Liên quan đến lập dự toán Ngân sách nhà nước cấp huyện có thể kể đến một số đề tài như: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ánh Hồng 2020 về “Hoàn thiện công tác lập dự toán và quyết toán
Trang 1LATDAVONE PHOTHILATH
HOÀN THIỆN LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SALAVANH, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Bình Định - Năm 2021
Trang 2LATDAVONE PHOTHILATH
HOÀN THIỆN LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SALAVANH, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Chuyên ngành : Kế toán
Người hướng dẫn: TS ĐỖ HUYỀN TRANG
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi
Các số liệu trình bày trong luận văn là trung thực và đúng với khảo sát trên thực tế Kết quả luận văn chưa từng được công bố trong công trình nào khác./
Tác giả luận văn
Latdavone Phothilath
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô Phòng sau Đại học và quý thầy giảng viên Trường Đại học Quy Nhơn đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt việc học tập tại trường
Tôi chân thành cảm ơn TS Đỗ Huyền Trang, người đã nhiệt tình tận tâm ân cần chỉ dạy, động viên, hướng dẫn giúp cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các anh chị đồng nghiệp, bạn
bè và gia đình nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Bình Định, tháng 8 năm 2021
Tác giả luận văn
Latdavone Phothilath
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Câu hỏi nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
8 Kết cấu luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH THUỘC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 8
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 8
1.1.1 Khái niệm, bản chất của ngân sách nhà nước 8
1.1.2 Chức năng của ngân sách nhà nước 9
1.1.3 Vai trò của ngân sách nhà nước 10
1.1.4 Hệ thống ngân sách nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 12
1.1.5 Ngân sách nhà nước cấp tỉnh trong hệ thống Ngân sách nhà nước của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 22
Trang 6LÀO 23
1.2.1 Tổng quan về lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước 23
1.2.2 Lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh 27
1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH……….29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SALAVANH – CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 31
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SALAVANH 31 2.1.1 Đặc điểm tổ chức quản lý 31
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 33
2.2 THỰC TRẠNG LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SALAVANH 35
2.2.1.Khái quát 35
2.2.2.Lập dự toán thu Ngân sách nhà nước 37
2.2.3 Lập dự toán chi Ngân sách nhà nước 47
2.2.4 Tổng hợp và phê duyệt dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước 57
2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SALAVANH 64
2.3.1 Kết quả đạt được 64
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SALAVANH –
Trang 7THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH
SALAVANH 69
3.1.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện………63
3.1.2 Quan điểm hoàn thiện……….65
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH SALAVANH 71
3.2.1 Nâng cao chất lượng lập dự toán của các cơ quan, đơn vị 71
3.2.2 Kiện toàn nhân sự phụ trách công tác lập dự toán thu, chi 73
3.2.3 Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Sở Tài chính với các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách 74
3.2.4 Thực hiện nghiêm trình tự, thủ tục, thời gian xây dựng dự toán ngân sách 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 8CHDCND Cộng hòa dân chủ nhân dân
Trang 9Số hiệu
2.1 Tổng hợp dự toán thu NSNN tỉnh Salavanh năm 2019 40 2.2 Dự toán thu thuế tỉnh Salavanh năm 2020 42 2.3 Dự toán thu phí, lệ phí liên quan đến đất đai tỉnh
Salavanh năm 2020
43
2.4 Dự toán thu phí, lệ phí khác tỉnh Salavanh năm 2020 44 2.5 Dự toán thu phí dịch vụ tỉnh Salavanh năm 2020 45 2.6 Dự toán thu quản lý tài sản nhà nước của tỉnh Salavanh
năm 2020
46
2.7 Tổng hợp dự toán chi NSNN tỉnh Salavanh năm 2019 48 2.8 Dự toán chi lương và phụ cấp tỉnh Salavanh năm 2020 49 2.9 Dự toán chi chính sách và trợ cấp tỉnh Salavanh năm
Trang 102.19 So sánh dự toán chi NSNN tỉnh Salavanh năm 2020 63
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước không chỉ đảm bảo cho các hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước mà còn là công cụ đắc lực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đóng vai trò chủ đạo trên toàn cầu Do vậy, việc
sử dụng có hiệu quả và tránh thất thoát ngân sách nhà nước là một yêu cầu hết sức cần thiết
Có thể thấy, ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ lớn nhất của nền kinh tế quốc dân, chi phối hầu như toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước sẽ không thể hoạt động hiệu quả nếu thiếu ngân sách nhà nước Tuy nhiên, một đất nước cũng không thể phát triển nếu không có kế hoạch sử dụng ngân sách một cách hợp lí, tránh lãng phí, thất thoát
Ngân sách nhà nước không sử dụng cho nhu cầu hay lợi ích của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào mà được thiết lập và thực thi hoàn toàn vì mục tiêu mưu cầu lợi ích chung cho quốc gia, không phân biệt người hưởng thụ Điều này càng khẳng định tầm quan trọng của việc lập kế hoạch sử dụng ngân sách nhà nước hợp lý, hiệu quả
Trong những năm gần đây, ngân sách nhà nước của CHDCND Lào đã phát huy được vai trò của mình trên các mặt: hình thành hệ thống tài chính quốc gia nhằm kiểm soát lạm phát, lãi suất ở mức hợp lý, đồng thời tăng cường lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia Mặc dù đã có những vai trò tích cực được phát huy, nhưng vấn đề sử dụng ngân sách tại Cộng hòa dân chủ nhân dân CHDCND Lào vẫn còn những bất cập có thể kể đến như: (1) hệ thống văn bản luật về ngân sách nhà nước chưa thực sự nhất quán và đồng bộ; (2) chưa thiết lập được một
bộ máy bài bản, hiệu quả để thực hiện lập dự toán và quyết toán thu chi ngân sách nhà nước; (3) quy trình xét duyệt ngân sách vẫn còn phức tạp, thủ tục rườm
Trang 13rà; (4) việc chấp hành dự toán ở một số địa phương không đúng quy định, dẫn đến Ngân sách nhà nước được sử dụng kém hiệu quả, gây thất thoát, lãng phí, và mất cân đối giữa các đơn vị
