ổn định độ kiềm khá

trickling

Hình 1.3 Một số bộ phận trong hệ thống HT2

Trang 29

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Tôm hùm xanh (Panulirus homarus) cỡ 10g/con (2.520 con) và 200

g/con (864 con) Tôm hùm giống được mua tại đại lý Loan Tuấn, xã Hòa Lợi – TX Sông Cầu – tỉnh Phú Yên

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2020 đến tháng 7/2021 tại Công Ty TNHH Thủy Sản Đắc Lộc, xã Xuân Hải – TX Sông Cầu – tỉnh Phú Yên

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và sống sót của tôm hùm xanh nuôi thương phẩm

- Ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng của tôm hùm xanh

- Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống của tôm hùm xanh

2.3.2 Ảnh hưởng của hệ thống nuôi đến sinh trưởng và sống sót của tôm hùm xanh nuôi thương phẩm

- Ảnh hưởng của hệ thống nuôi đến sinh trưởng của tôm hùm xanh nuôi thương phẩm

- Ảnh hưởng của hệ thống nuôi đến tỷ lệ sống của tôm hùm xanh nuôi thương phẩm

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỉ

lệ sống của tôm hùm xanh ở giai đoạn 10 - 200g/con

- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Cụ thể 3 nghiệm thức như sau:

Trang 30

NT1: cho ăn 100% thức ăn tươi

NT2: cho ăn 50% thức ăn viên + 50% thức ăn tươi

NT3: cho ăn 100% thức ăn viên

- Cỡ tôm thí nghiệm: 10g/con

- Mật độ thả nuôi: 14 con/m2

- Tôm được nuôi trong các bể thí nghiệm thuộc cùng 1 hệ thống tuần hoàn RAS 1 (Hình 1.1)

- Thời gian thí nghiệm: 6 tháng (tháng 8/2020 đến tháng 1/2021)

- Cho ăn: Thức ăn viên sử dụng trong quá trình nuôi là thức ăn của Mai Duy Minh, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III có công thức như Bảng 1.3 và có thành phần dinh dưỡng như sau: độ đạm 48-54%, lipid 6-8%, độ ẩm 10-12% và tro 19-21% Lượng thức ăn viên cho tôm hùm xanh ăn hàng ngày bằng 1,4% khối lượng thân tôm Thức ăn tươi là cá, ghẹ, vẹm xanh, được ngâm trong nước chlorine 2 ppm trong 5-10 phút, rửa sạch bằng nước ngọt, cắt miếng nhỏ 2-4 cm, đóng gói bảo quản trong tủ đông và được giải đông trước khi cho tôm ăn Lượng thức ăn tươi cho tôm ăn hàng ngày chiếm 8 – 10% khối lượng thân tôm

- Chăm sóc quản lý:

Nuôi tôm hùm xanh trong RAS không áp dụng tái sử dụng nước 100%

mà có thay một phần nước cũ trong hệ thống và bổ sung một phần nước mới theo thời gian để duy trì sự thiếu hụt của các chất vi lượng thiết yếu trong nước biển đối với vật nuôi Lượng nước tuần hoàn để trao đổi nước hàng ngày cho mỗi bể nuôi khoảng 300% ở giai đoạn đầu và tăng lên 400% ở giai đoạn sau Định kỳ sau 10 ngày thay 100% nước mới cho các bể nuôi; bổ sung men

BZT® (Bacillus) vào bể nuôi; BIO-01 (Nitrosomonas) và BIO-super

(Nitrobacter) vào bể lọc sinh học; khoáng chất soda-mix, kiềm vào bể lắng

Hằng ngày theo dõi các thông số môi trường như: TAN, NO2-N, kiềm, DO,

Trang 31

pH, độ mặn, NO3.

