1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lớp học phần : Kinh tế quốc tế Chủ đề : Lý thuyết HECKSCHEROHLIN Phân tích những ưu điểm, nhược điểm của lý thuyết HO. Việt Nam đã ứng dụng lý thuyết HO như thế nào trong việc định hướng sản xuất và thương mại của quốc gia. Đưa ra nhận xét.

34 217 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 606,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI NÓI ĐẦU

  • 1. Lý thuyết H-O

    • 1.1 Cơ sở hình thành :

    • 1.2 Nội dung :

    • 1.3 Mô hình H-O:

      • 1.3.1 Các giả thiết :

      • 1.3.2 Tính thâm dụng yếu tố sản xuất

      • 1.3.3 Yếu tố dư thừa:

    • 1.4. Ưu điểm và nhược điểm:

      • 1.4.1 Ưu điểm :

      • 1.4.2 Nhược điểm :

  • 2. Ứng dụng lý thuyết H-O với Việt Nam:

    • 2.1. Ứng dụng lý thuyết H-O trong việc xuất khẩu

      • 2.1.1. Theo lý thuyết H-O, Việt Nam sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất

      • 2.1.2. Thực trạng về cơ cấu xuất khẩu ở VN hiện nay:

      • 2.1.3. Tại sao lại có xu hướng chuyển dịch trong cơ cấu xuất khẩu:

      • 2.1.4. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực và thị trường mà các mặt hàng này hướng tới:

    • 2.2. Ứng dụng lý thuyết H-O trong nhập khẩu

    • 2.3. Định hướng của nhà nước trong phát triển thương mại trong thời gian tới

      • 2.3.1. Định hướng về xuất khẩu gắn với vận dụng lý thuyết H-O

      • 2.3.2. Định hướng về nhập khẩu gắn với vận dụng lý thuyết H-O

  • 3. Nhận xét

  • 4. KẾT LUẬN

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦUMô hình Heckscher-Ohlin, nhiều khi được gọi tắt là Mô hình H-O, là một mô hình toán cânbằng tổng thể trong lý thuyết thương mại quốc tế và phân công lao động quốc tế dùng để d

Cơ sở hình thành

Một mô hình toán cân bằng tổng thể trong lí thuyết thương mại quốc tế và phân công lao động quốc tế dung để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sản xuất sẵn có của quốc gia Mô hình ban đầu do Heckscher và Ohlin xây dựng chưa phải là mô hình toán, chỉ giới hạn với hai quốc gia, hai loại hàng hóa có thể đem trao đổi quốc tế và hai loại yếu tố sản xuất (đây là hai biến nội sinh) Vì thế mô hình ban đầu còn được gọi là Mô hình

Về sau, Paul Samuelson là người đầu tiên áp dụng toán học vào mô hình này, nên nó được gọi là Mô hình Heckscher-Ohlin-Samuelson (H-O-S) Jaroslav Vanek sau đó mở rộng mô hình để áp dụng cho nhiều quốc gia và nhiều sản phẩm, vì vậy nó cũng được biết đến với tên Mô hình Heckscher-Ohlin-Vanek (H-O-Vanek).

Mô hình Heckscher-Ohlin phiên bản 2 x 2 x 2 sử dụng hàm Cobb-Douglass vì nó phù hợp với giả thiết về lợi tức theo quy mô không đổi.

Mô hình đưa ra những kết luận sau: Nước nào có nhiều yếu tố đầu vào nào hơn thì nước đó sẽ xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố đầu vào đó và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố đầu vào kia Kết luận này được kinh tế học gọi là Định lý Heckscher-Ohlin.

Nội dung

 Yếu tố thương mại giữa các nước : Một mặt hàng cần tỉ lệ các yếu tố đầu vào. Mức độ dồi dào và rẻ của các yếu tố sản xuất.Thương mại quốc tế sẽ làm cho mức lương của lao động đồng nhất và lợi suất của vốn đồng nhất là bằng nhau giữa các quốc gia tham gia thương mại quốc tế.

Quốc gia 1 chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm X – sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố mà quốc gia một dư thừa tương đối, giảm sản xuất sản phẩm Y- sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố mà quốc gia 1 khan hiếm tương đối Do vậy, cầu tương đối về lao động tăng -> tiền lương tăng, trong khi đó, cầu tương đối về vốn giảm -> lãi suất tăng.

Thương mại quốc tế thay đổi cơ cấu lao động và mức thu nhập ở các nước bằng cách điều chỉnh nhu cầu lao động và mức cạnh tranh Tại nước 1, vốn có giá công nhân rẻ, hoạt động xuất khẩu làm tăng nhu cầu tuyển dụng và đẩy tiền lương lên Trong khi đó, tại nước 2, nơi giá công nhân cao hơn, sự cạnh tranh từ hàng hoá nhập khẩu làm giảm nhu cầu lao động và kéo giảm mức lương Hiệu ứng này phản ánh cách toàn cầu hóa phân bổ lại nguồn lực giữa các nước, tác động trực tiếp tới thu nhập và mức sống của người lao động tùy thuộc vào điều kiện lao động và ngành nghề.