Tại tỉnh Salavanh, công tác lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước do Sở Tài chính tỉnh thực hiện cũng còn tồn tại một số hạn chế giống thực trạng chung của toàn bộ hệ thống tài chính nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Do vậy, tác giả mong muốn nghiên cứu thực trạng lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Salavanh do Sở Tài chính thực hiện, để có thể đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác này tại Sở Tài chính tỉnh, góp phần hoàn thiện hệ thống tài chính quốc gia, tăng cường vai trò của ngân sách nhà nước trong điều
tiết kinh tế Chính vì lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện lập dự toán thu, chi NSNN tại Sở Tài chính tỉnh Salavanh, nước CHDCND Lào”
làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan nghiên cứu
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước nói riêng và ngân sách nhà nước của Việt Nam nói chung
Về lập dự toán thu, chi NSNN, có những đề tài thực hiện liên quan đến dự toán Ngân sách nhà nước cấp huyện và cấp tỉnh với các đặc thù phân bổ dự toán khác nhau
Liên quan đến lập dự toán Ngân sách nhà nước cấp huyện có thể kể đến một số đề tài như:
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ánh Hồng (2020) về “Hoàn thiện công tác lập dự toán và quyết toán Ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính –
Kế hoạch thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định” đã mô tả thực trạng lập dự toán và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã An Nhơn và trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán và quyết toán tại Phòng Tài chính – Kế hoạch thị xã An Nhơn theo hướng đảm bảo chính xác, công bằng, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của
Trang 14địa phương [9]
Cùng hướng nghiên cứu là luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Khánh Linh (2020) về “Hoàn thiện công tác lập dự toán và quyết toán Ngân sách nhà nước tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định” Đề tài này cũng đã mô tả thực trạng lập dự toán và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính –
Kế hoạch huyện Phù Cát để từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác lập
dự toán và quyết toán NSNN phù hợp với đặc thù quản lý ngân sách của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Phù Cát thông qua việc đánh giá thực trạng lập và quyết toán Ngân sách nhà nước cấp huyện đã mô tả [10]
Luận văn thạc sĩ của tác giả Huỳnh Thị Kim Dung (2017) với đề tài
“Hoàn thiện công tác lập và quyết toán ngân sách Nhà nước tại Phòng Tài chính
- Kế hoạch huyện Đức Phổ” Qua nghiên cứu thực trạng công tác lập dự toán và quyết toán NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán và quyết toán NSNN phù hợp với thực trạng tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Đức Phổ [7]
Các đề tài kể trên đều chỉ được thực hiện với Ngân sách nhà nước cấp huyện, do đó sẽ có những đặc thù khác với cấp ngân sách tỉnh, đồng thời chưa đi vào cụ thể dự toán thu, chi ngân sách
Liên quan đến lập dự toán Ngân sách nhà nước cấp tỉnh, có thể kế đến một số đề tài đã thực hiện gồm:
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Phúc (2013) khi thực hiện luận văn thạc sĩ của mình với đề tài “Hoàn thiện công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” cũng đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN, về công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSNN Trên cơ
sở đó, tác giả mô tả thực trạng và đánh giá những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế, bất cập trong công tác lập, phân bổ và giao dự toán ngân sách tại tỉnh Quảng Ngãi Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn
Trang 15thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSNN nói chung, ngân sách tỉnh Quảng Ngãi nói riêng Đề tài này được thực hiện với ngân sách cấp tỉnh nhưng chỉ nghiên cứu các giai đoạn đầu của quản lý NSNN, mà chưa đề cập đến thu, chi NSNN [11]
Các đề tài khác liên quan đến Ngân sách nhà nước, đã có một số đề tài được thực hiện như:
Đề tài “Hoàn thiện công tác phân bổ ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Bình” của tác giả Bùi Mạnh Cường (2012) Trong luận văn của mình, sau khi tổng hợp lý luận về NSNN và phân bổ NSNN, tác giả đã đánh giá thực trạng phân bổ NSNN ở hai lĩnh vực chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển tại tỉnh Quảng Bình trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2010 Từ những thực trạng đã được mô tả và đánh giá, một số giải pháp hoàn thiện công tác phân bổ NSNN ở hai lĩnh vực chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển tại tỉnh Quảng Bình đã được đề xuất [6]
Ở một hướng nghiên cứu khác về NSNN, tác giả Nguyễn Thị Hoa trong luận văn thạc sĩ với đề tài “Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang” (2011) đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về thu NSNN nói chung và thu NSNN huyện nói riêng Để đánh giá thực trạng, tác giả đã khảo sát tình hình thực hiện thu NSNN trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng Trên cơ
sở khảo sát tình hình thực hiện thu NSNN và các đánh giá, các giải pháp đã được tác giả đề xuất nhằm hoàn thiện công tác thu NSNN ở huyện huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng [8]
Cũng trong năm 2011, tác giả Lê Thị Hồng Bốn lại thực hiện luận văn thạc sĩ khác với đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách
ở Triệu Phong, Quảng Trị” Luận văn này tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý NSNN cấp huyện và đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý thu, chi NSNN Hai nhóm giải pháp được tác giả đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản
lý NSNN ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị gồm: quản lý thu ngân sách và
Trang 16quản lý chi ngân sách [4]
Các đề tài trên đã đề cập về thu, phân bổ, quản lý NSNN nhưng chưa đi sâu phân tích riêng giai đoạn lập dự toán, đặc biệt là lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước
Đối với các đề tài nghiên cứu về lập dự toán thu, chi NSNN của nước CHDCND Lào, năm 2019 đã có luận văn thạc sĩ với đề tài “Hoàn thiện công tác lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Sekong- CHDCND Lào” của tác giả Sykhay Lieng Sa Vat thực hiện tại Đại học Đà Nẵng Trong luận văn này, tác giả đã hệ thống cơ sở lý luận về lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước, thực hiện mô tả và đánh giá thực trạng lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước tại tỉnh Sekong, trên cơ sở các đánh giá, tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước tại tỉnh Sekong, nước CHDCND Lào [17]
Như vậy, với nỗ lực tìm kiếm của tác giả thì tại tỉnh Salavanh, nước CHDCND Lào, chưa có đề tài nào nghiên cứu về lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước tại tỉnh