Hàng ngày theo dõi tình trạng sức khỏe của tôm, loại bỏ vỏ tôm lột, tôm bị bệnh và xác tôm chết Định kỳ một tháng kiểm tra sức khỏe của tôm, kết hợp phòng bệnh cho tôm như tắm oxy già 40 ppm trong 10 phút để phòng các bệnh do vi khuẩn, kí sinh trùng

-Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sinh trưởng và tỉ lệ

sống của tôm hùm xanh ở giai đoạn 200g/con đến thu hoạch

- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần như sau:

NT1: cho ăn 100% thức ăn tươi

NT2: cho ăn 50% thức ăn viên + 50% thức ăn tươi

NT3: cho ăn 75% thức ăn viên + 25 % thức ăn tươi

Cho ăn: Sử dụng thức ăn viên như ở thí nghiệm 1 Lượng thức ăn viên cho tôm ăn hàng ngày bằng 1% khối lượng thân tôm Thức ăn tươi là cá, ghẹ, vẹm xanh Lượng thức ăn tươi cho tôm ăn hàng ngày chiếm 8 – 10% khối lượng thân tôm

- Cỡ tôm thí nghiệm: 200 g/con

- Mật độ thả nuôi: 8 con/m2

- Tôm được nuôi trong các bể thí nghiệm thuộc cùng 1 hệ thống tuần hoàn RAS 1 (Hình 1.1)

- Chăm sóc và quản lý: Các bể nuôi thí nghiệm được chăm sóc và quản

lý như nhau (chi tiết như thí nghiệm 1)

- Thời gian thí nghiệm: 6 tháng (tháng 2/2021 đến tháng 7/2021)

Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống nuôi đến sinh trưởng và tỉ

lệ sống của tôm hùm xanh

- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức, tương ứng với 2 hệ thống nuôi

Trang 32

HT1: Tôm được nuôi trong 3 bể trong hệ thống HT1 Đây là hệ thống đơn giản bao gồm bể nuôi, bể lắng chất thải, bể lọc sinh học (vật liệu lọc là san hô), bể chuẩn hóa chất lượng nước, skimmer và UV (đã được mô tả trong mục 1.3.3.1)

HT2: Tôm được nuôi trong 3 bể trong hệ thống HT2 Đây là hệ thống hiện đại hơn, bao gồm bể nuôi, trống lọc, Skimmer, bể lọc sinh học (vật liệu lọc là hạt nhựa), trickling, hệ thống phản nitrate, UV (đã được mô tả trong mục 1.3.3.2)

- Cỡ tôm thí nghiệm: 10g/con

- Mật độ thả nuôi: 14 con/m2

- Thời gian thí nghiệm: 5 tháng (tháng 2/1021 đến tháng 6/2021)

- Cho ăn: Cho tôm ăn 100% thức ăn viên, lượng thức ăn hàng ngày bằng 1,4% khối lượng thân tôm

- Chăm sóc và quản lý: Quy trình chăm sóc, quản lý như nhau đối với các bể nuôi thí nghiệm

2.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu

- Sinh trưởng tích lũy: Định kỳ kiểm tra sinh trưởng của tôm 1

tháng/lần

+ Đo chiều dài thân tôm (TL)

+ Đo chiều dài giáp đầu ngực (CL)

+Đo chiều rộng giáp đầu ngực (CW)

+ Cân khối lượng tôm (W)

- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối (cm/ngày hoặc g/ngày) [30]

- Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (%/ngày)[17] [30]

Trong đó:

Trang 33

W2 và W1 là chiều dài (cm) hoặc khối lượng (g) của tôm tại thời điểm t2 và t1

t2 –t1 là khoảng thời gian khảo sát (ngày)

- Tỉ lệ sống: Định kỳ kiểm tra tỷ lệ sống của tôm 1 tháng/lần Tỷ lệ sống của tôm được xác định theo công thức:

TLS (%) =

Trong đó:

S1: Là số lượng tôm ở lần khảo sát trước

S2: Là số lượng tôm ở lần khảo sát sau

Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR)

FCR =

- Theo dõi các chỉ số môi trường: Nhiệt độ, oxy, độ mặn, kiềm, pH, TAN,

NO2, NO3

Bảng 2.1 Các yếu tố môi trường và tần suất đo

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được phân tích bằng phần mềm MS EXCEL 2007 và

Lượng thức ăn đã sử dụng trong giai đoạn khảo sát (kg)

Khối lượng tôm tăng lên trong giai đoạn khảo sát (kg)

Trang 34

STATISTIX 8.0, so sánh các giá trị trung bình bằng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố, sử dụng kiểm định LSD ở mức ý nghĩa 5%

Trang 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1 Ảnh hưởng thức ăn đến sinh trưởng và tỉ lệ sống tôm hùm xanh giai đoạn 10g đến 200g