 Xuất khẩu hàng hóa dồi dào và nhập khẩu hàng hóa thiếu hụt: Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tố sản xuất dồi dào và rẻ của quốc gia đó và nhập khẩu những mặt hàng mà việc sản xuất đòi hỏi sử dụng nhiều một cách tương đối yếu tô khan hiếm và đắt của quốc gia đó. Tóm lại quốc gia dồi dào về lao động nên xuất khẩu những sản phẩm sử dụng nhiều lao động một cách tưng đối và nhập khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều vốn một cách tương đối.

Năng suất giữa các nước là khác nhau : Dựa vào mức độ sẵn có và dồi dào hay khan hiếm của các nguồn lực trong nước Bên cạnh đó còn dựa vào năng lực lao động của người lao động ở nước đó Một nền kinh tế có lợi thế so sánh trong việc sản xuất và do đó sẽ xuất khẩu, sản phẩm thâm dụng các yếu tố sản xuất mà nó dồi dào một cách tương đối và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng các yếu tố mà nó khan hiếm một cách tương đối.

Mô hình H-O

Các giả thiết

 2 quốc gia – 2 yếu tố sản xuất – 2 mặt hàng

Thế giới chỉ có 2 quốc gia có hai loại hàng hóa X và Y và chỉ có 2 yếu tố lao động và vốn

 Công nghệ sản xuất là như nhau giữa hai quốc gia.

Hai quốc gia sử dụng công nghệ sản xuất hàng hóa giống nhau

 Hàng hóa X có hàm lương lao động lớn hơn so với hàng hóa Y và hàng hóa Y có hàm lượng vốn lớn hơn so với hàng hóa X

Nghĩa là sản phẩm X đòi hỏi nhiều lao động hơn tư bản, sản phẩm Y ngược lại Nói cách khác tỉ lệ lao động trên tư bản ( L/K) cao hơn ở sản phẩm X so với Y ở cả hai quốc gia cùng một giá cả yếu tố.

 Hiệu suất không đổi theo quy mô.

Khi tăng đầu vào lên n lần thì chúng ta có đầu ra tăng lên gấp n lần

 Chuyên môn hóa là không hoàn hảo ở 2 quốc gia

Ta thấy các lí thuyết khác ủng hộ việc chuyên môn hóa hoàn toàn sản phẩm có lợi thế của mình Nhưng tại đây theo Ohlin để hai quốc gia đạt tới hiệu quả sản xuất tốt nhất thì không nên chuyên môn hóa hoàn hoàn Ngay cả khi mậu dịch, hai quốc gia vẫn tiếp tục sản xuất hai sản phẩm.

 Sở thích là giống nhau giữa hai quốc gia

Vị trí và hình dạng của đường bàng quang đồng nhất ở cả hai quốc gia Vì vậy khi giá cả sản phẩm so sánh là bằng nhau hai quốc gia sẽ tiêu dung hai sản phẩm X và Y cùng tỉ lệ.

 Cạnh tranh hoàn hảo trên tất cả các thi trường

 Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong quốc gia nhưng không thể di chuyển giữa các quốc gia

Trong phạm vi của mỗi quốc gia, lao động và tư bản tự do di chuyển từ vùng này sang vùng khác, nghành này sang nghành khác, những nơi có tiền công thấp hơn sang những nơi có tiền công cao hơn Quá trình cứ tiếp tục cho đến tiền lương cho chính một loại lao động và tư bản giống nhau ở mọi miền và mọi nghành của đất nước.

 Thương mại hoàn toàn tự do

 Thương mại quốc tế giữa hai quốc gia là cân bằng

Xuất khẩu nước này là nhập khẩu của nước kia

 Tất cả các nguồn lực đều được sử dụng hoàn toàn ở cả hai quốc gia.

Tính thâm dụng yếu tố sản xuất

Thâm dụng yếu tố được xem như một biểu hiện của lợi thế so sánh ở mức độ tương đối giữa hai sản phẩm X và Y, dựa trên hai yếu tố sản xuất là lao động và tư bản Trong phạm vi so sánh giữa X và Y, Y được gọi là sản phẩm thâm dụng tư bản khi tỉ lệ K/L trong quá trình sản xuất Y cao hơn tỉ lệ K/L của X, tức là Y đòi hỏi nhiều tư bản trên mỗi đơn vị lao động hơn X Nhờ sự nhận diện này, doanh nghiệp có thể tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và chi phí sản xuất giữa hai sản phẩm, đồng thời nắm bắt cơ hội lợi thế so sánh dựa trên mức độ thâm dụng yếu tố của từng sản phẩm.