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 174 Câu hỏi nghiên cứu
1 Lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Salavanh - CHDCND Lào được thực hiện như thế nào?
2 Các giải pháp để hoàn thiện lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Salavanh - CHDCND Lào là gì?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Công tác lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh Salavanh - CHDCND Lào
- Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Sở Tài chính tỉnh Salavanh - CHDCND Lào
+ Về thời gian: năm 2019 và 2020
6 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền thống để thực hiện luận văn này Các tài liệu, dữ liệu được thu thập từ các bài báo, bài nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu, các quy định về lập dự toán thu, chi NSNN của CHDCND Lào và tỉnh Salavanh
Căn cứ vào dữ liệu đã thu thập được, tác giả tiến hành so sánh quy trình lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước được ban hành trong các văn bản quy phạm pháp luật so với quy trình lập dự toán được thực hiện thực tế tại Sở Tài chính tỉnh Salavanh, đồng thời phân tích, tổng hợp, so sánh dữ liệu trong dự toán với báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách hàng năm của tỉnh Salavanh để đưa ra các nhận định, kết luận về vấn đề nghiên cứu
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm nêu rõ thực trạng lập dự toán thu, chi NSNN tại Sở Tài chính tỉnh Salavanh - CHDCND Lào Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện lập dự toán thu, chi NSNN tại Sở Tài chính tỉnh Salavanh - CHDCND Lào
Trang 188 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phần phụ, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về lập dự toán thu, chi NSNN tại Sở Tài chính tỉnh thuộc CHDCND Lào
- Chương 2: Thực trạng lập dự toán thu, chi NSNN tại Sở Tài chính tỉnh Salavanh - CHDCND Lào
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện lập dự toán thu, chi NSNN tại Sở Tài chính tỉnh Salavanh - CHDCND Lào
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH THUỘC CỘNG HÒA
DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm, bản chất của ngân sách nhà nước
Không một quốc gia nào có thể vận hành bộ máy và các hoạt động quản
lý nhà nước về các mặt kinh tế - xã hội mà không có nguồn NSNN Thêm vào
đó, NSNN còn là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế Như vậy, có thể thấy NSNN có vai trò hết sức quan trọng
NSNN hình thành từ việc thu thuế, phí, lệ phí… và chi cho các hoạt động quản lý hành chính, các dịch vụ công ích… Mọi khoản thu, chi từ NSNN đều đã được xác định trước và được Nhà nước sử dụng để điều tiết nền kinh tế, do đó,
có nhiều khái niệm khác nhau về NSNN
Về phương diện kinh tế, khái niệm NSNN được xem xét trên các khía cạnh: hình thức, thực thể và bản chất kinh tế
Nếu xem xét về hình thức, NSNN được khái niệm là một bản dự toán thu
- chi tài chính của Nhà nước được Chính phủ lập hàng năm, đệ trình Quốc hội phê duyệt và được giao cho Chính phủ thực hiện
Xem xét góc độ thực thể, NSNN bao gồm các nguồn thu và những khoản chi cụ thể đã được định lượng Tất cả các nguồn thu được nộp vào một quỹ tiền
tệ và mọi khoản chi đều được chi ra từ quỹ tiền tệ ấy Thu, chi quỹ tiền tệ này có quan hệ ràng buộc nhau gọi là cân đối ngân sách
Xét về bản chất kinh tế chứa đựng trong NSNN, mọi hoạt động thu, chi NSNN đều phản ánh quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong
xã hội gắn với quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ NSNN Hoạt động thu,
Trang 20chi NSNN đa dạng và được tiến hành trên hầu khắp các lĩnh vực và có tác động đến mọi chủ thể kinh tế xã hội
Như vậy, có thể thấy khái niệm NSNN có thể được phát biểu trên cả 2 phương diện pháp lý và kinh tế Trên phương diện pháp lý, “NSNN là một ước tính của kế hoạch thu chi nhà nước, được Quốc hội phê chuẩn hàng năm Ngân sách quốc gia là trung tâm của hệ thống tài chính quốc gia, là một công cụ quản
lý, điều chỉnh kinh tế vĩ mô cho nền kinh tế, bảo đảm cho sự phát triển kinh tế
xã hội.Năm ngân sách nhà nước bao gồm mười hai tháng, bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 cùng năm.” [12] Trên phương diện kinh tế, NSNN phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong phân phối tổng sản phẩm xã hội, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền
tệ tập trung của Nhà nước, chuyển dịch một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của Nhà nước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thực hiện để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [18]
1.1.2 Chức năng của ngân sách nhà nước
NSNN là một bộ phận rất quan trọng đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia Vì vậy, NSNN cũng có hai chức năng là chức năng phân phối, chức năng điều chỉnh và kiểm soát [12] Trong mỗi chức năng này, NSNN thể hiện rõ vai trò điều tiết của mình
Chức năng phân phối: Bất cứ Nhà nước nào muốn tồn tại đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính để đáp ứng các khoản chi tiêu cho hoạt động của mình, muốn vậy Nhà nước phải huy động vốn trong, ngoài nước Nguồn huy động trong nước chủ yếu là nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu hợp pháp khác Nguồn huy động từ nước ngoài gồm viện trợ, vay nợ, chênh lệch xuất, nhập khẩu Vốn huy động được Nhà nước thực hiện phân phối mang tính chất không hoàn trả trực tiếp
Chức năng giám sát: thể hiện quá trình huy động và sử dụng NSNN phải
Trang 21được thể hiện bằng các văn bản pháp luật, vì vậy phải được theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra chặt chẽ các khoản thu, chi NSNN theo những tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định Thực hiện chức năng này, Nhà nước thông qua NSNN để biết được nguồn thu - chi nào là cơ bản của từng thời kỳ, từng giai đoạn và do đó có những giải pháp để làm tốt thu - chi Nhà nước định ra cơ cấu thu - chi hợp lý, theo dõi các phát sinh và những nhân tố ảnh hưởng đến thu - chi
Hai chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau, phản ảnh được bản chất hoạt động của NSNN trong quá trình tạo lập, khai thác động viên, phân bổ,
hỗ trợ nhau nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách Từ đó phát huy vai trò tích cực của NSNN đối với quá trình quản lý vĩ mô kinh tế - xã hội, giúp cho Nhà nước quản lý NSNN được hiệu quả, đúng quy định pháp luật, phân giao NSNN đảm bảo công bằng