3.1.1 Môi trường trong quá trình thí nghiệm

Các bể thí nghiệm được bố trí trong cùng một hệ thống RAS1 nên các chỉ số môi trường nước ở các nghiệm thức là tương đồng nhau (Bảng 3.1) Nhìn chung, các chỉ số môi trường nước trong thí nghiệm không có biến động nhiều pH dao động từ 7,6 - 8,2, đây là giá trị pH đặc trưng của nước biển Nhiệt độ luôn được duy trì ổn định trong khoảng 27 – 29,5oC nhờ hệ thống ổn định nhiệt Độ mặn trong quá trình thí nghiệm dao động trong khoảng 28 - 32‰ tháng trời mưa độ mặn có giảm xuống 26‰ trong vòng 1 tuần sau đó tăng lên lại và không ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng và hoạt động của tôm hùm xanh Quá trình tuần hoàn có làm giảm độ kiềm, tuy nhiên kiềm được bổ sung vào hệ thống nuôi để duy trì ở mức 110 -140 mg/L Hàm lượng oxy hòa tan nằm trong khoảng 4,5 - 5,5mg/L Các chỉ tiêu như TAN, NO2 và

NO3 đều ở mức khá thấp

Bảng 3.1 Các chỉ số môi trường trong quá trình thí nghiệm

Trang 36

Theo Kemp và Britz (2008), tôm hùm xanh phát triển tốt hơn trong điều kiện nhiệt độ từ 24-28oC so với 18-24oC Thêm vào đó, Phan Đình Thịnh và Nguyễn Sen (2015) cho biết tôm hùm xanh phát triển bình thường trong bể nuôi có nhiệt độ từ 25 – 28oC, độ mặn từ 32 - 34‰, pH từ 8,1 - 8,4, độ kiềm

từ 120 - 140 mg CaCO3/l [12] Phillip và cộng sự (2008) cho rằng, tôm hùm phát triển bình thường trong điều kiện NO2< 4,0 mg/l [33] Trong kết quả nuôi tôm hùm xanh của Rao và cộng sự, 2010 [35] trong điều kiện nhiệt độ 26,18 đến 27 oC, pH từ 7,4 đến 7,68 và oxy từ 4,35 đến 4,69 tôm hùm xanh phát triển bình thường Tương tự như vậy, trong điều kiện môi trường có độ mặn 28-35‰, ô xy hòa tan 4,5-7,2 mg/l, độ đục khá cao, tính kiềm nhẹ, tôm hùm trong lồng treo nổi trong ao lột xác bình thường và đồng loạt, không bị mòn phần phụ, màu sắc tươi sáng, mạnh khỏe (Jones & Shanks, 2008)[25] Ngoài ra, Mai Duy Minh và cộng sự (2019) cũng nuôi tôm hùm bông trong hệ thống RAS với các yếu tố môi trường gần tương đồng với trong thí nghiệm của chúng tôi, đó là nhiệt độ từ 25-30oC; độ mặn từ 28-37‰; pH = 7,6-8,4; TAN ≤ 0,5 mg/l; NO3 ≤ 50 mg/l [4] Như vậy, các thông số môi trường nước trong quá trình nuôi thí nghiệm nhìn chung phù hợp cho tôm hùm xanh sinh trưởng và phát triển

3.1.2 Sinh trưởng khối lượng tôm hùm xanh giai đoạn 10g đến 200g

3.1.2.1 Sinh trưởng tích lũy khối lượng

Kết quả theo dõi sinh trưởng tích lũy khối lượng tôm ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau được mô tả ở Bảng 3.2 Khối lượng trung bình ban đầu của tôm ở 3 nghiệm thức dao động từ 10,26 - 10,56 g/con và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Khối lượng tôm tăng dần theo thời gian nuôi và sau 180 ngày nuôi đạt trung bình 193,26g ở NT1, 191,46g ở NT2

và 190,5g ở NT3 Tuy nhiên, khối lượng tôm tại các thời điểm khảo sát (từ 1 tháng đến 6 tháng) đều không khác nhau về mặt thống kê (p>0,05)

Trang 37

Bảng 3.2 Sinh trưởng tích lũy khối lượng tôm (g/) ở giai đoạn 10g đến 200g/con ở các

nghiệm thức cho ăn khác nhau Thời gian

3.1.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối khối lượng tôm

Nhìn chung, sinh trưởng tuyệt đối khối lượng tôm thay đổi qua các giai đoạn khảo sát ở cả 3 nghiệm thức Thấp nhất là giai đoạn mới thả tôm đến 1 tháng, sinh trưởng tuyệt đối của tôm hùm xanh đạt 0,38 ± 0,06 g/ngày ở NT1, 0,31± 0,02 g/ngày ở NT2, và 0,34 ± 0,03 g/ngày ở NT3 Giai đoạn tôm hùm xanh đạt sinh trưởng tuyệt đối cao nhất là 3-4 tháng nuôi, tại NT1 và NT2 đạt trung bình 1,33 g/ngày và NT3 đạt 1,32 g/ngày Qua tất cả các giai đoạn khảo sát cũng như tính chung cả 6 tháng nuôi thí nghiệm, sinh trưởng tuyệt đối khối lượng thân tôm ở các nghiệm thức không sai khác có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Qua 6 tháng nuôi tốc độ sinh trưởng tuyệt đối khối lượng tôm ở NT1 đạt 1,02 ± 0,01 g/ngày, ở NT2 đạt 1,01± 0,01 g/ngày và ở NT3 đạt 1,00

± 0,01 g/ngày (Bảng 3.3)

Bảng 3.3: Sinh trưởng tuyệt đối khối lượng tôm (g/ngày) ở giai đoạn 10g đến 200g/con

ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau

Trang 38

Giai đoạn nuôi

Sinh trưởng tuyệt đối khối lượng tôm (g/ngày)

ăn viên chế biến cho sinh trưởng như nhau Như vậy, có thể thấy sinh trưởng khối lượng của tôm hùm xanh trong thí nghiệm của tôi cao hơn nhiều so với kết quả của những tác giả này

Trong một thí nghiệm khác về nuôi tôm hùm xanh trong lồng trên biển, với cỡ tôm thí nghiệm là 114,8 g/con, tôm được cho ăn thức ăn tươi, sau thời gian 135 ngày nuôi đạt khối lượng 225,95 g/con Tính ra sinh trưởng tuyệt đối đạt 0,82 g/ngày (Rao và cộng sự, 2010)[36], cao hơn Nguyễn Đình Thịnh và Nguyễn Sen (2015) nhưng thấp hơn trong nghiên cứu này của tôi

3.1.2.3 Sinh trưởng đặc trưng khối lượng tôm

Sinh trưởng đặc trưng khối lượng tôm được thể hiện ở Bảng 3.4 Nhìn chung, sinh trưởng đặc trưng khối lượng tôm giảm dần qua các giai đoạn nuôi ở

Trang 39

cả 3 nghiệm thức, ngoại trừ ở giai đoạn 1-2 tháng nuôi có tăng hơn so với giai đoạn đầu Cụ thể, ở giai đoạn 0-1 tháng nuôi, sinh trưởng đặc trưng khối lượng tôm ở NT1 đạt 2,48 ± 0,26 %/ngày, ở NT2 đạt 2,16 ± 0,14 %/ngày và ở NT3 đạt 2,24 ± 0,13 %/ngày và đến giai đoạn 5-6 tháng nuôi chỉ số này đạt lần lượt 0,63, 0,61 và 0,61%/ngày ở NT1, NT2 và NT3 Tuy nhiên, sinh trưởng đặc trưng khối lượng tôm không khác nhau giữa các nghiệm thức ở tất cả các giai đoạn nuôi (p>0,05) Qua 6 tháng nuôi, sinh trưởng đặc trưng khối lượng tôm ở nghiệm thức NT1, NT2 và NT3 đạt được lần lượt 1,63 ± 0,01 %/ngày, 1,63 ± 0,02

%/ngày và 1,61± 0,03 %/ngày

Bảng 3.4: Sinh trưởng đặc trưng khối lượng tôm (%/ngày) ở giai đoạn 10g đến

200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau

Giai đoạn nuôi

Trang 40

%/ngày, còn với cỡ giống 85,14 g/con sau 12 tuần đạt tốc độ sinh trưởng đặc trưng là 1,07%/ngày (Lại Văn Hùng và Phạm Đức Hùng, 2010)[2] Như vậy,

có thể thấy tốc độ sinh trưởng đặc trưng khối lượng tôm trong nghiên cứu của tôi cao hơn so với trong nghiên cứu của các tác giả này, tuy nhiên vì cỡ tôm nuôi khác nhau nên sự so sánh này chỉ mang tính tương đối