Tóm lại, NSNN có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối và chức năng giám sát NSNN không thể cân đối được nếu như không thực hiện đầy đủ hai chức năng đó, bởi vì nếu không có sự giám sát, kiểm soát trong việc động viên khai thác hợp lý các nguồn thu sẽ dẫn đến tình trạng thất thu dưới nhiều hình thức Nếu không thực hiện tốt chức năng phân phối thì cũng không thể động viên được nguồn thu cho NSNN Do đó, cần phải coi trọng cả hai chức năng này và tổ chức chỉ đạo để các cơ quan chức năng thực hiện tốt hai chức năng đó của NSNN [24]
1.1.3 Vai trò của ngân sách nhà nước
NSNN có vai trò rất to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại Vai trò
đó thể hiện trên như là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước và là công cụ điều tiết vĩ mô kinh tế nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ môi trường
NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có vai trò quyết
Trang 22định sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Vai trò của NSNN được xác lập trên
cơ sở của chức năng và nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn cụ thể Phát huy vai trò của NSNN là thước đo đánh giá hiệu quả điều hành, lãnh đạo của Nhà nước NSNN có các vai trò chủ yếu sau:
- Với chức năng phân phối, NSNN có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu và thực hiện cân đối thu chi tài chính của Nhà nước
Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi mô hình kinh tế Nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ điều tiết toàn
bộ nền kinh tế - xã hội của mình
- NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế vĩ mô Nhà nước sử dụng NSNN như là công cụ chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường, giá cả cũng như giải quyết các nguy cơ tiền ẩn về bất ổn định kinh tế - xã hội Muốn thực hiện tốt vai trò này NSNN phải có quy mô đủ lớn để Nhà nước thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần phát triển kinh
tế, ổn định xã hội
- NSNN là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển bền vững Kinh tế thị trường phân phối nguồn lực theo phương thức riêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó Mặt trái của nó là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội Bên cạnh đó, do mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ sở hữu nguồn lực thường khai thác tối đa mọi nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bị hủy hoại, nhiều loại hàng hóa và dịch vụ xã hội cần nhưng khu vực tư nhân không cung cấp như hàng hóa công cộng Do đó, nếu để kinh tế thị trường tự điều chỉnh mà không có vai trò của Nhà nước thì sẽ phát triển thiếu bền vững Vì vậy Nhà nước sử dụng NSNN thông qua công cụ chính là chính sách thuế khóa và chi tiêu công để phân phối
Trang 23lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công trong xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái
Như vậy, vai trò của NSNN là rất lớn Nó đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương để duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước Tác động tích cực đến cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo cân đối hợp lý, góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế Điều tiết thị trường, ổn định giá cả và kiểm soát lạm phát, đó là điều tiết cung - cầu, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất và người tiêu dùng, thông qua các hình thức trực tiếp như chi ngân sách mua hàng hóa, dịch vụ để điều chỉnh tổng cầu, trợ giá, bình ổn giá; sử dụng thuế để tác động gián tiếp vào cung - cầu thông qua hạn chế hoặc khuyến khích Giải quyết các vấn đề xã hội như điều tiết, làm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập, hạn chế sự phân hóa giữa các tầng lớp nhân dân và góp phần vào thực hiện công bằng xã hội; thông qua các khoản chi tiêu Ngân sách nhà nước mà thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng và an sinh xã hội cho nhân dân, … [24]
1.1.4 Hệ thống ngân sách nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
1.1.4.1 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước [15]
Về cấp ngân sách, điều 9 của Luật NSNN CHDCND Lào số 71/QH ngày 16/12/2015 quy định hai cấp NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương
Đơn vị ngân sách cấp trung ương gồm các cơ quan của Chính phủ, Mặt trận xây dựng quốc gia CHDCND Lào, các tổ chức đoàn thể ở cấp trung ương Các cơ quan chính quyền trong tỉnh và thủ đô chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch ngân sách theo sự phân công của cấp trên
Đơn vị ngân sách cấp địa phương gồm các đơn vị khác ở trung ương và địa phương trực thuộc đơn vị ngân sách cấp trung ương, chịu trách nhiệm thực hiện NSNN theo sự chỉ đạo của cấp trên
Trang 24Có thể khái quát hệ thống NSNN ở CHDCND Lào qua sơ đồ sau:
- Các khoản thu bao gồm:
+ Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi nhuận và thu nhập lợi nhuận ròng từ các doanh nghiệp kinh doanh được quản lý;
+ Thuế xuất nhập khẩu;
+ Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi nhuận từ hàng hóa nhập khẩu;
+ Phí và lệ phí cho xuất nhập khẩu như bưu chính và hộ chiếu;
+ Doanh thu từ tài nguyên thiên nhiên như bán gỗ và khoáng sản;
+ Doanh thu hàng không, tiền bản quyền;
+ Thu nhập từ lãi cho vay;
+ Thu nhập cho thuê và các tài sản khác do cơ quan nhà nước trung ương
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Ngân sách tỉnh và thành phố
Ngân sách huyện
Ngân sách xã
Trang 25quản lý;
+ Doanh thu từ các quỹ nhà nước;
+ Doanh thu từ các tổ chức quản lý kỹ thuật do trung ương quản lý;
+ Doanh thu từ tiền phạt và bán hàng hóa phi pháp do trung ương quản lý; + Thu nhập viện trợ nước ngoài do trung ương quản lý;
+ Tài trợ và đóng góp cá nhân và tổ chức do trung ương quản lý;
+ Các khoản thu nhập hợp pháp khác;
+ Các khoản thu đối với các đơn vị kinh doanh là các tập đoàn lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia, các công ty sử dụng công nghệ cao sẽ được quy định trong các văn bản riêng
- Các khoản chi bao gồm:
+ Chi nhiệm vụ hành chính của chính phủ, Mặt trận xây dựng quốc gia CHDCND Lào và các tổ chức đoàn thể ở cấp trung ương;
+ Đầu tư công vào các đơn vị do trung ương quản lý;
+ Cho vay của Chính phủ;
+ Tài trợ;
+ Các khoản chi phí hợp pháp khác
Tại đơn vị ngân sách cấp địa phương, các khoản thu, chi gồm:
- Các khoản thu bao gồm các khoản thu NSNN ở cấp tỉnh và cấp huyện Khoản thu NSNN cấp tỉnh gồm có:
Trang 26+ Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi nhuận và thu nhập lợi nhuận ròng từ các doanh nghiệp quản lý cấp tỉnh;
+ Phí sử dụng đất (thuế đất), tiền thuê đất, quyền sử dụng và chuyển nhượng đất, phí đăng ký đất đai, thuế thu nhập cá nhân;
+ Doanh thu từ nhượng quyền khai thác, cát, đất đen và đỏ;
+ Tiền thuê, đất và các tài sản khác của nhà nước ở cấp tỉnh;
+ Doanh thu từ các quỹ tỉnh được quản lý;
+ Doanh thu từ phí và lệ phí kỹ thuật do cấp tỉnh quản lý;
+ Tiền phạt và doanh thu được thu ở cấp tỉnh;
+ Gây quỹ và đóng góp của cá nhân, pháp nhân, tổ chức ở cấp tỉnh;
+ Doanh thu từ hỗ trợ nước ngoài ở cấp tỉnh;
+ Thu nhập khác theo quy định của pháp luật
Khoản thu NSNN cấp huyện bao gồm:
+ Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi nhuận và thu nhập lợi nhuận ròng từ các đơn vị kinh doanh do huyện quản lý;
+ Thuế thu nhập, thuế gộp, thuế tem ở cấp huyện;
+ Phí sử dụng đất (thuế đất), tiền thuê đất, tiền bản quyền và chuyển nhượng đất ở cấp huyện;
+ Doanh thu từ nhượng quyền khai thác, cát, đen và đỏ ở cấp huyện;
+ Cho thuê, đất đai và tài sản thuộc sở hữu chính phủ khác ở cấp huyện; + Doanh thu từ phí và dịch vụ kỹ thuật do quận quản lý;
+ Tiền phạt và doanh thu được thu ở cấp huyện;
+ Thu nhập từ gây quỹ và đóng góp của các cá nhân, pháp nhân và tổ chức ở cấp huyện;
+ Thu nhập khác theo sự phân công của tỉnh và thủ đô
- Các khoản chi bao gồm:
Chi ngân sách cấp tỉnh gồm các nội dung chi:
+ Công tác hành chính của Chính phủ, Mặt trận xây dựng quốc gia
Trang 27CHDCND Lào, các tổ chức đoàn thể cấp tỉnh;
+ Giáo dục đại học;
+ Chi phí tại địa phương;
+ Đầu tư nhà nước ở cấp tỉnh
+ Chi tài trợ;
+ Các chi phí hợp pháp khác
Các nội dung chi ngân sách cấp huyện bao gồm:
+ Công tác hành chính của tổ chức, Mặt trận xây dựng quốc gia CHDCND Lào, tổ chức đoàn thể cấp huyện;
+ Dự phòng cho chính quyền địa phương ở cấp tỉnh;
+ Đầu tư nhà nước ở cấp huyện;
+ Các chi phí hợp pháp khác
1.1.4.2 Quy định về các nguồn thu, các mục chi ngân sách nhà nước
Các nguồn thu, các mục chi và cân đối NSNN của CHDCND Lào được quy định cụ thể trong các điều 14 đến 26, 46, 47, 48 của Luật NSNN CHDCND Lào số 71/QH ngày 16/12/2015 [15] Cụ thể:
- Có bốn nguồn thu NSNN, bao gồm:
+ Nguồn thu thuế: là nguồn thu chính của NSNN, bao gồm các khoản thu
về thuế trực tiếp và gián tiếp, gồm:
Thuế trực tiếp: Thuế lợi nhuận; Thuế thu nhập; Thuế dự phòng; Thuế môi trường; Lệ phí, phí kỹ thuật và các khoản Thu nhập khác
Thuế gián tiếp: Thuế giá trị gia tăng; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Tiền bản quyền; Thuế xuất nhập khẩu và các khoản Thu nhập khác
+ Nguồn thu phi thuế và phí, lệ phí: là các nguồn thu khác ngoài các
nguồn thu chính là thuế, bao gồm: Các nguồn thu từ cho thuê; Phí chuyển nhượng; Chi phí chuyến bay; Cổ tức; Phí khảo sát; Lãi suất thế chấp; Thu tiền phạt, thu bán đồ trang sức và máy may và các khoản thu nhập khác
+ Nguồn thu từ tài trợ: là các khoản nhận tài trợ từ chính phủ nước ngoài
Trang 28hoặc từ các tổ chức quốc tế bằng một trong hai hình thức tài trợ bằng tiền hoặc tài trợ bằng hiện vật,
+ Nguồn thu từ đóng góp xã hội: gồm các khoản thu từ các hoạt động
an sinh xã hội, các khoản thu từ các đóng góp của xã hội và các khoản thu
nhập khác
- Đối với chi NSNN: gồm hai mục chi chính: các chi tiêu cho hoạt động hành chính bình thường và các khoản chi đầu tư của nhà nước
+ Chi tiêu cho hoạt động hành chính bình thường: Là các khoản chi trực
tiếp và gián tiếp của các cơ quan Chính phủ, Mặt trận xây dựng quốc gia CHDCND Lào, các tổ chức đoàn thể, lực lượng quốc phòng và an ninh, gồm: Chi tiền lương và khoản phúc lợi; Chi chính sách và trợ cấp; Chi cho công tác quản lý và mua các dịch vụ mới của chính phủ; Chi phí điều tiết và khuyến mãi
và các chi phí tài chính khác mà chính phủ chịu trách nhiệm bao gồm: Nghĩa vụ đối với các tổ chức quốc tế; Chi phí lãi vay; Chi cho nhà ở Nhà nước; Các khoản chi nợ đọng của năm trước và các khoản chi phí khác
+ Các khoản chi đầu tư của nhà nước: bao gồm chi đầu tư vốn, chi cho
vay, chi đầu tư vào cơ sở hạ tầng, chi đầu tư vào cổ phiếu và chi mua tài sản cố
định có thời hạn sử dụng trên một năm
Ngoài ra, chi NSNN còn được phân loại theo các ngành, chương trình như sau:
Phân loại theo ngành: gồm các khoản chi cho giáo dục, y tế, kinh tế, văn hóa - xã hội, khoa học, môi trường, quản trị, quốc phòng - an ninh, phúc lợi xã hội và các ngành khác
Phân loại theo chương trình và dự án: gồm chi cho các chương trình và dự
án được thực hiện định kỳ, như phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo, sản xuất lương thực và an ninh lương thực và các chương trình khác
- Cân đối NSNN: gồm 3 trường hợp:
+ Trường hợp bội chi NSNN, mức bội chi NSNN hàng năm phải phù hợp
Trang 29với nhu cầu và năng lực của ngân sách quốc gia Mức thâm hụt phải được Chính phủ phê duyệt và sau đó trình lên Quốc hội để xem xét sử dụng các nguồn tài trợ, các khoản vay trong và ngoài nước bù đắp hoặc giảm chi tiêu nhằm đảm bảo giảm thâm hụt NSNN, các khoản bù đắp này chỉ dành cho các khoản chi đầu tư
Nếu trường hợp thu NSNN cấp tỉnh không đủ để đáp ứng chi tiêu mà Quốc hội đã phê duyệt, thu NSNN cấp huyện không đủ để đáp ứng chi tiêu mà Hội đồng nhân dân tỉnh đã phê duyệt, khi đó trình tự xử lý là sử dụng NSNN cấp trên để hỗ trợ NSNN cấp dưới, trong trường hợp này là NSNN trung ương sẽ hỗ trợ NSNN cấp tỉnh và NSNN cấp tỉnh sẽ hỗ trợ NSNN cấp huyện để đảm bảo chi tiêu hàng năm
+ Trường hợp thặng dư NSNN, phần NSNN thặng dư sẽ được Chính phủ quyết định chuyển vào Kho bạc Nhà nước hoặc tăng chi cho các công việc cần thiết
Nếu trường hợp ngân sách cấp tỉnh quản lý thặng dư so với ngân sách đã được Quốc hội phê chuẩn, phần thặng dư sẽ phải được chuyển về cho ngân sách trung ương, còn nếu ngân sách cấp huyện quản lý thặng dư so với ngân sách đã được Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt thì khoản thặng dư phải được chuyển vào NSNN cấp tỉnh quản lý
1.1.4.3 Trách nhiệm đối với Ngân sách nhà nước
Theo Luật NSNN CHDCND Lào, trách nhiệm đối với NSNN là của tất cả các đơn vị, tổ chức có liên quan đến NSNN, gồm: Quốc hội, Hội đồng nhân dân tỉnh, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ khác thuộc Chính phủ, Ngân hàng nhà nước, Chính quyền tỉnh và Thủ đô, Chính quyền cấp huyện và các đơn vị ngân sách [15]