Qua thí nghiệm này có thể nhận định rằng, với cỡ tôm ban đầu khoảng 10g/con, sử dụng 100% thức ăn viên, hoặc 50% thức ăn viên + 50% thức ăn tươi, hoặc 100% thức ăn tươi vẫn đảm bảo sinh trưởng khối tôm như nhau

3.1.3 Sinh trưởng chiều dài thân tôm hùm xanh giai đoạn 10g đến 200g

3.1.3.1 Sinh trưởng tích lũy chiều dài thân

Chiều dài thân tôm tăng dần theo thời gian nuôi thí nghiệm Sau 6 tháng nuôi, chiều dài thân tôm ở nghiệm thức NT1 từ 48,86 ± 2,10 mm lên 155,36 ± 6,08 mm, ở nghiệm thức NT2 tăng từ 48,86 ± 2,89 mm lên 154,16 ± 6,65 mm và ở NT3 tăng từ 49,00 ± 2,95 mm lên 151,43 ± 4,61 mm (Bảng 3.5)

Trong các thời điểm khảo sát từ lúc bắt đầu thí nghiệm đến 5 tháng, chiều dài tôm ở các nghiệm thức không khác nhau về mặt thống kê (p>0,05) Tuy nhiên, đến tháng thứ 6 chiều dài tôm ở nghiệm thức NT3 nhỏ hơn chiều

dài tôm ở hai nghiệm thức NT1 và NT2 (p<0,05)

Bảng 3 5 Sinh trưởng tích lũy về chiều dài thân tôm (mm) ở giai đoạn 10g đến

200g/con ở các nghiệm thức cho ăn khác nhau

Ngày đăng: 17/02/2022, 20:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lại Văn Hùng, Phạm Thị Khanh, Phạm Đức Hùng, Nguyễn Minh Đức, Hoàng Thị Thanh, Hoàng Văn Dần (2014), Hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi tôm hùm bông (Panulirus ornatus) và tôm hùm xanh (Panulirus homarus). Mã số dự án:KC.06.DA05/11-15. Báo cáo tổng kết Dự án Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi tôm hùm bông (Panulirus ornatus) và tôm hùm xanh (Panulirus homarus)
Tác giả: Lại Văn Hùng, Phạm Thị Khanh, Phạm Đức Hùng, Nguyễn Minh Đức, Hoàng Thị Thanh, Hoàng Văn Dần
Năm: 2014
[2] Lại Văn Hùng và Phạm Đức Hùng (2010), “Ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn công nghiệp đến tăng trưởng của tôm hùm xanh (Panulirus homarus) giai đoạn nuôi thương phẩm”, Tạp chí Khoa học – công nghệ Thủy sản. Đại Học Nha Trang: 53-58 [3] Mai Duy Minh, Phạm Trường Giang, Lê Văn Chí, Tống Phước Hoàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của hàm lượng protein và lipid trong thức ăn công nghiệp đến tăng trưởng của tôm hùm xanh ("Panulirus homarus") giai đoạn nuôi thương phẩm”, "Tạp chí Khoa học – công nghệ Thủy sản
Tác giả: Lại Văn Hùng và Phạm Đức Hùng
Năm: 2010
[4] Mai Duy Minh, Nguyễn Đức Cự, Lê Anh Tuấn, Trần Đại Tiến, Mai Duy Hảo, Tô Đông Tịnh, (2019), Nghiên cứu công nghệ nuôi thâm canh tôm hùm thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp trong hệ thống tuần hòan. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 120 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu công nghệ nuôi thâm canh tôm hùm thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp trong hệ thống tuần hòan
Tác giả: Mai Duy Minh, Nguyễn Đức Cự, Lê Anh Tuấn, Trần Đại Tiến, Mai Duy Hảo, Tô Đông Tịnh
Năm: 2019
[5] Mai Duy Minh và Phạm Thị Hạnh (2018), “ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm hùm bông (Panulirus ornatus) nuôi thương phẩm trong bể”, Tạp chí nông nghiệp và PTNT , 344 (17): 116-123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỉ lệ sống của tôm hùm bông ("Panulirus ornatus") nuôi thương phẩm trong bể”, "Tạp chí nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Mai Duy Minh và Phạm Thị Hạnh
Năm: 2018
[6] Mai Duy Minh và Trần Thị Lưu (2020), “Hiệu quả sử dụng thức ăn công nghiệp nuôi tôm hùm xanh(Panulirus homarus,Linnaeus 1758) trong bể”, Tạp chí nông nghiệp và PTNT, trang 75 – 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả sử dụng thức ăn công nghiệp nuôi tôm hùm xanh("Panulirus homarus,"Linnaeus 1758) trong bể”, "Tạp chí nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Mai Duy Minh và Trần Thị Lưu
Năm: 2020
[7] Võ Văn Nha, Võ Thị Ngọc Trâm và Nguyễn Minh Quang (2018), “Bệnh sữa trên tôm hùm, hiện trạng, yếu tố nguy cơ và giải pháp phòng trị”, Báo cáo tham dự Diễn đàn về Nuôi tôm hùm đạt hiệu quả cao và bền vững tại các tỉnh miền Trung, Trung tâm Khuyến Nông Quốc gia, , trang 41-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sữa trên tôm hùm, hiện trạng, yếu tố nguy cơ và giải pháp phòng trị
Tác giả: Võ Văn Nha, Võ Thị Ngọc Trâm và Nguyễn Minh Quang
Năm: 2018
[8] Lê Anh Tuấn (2013), “Nuôi thử nghiệm tôm hùm bông Panulirus ornatus trong bể xi-măng bằng thức ăn viên”. Kỷ yếu hội thảo khoa học, Trường Đại học Nha Trang, trang 78 – 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi thử nghiệm tôm hùm bông "Panulirus ornatus" trong bể xi-măng bằng thức ăn viên
Tác giả: Lê Anh Tuấn
Năm: 2013
[9] Mai Như Thủy (2004), Nghiên cứu nhu cầu protein và lipid của tôm hùm bông (Panulirus ornatus) giai đoạn giống 5-20g, Luận văn cao học, Trường Đại học Thủy sản, 53 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhu cầu protein và lipid của tôm hùm bông (Panulirus ornatus) giai đoạn giống 5-20g
Tác giả: Mai Như Thủy
Năm: 2004
[10] Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Thị Hồng Tuyên, Lê Văn Chí, Đinh Tấn Thiện (2013), Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ nuôi tôm hùm bông (Panulirus ornatus) trong hệ thống bể đạt năng suất 5 kg/m 2 . Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ. Bộ Nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ nuôi tôm hùm bông (Panulirus ornatus) trong hệ thống bể đạt năng suất 5 kg/m"2
Tác giả: Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Thị Hồng Tuyên, Lê Văn Chí, Đinh Tấn Thiện
Năm: 2013
[11] Nguyễn Thị Bích Thúy (1998). Nghiên cứu các đặc điểm sinh học nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi tôm hùm ở vùng ven biển miền Trung Việt Nam, Luận án tiến sĩ sinh học, Thư viện Đại học Nha Trang, 196 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các đặc điểm sinh học nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi tôm hùm ở vùng ven biển miền Trung Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thúy