Liên quan đến nội dung luận văn, tác giả sẽ trình bày chi tiết trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Tài chính, chính quyền cấp tỉnh và chính quyền cấp huyện
Cụ thể:
+ Trách nhiệm của Chính phủ:
Trang 30- Nghiên cứu, xem xét và trình Quốc hội về chính sách tiền tệ, chiến lược tài chính, kế hoạch ngân sách nhà nước trung hạn và hàng năm, sửa đổi kế hoạch ngân sách nhà nước hàng năm, mục tiêu phân bổ ngân sách, tỷ lệ thâm hụt ngân sách, tỷ lệ nợ công;
- Nghiên cứu, xem xét và đề xuất với Hội đồng quốc gia về kế hoạch chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, kế hoạch đầu tư công hàng năm
- Quyết định thông qua hay bãi bỏ ngân sách nhà nước;
- Ủy quyền cho Bộ Tài chính ban hành quy định và đo lường việc quản lý thu NSNN, thực hiện pháp luật một cách thống nhất trong cả nước
+ Trách nhiệm của Bộ Tài chính:
- Phối hợp với các cơ quan chính phủ và các cơ quan khác có liên quan trong việc thiết lập mục tiêu phân bổ ngân sách, chia sẻ thu chi, thiết lập các quy tắc ngân sách và kế toán, đóng ngân sách và công bố ngân sách và trình Chính phủ xem xét;
Trang 31- Tóm tắt ngân sách, quản lý việc thực hiện, đề xuất sửa đổi, đánh giá tình trạng thực hiện và lập bảng tóm tắt ngân sách công hàng năm;
- Vay để cân đối ngân sách trong năm tài chính;
- Tổ chức, quản lý thu ngân sách theo kế hoạch và vượt kế hoạch, thực hiện ngân sách hàng năm do Chính phủ giao;
- Chịu trách nhiệm liên lạc với các tổ chức tài chính nước ngoài, tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức khác liên quan đến các vấn đề tài chính, soạn thảo các thỏa thuận cho vay, hỗ trợ các ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế để Chính phủ xem xét;
- Quản lý các khoản vay, tài trợ và thực hiện trả nợ chính phủ như quy định trong hợp đồng;
- Chịu trách nhiệm quản lý, giám sát việc thực hiện ngân sách quốc gia trong cả nước, kiểm tra tất cả các doanh nghiệp nhà nước, tư nhân và công cộng,
cơ quan ngân sách, quỹ chính phủ, cơ quan kỹ thuật và cơ quan trong việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách;
- Quản lý kho bạc, quỹ nhà nước, tài sản, nợ và tài sản công của Nhà nước;
- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xác định ngân sách và nguồn tài trợ cho các kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm sử dụng các nguồn vốn trong và ngoài nước;
- Phối hợp với chính quyền trung ương và địa phương để xây dựng kế hoạch ngân sách nhà nước hàng năm, đề xuất sửa đổi ngân sách hàng năm để trình chính phủ xem xét;
- Giám sát, theo dõi việc thực hiện ngân sách thu chi theo các số liệu được Quốc hội thông qua và theo sự phân công của Chính phủ;
- Tiến hành tóm tắt về việc thực hiện ngân sách nhà nước hàng năm để báo cáo cho cơ quan Kiểm toán Nhà nước đúng hạn
+ Trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh:
Trang 32- Xây dựng và lãnh đạo việc thực hiện kế hoạch chiến lược hàng năm và năm năm của quốc gia và tỉnh, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia, phù hợp với hiện trạng về nguồn lực và năng lực;
- Chỉ đạo các sở, huyện chịu trách nhiệm xây dựng, soạn thảo và hoàn thiện kế hoạch NSNN hàng năm và năm năm, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo bình đẳng giới, phù hợp với ngân sách và luật pháp của Quốc hội;
- Quản lý, giám sát, chỉ đạo giám sát tất cả các cơ quan liên quan trong tỉnh, thủ đô một cách kịp thời, đầy đủ;
- Tạo điều kiện và giám sát việc thực hiện các khoản tài trợ và chương trình đầu tư do cơ quan quản lý trung ương quản lý để thúc đẩy đầu tư của tất cả các thành phần kinh tế trong và ngoài nước trong phạm vi quyền hạn tương ứng;
- Chỉ đạo địa phương thu thập dữ liệu thu ngân sách đầy đủ và rõ ràng để báo cáo cho bộ phận thu của Bộ Tài chính;
- Quản lý, chỉ đạo, theo dõi và giám sát thu ngân sách theo nhiệm vụ và trách nhiệm của mình để đảm bảo nguyên tắc NSNN hoàn chỉnh, thống nhất, công bằng, cởi mở và hợp pháp;
- Quản lý, chỉ đạo, theo dõi và giám sát trước và sau khi thực hiện kế hoạch ngân sách đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm và chính xác;
- Phối hợp với Bộ Tài chính quản lý, chỉ đạo, theo dõi, giám sát thu ngân sách, thực hiện kế hoạch ngân sách của tỉnh, thủ đô;
- Quản lý, giám sát hoạt động của cán bộ tài chính, đề nghị Bộ Tài chính
bổ nhiệm, điều chuyển hoặc bãi nhiệm cán bộ tài chính thuộc quản lý của Bộ Tài chính;
- Tạo điều kiện, khuyến khích và giám sát việc thực hiện của nhân viên hải quan, thuế và kho bạc địa phương
+ Trách nhiệm của chính quyền cấp huyện:
- Xây dựng và lãnh đạo thực hiện kế hoạch chiến lược hàng năm và năm
Trang 33năm, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp huyện căn cứ theo kế hoạch chiến lược của tỉnh, thủ đô căn cứ vào tiềm năng và năng lực thực tế của huyện;
- Giám sát các văn phòng huyện trong việc lập kế hoạch, phân bổ, thực hiện kế hoạch và hoàn thiện kế hoạch ngân sách theo quy định của pháp luật;
- Quản lý và thực hiện kế hoạch thu NSNN, chỉ đạo, kiểm soát các cơ quan liên quan nhằm đảm bảo thu NSNN chính xác, kịp thời và minh bạch trong huyện;
- Phối hợp với Sở Tài chính tỉnh, thủ đô thực hiện chỉ đạo, quản lý, theo dõi và giám sát việc thu ngân sách và thực hiện ngân sách huyện;
- Giám sát, theo dõi công việc của cán bộ tài chính, phối hợp với tỉnh, thủ đô thực hiện bổ nhiệm, điều chuyển hoặc bãi nhiệm cán bộ tài chính theo quy định;
- Tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo và giám sát các hoạt động của nhân viên tài chính tại mỗi văn phòng huyện, thực hiện các chức năng của tài chính cấp làng xã;
- Tạo điều kiện, khuyến khích và giám sát việc thực hiện của nhân viên hải quan, thuế và kho bạc ở cấp huyện
1.1.5 Ngân sách nhà nước cấp tỉnh trong hệ thống Ngân sách nhà nước của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Luật NSNN CHDCND Lào số 71/QH ngày 16/12/2015 quy định về cơ cấu NSNN, trong đó NSNN cấp tỉnh là đơn vị NSNN trung tâm trong hệ thống NSNN quốc gia thuộc Chính phủ nước CHDCND Lào, với cấp NSNN cấp trên
là các đơn vị NSNN trung ương và cấp NSNN cấp dưới là các đơn vị NSNN huyện, xã [15]
Có thể thấy NSNN cấp tỉnh giữ vai trò chủ đạo vì đây là nguồn ngân sách
để thực hiện các chủ trương lớn, các nhiệm vụ quan trọng như: tập trung vốn đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, thực hiện các chính sách quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, điều hoà nguồn lực tài chính trên địa bàn