Năm: 1998
[12] Phan Đình Thịnh (2015), Ương nuôi tôm hùm xanh giai đoạn giống (20- 30g) đến giai đoạn sắp trưởng thành (150g) trong bể xi-măng bằng thức ăn viên tại Ninh Thuận, Báo cáo tổng kết Đề tài cấp tỉnh, tỉnh Ninh Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ương nuôi tôm hùm xanh giai đoạn giống (20-30g) đến giai đoạn sắp trưởng thành (150g) trong bể xi-măng bằng thức ăn viên tại Ninh Thuận
Tác giả: Phan Đình Thịnh
Năm: 2015
[13] Tổng Cục Thủy sản (2018), Hiện trạng nuôi tôm hùm ở Việt Nam và định hướng phát triển. Báo cáo tham dự Diễn đàn về Nuôi tôm hùm đạt hiệu quả cao và bền vững tại các tỉnh miền Trung, trang 41-49.Trung tâm Khuyến Nông Quốc gia, 101 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng nuôi tôm hùm ở Việt Nam và định hướng phát triển. Báo cáo tham dự Diễn đàn về Nuôi tôm hùm đạt hiệu quả cao và bền vững tại các tỉnh miền Trung
Tác giả: Tổng Cục Thủy sản
Năm: 2018
[14] Bùi Minh Trang (2015), Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội nghề nuôi tôm hùm bông Panulirus ornatus (Fabricius, 1798) thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa, luận văn thạc sĩ trường Đại Học Nha Trang, 76 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội nghề nuôi tôm hùm bông Panulirus ornatus (Fabricius, 1798) thương phẩm tại tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Bùi Minh Trang
Năm: 2015
[15] Aiken, D.E., &amp; Waddy, S.L.(1978), Space, density and growth of the lobster (Homarus americanus). J. W. Aquac. Societ., 4: 459-467 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Space, density and growth of the lobster (Homarus americanus)
Tác giả: Aiken, D.E., &amp; Waddy, S.L
Năm: 1978
[16] Balkhair, M., Ali Al-Mashiki, and Mikhail Chesalin (2012), “Experimental Rearing of Spiny Lobster, Panulirus homarus(Palinuridae) in Land-Based Tanks at Mirbat Station (Sultanate of Oman)” in 2009-2010, Agricultural and Marine Sciences, 17:33-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Experimental Rearing of Spiny Lobster, Panulirus homarus(Palinuridae) in Land-Based Tanks at Mirbat Station (Sultanate of Oman)” in 2009-2010", Agricultural and Marine Sciences
Tác giả: Balkhair, M., Ali Al-Mashiki, and Mikhail Chesalin
Năm: 2012
[18] Crear, B.J., Thomas, C.W., Hart, P.R., Carter, C.G. (2000), “Growth of juvenile southern rock lobsters, Jasus edwardsii, is influenced by diet and temperature, whilst survival is influenced by diet and tank environment”, Aquaculture, 190: 169–182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Growth of juvenile southern rock lobsters, "Jasus edwardsii", is influenced by diet and temperature, whilst survival is influenced by diet and tank environment”, "Aquaculture
Tác giả: Crear, B.J., Thomas, C.W., Hart, P.R., Carter, C.G
Năm: 2000
[19] Cox, C., H. Hunt, John, Lyons, William , E. Davis Gary (1997), Nocturnal foraging of the Caribbean spiny lobster (Panulirus argus) on offshore reefs of Florida, USA. Marine and Freshwater Research, 48: 1071 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nocturnal foraging of the Caribbean spiny lobster (Panulirus argus) on offshore reefs of Florida, USA
Tác giả: Cox, C., H. Hunt, John, Lyons, William , E. Davis Gary
Năm: 1997
[21] Dennis, D.M., Skewes, T.D.&amp; Pitcher, C.R.(1997), “Habitat use and growth of juvenile ornate rock lobsters, Panulirus ornatus (Fabricius, 1798), in Torres Strait, Australia”, Mar. Freshwat, Res., 48: 663–670 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Habitat use and growth of juvenile ornate rock lobsters, "Panulirus ornatus" (Fabricius, 1798), in Torres Strait, Australia”, "Mar. Freshwat, Res
Tác giả: Dennis, D.M., Skewes, T.D.&amp; Pitcher, C.R
Năm: 1997
[22] Eagles, M. D., Aiken, D. E., Waddy. S. L (1986), Influence of light and food on larval American lobsters. Homarus amencanus. Can. J.Fish. Aquat. Scl., 43: 2303-310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence of light and food on larval American lobsters. Homarus amencanus
Tác giả: Eagles, M. D., Aiken, D. E., Waddy. S. L
Năm: 1986
[23] Elner, R.W.&amp; Campbell. A (1987), “atural diets of lobster Homarus americanus from barren ground and macroalgal habitats off southwestern Nova Scotia”, Canada Marine ecology pro. Ser., 37:131-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: atural diets of lobster "Homarus americanus" from barren ground and macroalgal habitats off southwestern Nova Scotia”, "Canada Marine ecology pro. Ser
Tác giả: Elner, R.W.&amp; Campbell. A
Năm: 1987

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w