Trang 34tỉnh
NSNN cấp tỉnh được xem là cầu nối, là mắt xích quan trọng trong hệ thống NSNN quốc gia tại CHDCND Lào, khi đồng thời thực hiện chức năng chỉ đạo, giám sát các cơ quan, đơn vị từ cấp xã, đến huyện, đến tỉnh trong việc lập
dự toán, điều chỉnh dự toán NSNN, thực hiện NSNN đã được phê duyệt và song song phối hợp với Bộ Tài chính để nhận chỉ đạo, báo cáo kết quả công tác lập
dự toán NSNN, kết quả thực hiện NSNN đã được phê duyệt của tỉnh đến Chính phủ
1.2 NỘI DUNG LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH THUỘC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
1.2.1 Tổng quan về lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước
1.2.1.1 Nguyên tắc cơ bản lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước
Tiền đề cho các cơ quan quản lý nhà nước xác định tổng mức thu, chi trong năm tới của quốc gia, từ đó đưa ra các kế hoạch hành động, chiến lược cụ thể để thực mục tiêu đề ra chính là dự toán thu, chi NSNN Vì vậy, lập dự toán thu, chi NSNN cần phải được thực hiện theo các nguyên tắc nhất định nhằm đảo bảo sự nhất quán, hiệu quả Điều 52 Luật NSNN CHDCND Lào số 71/QH ngày 16/12/2015 quy định, để lập dự toán thu, chi NSNN hàng năm, cần thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Dự toán thu, chi NSNN cần phải được lập dựa trên một kế hoạch tài chính trung hạn, dài hạn đã được cơ quan có thẩm quyền thông qua;
- Việc lập dự toán thu, chi NSNN cần phải tuân thủ theo mức tăng trưởng kinh tế quốc gia và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia định kỳ để đảm bảo sự ổn định tài chính;
- Công tác lập dự toán thu, chi NSNN cần phải thực hiện theo nguyên tắc tập trung, dân chủ với sự tham gia của tất cả các ngành liên quan Việc lập dự toán thu, chi NSNN địa phương phải thông qua Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo
Trang 35quy định của pháp luật;
- Việc lập dự toán thu, chi NSNN được thực hiện tại các đơn vị ngân sách phải tuân theo chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Tài chính Đối với các cơ quan, ban ngành thực hiện quản lý theo chiều dọc thì phải lập dự toán thu, chi NSNN theo ngành dọc của mình từ cấp trung ương đến cấp địa phương [15];
- Việc lập dự toán thu, chi NSNN trung ương và địa phương (cấp tỉnh/huyện) phải đảm bảo rằng các nguyên tắc phân cấp phải được tuân thủ theo đúng quy định pháp luật hiện hành để dự toán không bị trùng lặp, đảm bảo đầy
đủ các thủ tục và đúng thời hạn theo quy định [2]
1.2.1.2 Cơ sở lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước
Tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, việc lập dự toán thu, chi NSNN cấp tỉnh được Sở Tài chính thực hiện căn cứ trên các hướng dẫn tại các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, UBND tỉnh
Về phía văn bản luật, việc lập dự toán thu, chi NSNN các cấp đều phải tuân thủ theo các luật về ngân sách của Quốc hội
Về phía các văn bản dưới luật, việc lập dự toán thu, chi NSNN sẽ căn cứ vào các Nghị quyết về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Quốc hội, Nghị định quy định về lập dự toán của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính và Quyết định của UBND tỉnh
về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và NSNN của tỉnh
1.2.1.3 Phương pháp lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước
Nhằm đảm bảo sự tập trung, dân chủ và có sự tham gia của tất cả các cơ quan, ban ngành trong tất cả các lĩnh vực có liên quan khi lập dự toán thu, chi NSNN, phương pháp lập dự toán thu, chi NSNN được thực hiện theo phương thức kết hợp tiếp cận từ trên xuống và tiếp cận từ dưới lên
Cách tiếp cận từ trên xuống: Các cơ quan cấp trên từ Quốc hội, Chính Phủ, Bộ Tài chính và UBND các tỉnh căn cứ vào kế hoạch tài chính, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn đã thông qua, kết hợp với các nguồn
Trang 36lực hiện có và số liệu về công tác thực hiện thu, chi NSNN thực tế của năm trước, tiến hành giao kế hoạch tổng thể về thu, chi NSNN năm tới cho cơ quan cấp dưới
Cách tiếp cận từ dưới lên: Căn cứ vào các hướng dẫn của cơ quan cấp trên
và tình hình thực tế tại đơn vị, tại địa phương, cơ quan cấp dưới đưa ra các đề xuất, góp ý, kiến nghị về các nội dung thuộc công tác lập dự toán thu, chi NSNN
và trình lên cơ quan cấp trên xem xét phê duyệt
1.2.1.4 Quy trình lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước
Theo Điều 56 Luật NSNN CHDCND Lào số 71/QH ngày 16/12/2015, các bước của quy trình lập dự toán thu, chi NSNN tại CHDCND Lào được quy định
cụ thể như sau [15]:
- Bước 1: tháng 3 hàng năm, Thủ tướng ban hành Nghị định về xây dựng
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và NSNN cho năm sau căn cứ vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn đã được Quốc hội thông qua Trên cơ
sở đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính ra chỉ đạo về việc lập dự toán thu, chi NSNN hàng năm và công bố dự báo trần ngân sách trung hạn cho các cấp từ trung ương đến địa phương làm cơ sở cho việc lập dự toán;
- Bước 2: Các cơ quan Chính phủ và đơn vị liên quan khác ở cấp trung ương phối hợp với các ủy ban thuộc Quốc hội và các ủy ban khác có liên quan
để nghiên cứu, xây dựng và phân bổ dự toán thu, chi NSNN thuộc phạm vi phụ trách Các cơ quan Chính phủ và đơn vị liên quan khác ở cấp địa phương phối hợp với HĐND tỉnh và các ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng và phân bổ dự toán thu, chi NSNN thuộc phạm vi phụ trách, bao gồm cả các đơn vị ngân sách cấp dưới Dự toán thu, chi NSNN phải căn cứ vào kế hoạch thu, chi thường xuyên, tách ra cho từng đơn vị ngân sách nhà nước, từng Sở, huyện, tỉnh
- Bước 3: Sau khi tổng hợp xong dự toán thu, chi NSNN, các cấp trung ương và địa phương chuyển dự toán cho Bộ Tài chính trước ngày 30 tháng 6 hàng năm;
Trang 37- Bước 4: Bộ Tài chính tổng hợp, tóm tắt dự toán thu, chi NSNN trong cả nước từ các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương để nghiên cứu và phân bổ ở cấp độ vĩ mô và sau đó trình lên Chính phủ xem xét, phê duyệt vào tháng 7 hàng năm;
- Bước 5: Chính phủ xem xét, phê duyệt dự toán thu, chi ngân sách quốc gia và chính thức trình lên Quốc hội để phê duyệt với thời hạn tối thiểu là hai mươi ngày trước ngày khai mạc Đại hội thường niên lần thứ hai trong năm của Quốc hội;
- Bước 6: Sau khi Quốc hội xem xét, phê duyệt và ban hành Nghị quyết
về dự toán thu, chi ngân sách quốc gia, Chính phủ thực hiện ban hành Nghị định
về thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán thu, chi ngân sách quốc gia hàng năm trước ngày 15 tháng 11
Căn cứ vào các văn bản này, trong vòng 15 ngày kể từ ngày được Quốc hội thông qua dự toán thu, chi NSNN, Bộ Tài chính ban hành văn bản thông báo trần ngân sách và hướng dẫn thực hiện cho tất cả các cơ quan, đơn vị có liên quan từ trung ương đến địa phương, thực hiện hoàn thành trước ngày 30 tháng
11 hàng năm;
- Bước 7: Các Bộ, cơ quan trung ương chuyển dự toán thu, chi NSNN đã được Quốc hội thông qua cho các đơn vị NSNN do mình quản lý và sau đó báo cáo cho Cục NSNN thuộc Bộ Tài chính
Sở Tài chính tỉnh, thủ đô và các Sở có liên quan thuộc tỉnh chuẩn bị dự toán thu, chi NSNN chi tiết để báo cáo lên UBND tỉnh, sau đó trình lên HĐND tỉnh phê duyệt ngân sách hàng năm của tỉnh, thủ đô tại cuộc họp HĐND tỉnh Sở Tài chính tỉnh công bố dự toán thu, chi NSNN đã được HĐND tỉnh phê duyệt cho tất cả các Sở, huyện và cơ quan có liên quan để thực hiện theo quy định và đồng thời gửi báo cáo lên Bộ Tài chính
Tất cả các công việc gồm gửi dự toán thu, chi NSNN chi tiết cho các cơ quan, đơn vị liên quan và báo cáo kết quả việc giao dự toán lên cho Bộ Tài
Trang 38chính của các cấp từ trung ương đến địa phương phải được thực hiện trước ngày 30 tháng 11 hàng năm Bộ Tài chính sau đó tổng hợp và báo cáo lên Chính phủ
1.2.1.5 Sửa đổi dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước
Việc sửa đổi dự toán thu, chi NSNN được quy định tại Điều 51 và 59 Luật NSNN CHDCND Lào số 71/QH ngày 16/12/2015 như sau:
Việc sửa đổi dự toán thu, chi NSNN hàng năm có thể được thực hiện một lần mỗi năm tài chính trong trường hợp có sự thay đổi ngân sách vượt mức hoặc
do thay đổi chính sách hoặc sự kiện bất ngờ ảnh hưởng đến thu, chi NSNN hàng năm, cụ thể:
- Sau khi thực hiện dự toán thu, chi NSNN hàng năm trong hơn sáu tháng
và tổng nguồn thu ước tính thấp hơn dưới 5% so với tổng dự toán thu, NSNN,
Bộ Tài chính đề xuất nguồn tài trợ để bù đắp hoặc giảm chi ngân sách để Chính phủ xem xét và báo cáo Quốc hội
- Trong trường hợp tổng nguồn thu NSNN không đạt dự toán NSNN hàng năm từ 5% trở lên, Bộ Tài chính phải đề xuất Chính phủ trình Quốc hội xem xét sửa đổi dự toán thu, chi NSNN
Việc sửa đổi dự toán thu, chi NSNN hàng năm cũng giống như quy trình phê duyệt NSNN hàng năm [15]
1.2.2 Lập dự toán thu, chi Ngân sách nhà nước tại Sở Tài chính tỉnh
Lập dự toán thu, chi NSNN tại Sở Tài chính tỉnh thuộc CHDCND Lào được thực hiện theo trình tự:
1) Tháng 3 hàng năm, sau khi nhận được các nghị quyết, văn bản và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội và lập dự toán thu, chi NSNN cho năm sau, UBND tỉnh thực hiện giao nhiệm vụ cho Sở Tài chính tỉnh triển khai thực hiện lập dự toán thu, chi NSNN cho năm sau
2) Tiếp theo đó, Giám đốc Sở Tài chính giao nhiệm vụ cho Phó Giám đốc
Trang 39Sở phụ trách Phòng NSNN trực tiếp thực hiện Phòng NSNN sau đó sẽ ban hành thông báo triển khai lập dự toán thu, chi NSNN và phương án phân bổ NSNN cho tất cả các sở ban ngành và các đơn vị có liên quan trong tỉnh thực hiện
3) Các cơ quan và đơn vị liên quan trong tỉnh phối hợp với HĐND tỉnh và các đơn vị liên quan thực hiện nghiên cứu, xây dựng và phân bổ dự toán thu, chi NSNN thuộc đơn vị mình phụ trách, bao gồm cả các đơn vị ngân sách cấp dưới trực tiếp quản lý Dự toán thu, chi NSNN phải được lập căn cứ vào các Nghị quyết, Thông tư, văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về lập dự toán thu, chi NSNN của Chính phủ, Bộ Tài chính, Phòng NSNN và tách ra cho từng đơn vị NSNN, từng
Sở, huyện
4) Sau khi nhận toàn bộ kết quả lập dự toán thu, chi NSNN do các cơ quan ban ngành trong tỉnh gửi lên, Phòng NSNN thực hiện tổng hợp và báo cáo lên Giám đốc Sở Tài chính
5) Giám đốc Sở Tài chính sau khi xem xét, phê duyệt sẽ báo cáo dự toán thu, chi NSNN toàn tỉnh lên UBND tỉnh để xem xét, kiểm tra, yêu cầu điều chỉnh Sau khi chấp nhận số liệu dự toán thu, chi NSNN, UBND tỉnh lập báo cáo gửi lên Bộ Tài chính để kiểm tra, xem xét, trình lên Chính phủ và sau đó Chính phủ trình lên Quốc hội phê duyệt
6) Sau khi nhận được văn bản của Bộ Tài chính về dự toán thu, chi NSNN năm sau đã được Quốc hội thông qua, UBND tỉnh giao cho Sở Tài chính tỉnh phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan ban ngành liên quan thuộc tỉnh chuẩn bị dự toán thu, chi NSNN chi tiết của tỉnh bao gồm cả phương án và
số liệu phân bổ ngân sách cụ thể cho từng đơn vị, sở ban ngành trong tỉnh Sau khi hoàn thành, Sở Tài chính tỉnh lập báo cáo trình lên UBND tỉnh và sau đó UBND tỉnh trình lên HĐND tỉnh phê duyệt dự toán thu, chi NSNN hàng năm của tỉnh tại cuộc họp HĐND tỉnh
7) Sau khi được HĐND tỉnh thông qua, Sở Tài chính tỉnh thực hiện công bố dự toán thu, chi NSNN đến tất cả các Sở, huyện và cơ quan ban
Trang 40ngành có liên quan trong tỉnh để thực hiện theo quy định và đồng thời gửi báo cáo lên Bộ Tài chính
1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ LẬP DỰ TOÁN THU, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP TỈNH
Tại CHDCND Lào, các văn bản liên quan đến lập dự toán thu, chi NSNN còn chưa cụ thể và chưa kịp thời, vì vậy đã gây lúng túng cho Sở Tài chính cũng như các cơ quan đơn vị khi lập dự toán Do vậy, bài học kinh nghiệm rút ra từ việc lập dự toán thu, chi NSNN tại Việt Nam có thể áp dụng tại Sở Tài chính tỉnh thuộc CHDCND Lào như sau:
Thứ nhất, cần bám sát văn bản luật của Quốc hội để việc lập dự toán đúng và hợp lý, hợp lệ
Thứ hai, căn cứ vào chỉ thị của Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm sau; Thông tư hướng dẫn của
Bộ Tài chính về lập dự toán ngân sách; bám sát tình hình phát triển kinh tế -
xã hội cũng như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và nguồn NSNN được cấp để phân bổ cho hợp lí giữa thu và chi, giữa các nhiệm vụ trọng tâm
và không trọng tâm, giữa kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn Trong đó lưu ý: mức độ tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Thứ ba, cần phân bổ NSNN cân đối cho các cơ quan đơn vị và có hướng dẫn cụ thể để các cơ quan đơn vị lập dự toán thu, chi sát nhất với số được phân bổ
Thứ tư, căn cứ vào tình hình thực hiện dự toán ngân sách năm trước, đặc biệt là năm báo cáo