Ta lấy ví dụ sản xuất gạo và thép như sau :

Gạo thâm dụng lao động hơn thép vì mỗi đơn vị tư bản bỏ ra để sản xuất gạo đòi hỏi nhiều lao động hơn so với thép, nên tỉ suất lao động tư bản trong sản xuất thép cao hơn gạo Do đó cần xác định rõ đâu là sản phẩm thâm dụng lao động và đâu là sản phẩm thâm dụng tư bản Có lúc dù một sản phẩm sử dụng một lượng vốn tuyệt đối lớn hơn nhưng vẫn là thâm dụng lao động và ngược lại Ví dụ: để sản xuất 1 đơn vị X cần 3 đơn vị vốn và 12 đơn vị lao động, còn để sản xuất 1 đơn vị Y chỉ cần 2 đơn vị vốn và 2 đơn vị lao động; vì vậy K/L của Y lớn hơn K/L của X nên Y được xem là sản phẩm thâm dụng tư bản.

 Tính thâm dụng yếu tố, giống như lợi thế so sánh, là một điều kiện tương đối Khi gạo thâm dụng lao động hơn thép thì tự động suy ra thép thâm dụng tư bản hơn gạo.

Yếu tố dư thừa

Có hai cách xác định yếu tố dư thừa trong một quốc gia:

 Dư thừa về mặt vật thể : Sử dung số lượng lao động và tư bản sẵn có trong nước ( chỉ dựa vào nguồn cung yếu tố) Một quốc gia là thừa tư bản nếu K/L cao hơn quốc gia khác, do đó có thể xảy ra trường hợp một quốc gia có ít tư bản hay lao động hơn quốc gia kia vẫn là dư thừa tư bản hay lao động.

Trong lý thuyết kinh tế này, dư thừa được xem ở hai dạng chính: dư thừa lao động và dư thừa tư bản, dựa trên tỉ suất tiền lương và lãi suất ở trạng thái cân bằng tự cung tự cầu, tức sự tác dụng qua lại của cung cầu Một quốc gia được coi là thừa tư bản khi giá tư bản trên lao động của nước ấy thấp hơn so với nước khác Giá tư bản được xác định bởi lãi suất (r), trong khi giá lao động được xác định bởi tiền lương (w) Do đó, giá tư bản trên lao động bằng lãi suất trên tiền lương.

 Trong mô hình H-O : Các nước xuất khẩu sản phẩm sử dụng yếu tố dư thừa và nhập khẩu sử dụng yếu tố khan hiểm.

Ưu điểm và nhược điểm

Ưu điểm

Trong kinh tế học hiện đại, lý thuyết H-O được đánh giá là một trong những lý thuyết mạnh nhất, vì một số lý do sau đây:

Thứ nhất, lý thuyết này đưa ra được cách giải thích khoa học, chặt chẽ và có tính lôgíc cao về nguồn gốc lợi thế so sánh và thương mại giữa các quốc gia

Lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ricardo sang đầu thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã thể hiện những hạn chế của nó Cơ sở lý luận của lý thuyết H-O chính là dựa vào lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo nhưng ở trình độ cao hơn là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất (các nguồn lực sản xuất ) Và do vậy, lý thuyết H-O còn được gọi là “lý thuyết lợi thế so sánh các nguồn lực sản xuất vốn có”. Thuyết này đã kế thừa và phát triển một cách logic các yếu tố khoa học trong lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo và các lý thuyết cổ điển trước đó về thương mại quốc tế Quy luật H-O là quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế và được nhiều quốc gia vận dụng trong hoạch định chính sách thương mại quốc tế Sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có theo thuyết H-O sẽ là điều kiện cần thiết để các nước đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác thương mại quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này.

Trên thực tế, Việt Nam được xem là nước có lợi thế tương đối về lao động, do đó nước ta tập trung sản xuất và xuất khẩu mặt hàng vải – một sản phẩm có hàm lượng lao động cao Trong khi đó, Nhật Bản có lợi thế tương đối về vốn, nên nước này sản xuất và xuất khẩu thép – mặt hàng đòi hỏi vốn đầu tư lớn.

Thứ hai, lý thuyết H-O là công cụ nghiên cứu hết sức hữu ích đối với kinh tế học quốc tế Với các giả thiết đơn giản và dựa trên khái niệm về mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất, lý thuyết này không chỉ dự báo cơ cấu sản xuất và thương mại giữa các quốc gia mà còn cho phép nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giá cả các yếu tố sản xuất, tác động của tăng trưởng các yếu tố sản xuất đến quy mô sản xuất và thương mại, cũng như ảnh hưởng của thương mại đến quá trình phân phối thu nhập trong mỗi quốc gia.

Trong số các giả thiết cơ bản của lý thuyết H-O, có hai khái niệm được coi là then chốt đối với lý thuyết H-O - đó là khái niệm về hàm lượng các yếu tố sản xuất và và khái niệm về mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất Dựa trên hai khái niệm về hàm lượng các yếu tố và mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất, nội dung của lý thuyết H-O có thể được phát biểu khái quát : Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất dồi dào tương đối, và nhập khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất khan hiếm tương đối của quốc gia đó Theo lý thuyết H-O chính sự khác biệt về hàm lượng các yếu tố đầu vào (được sử dụng để sản xuất các mặt hàng), và sự khác biệt về tổ hợp tương đối các nguồn lực là nguyên nhân dẫn đến lợi thế so sánh của các quốc gia trong việc sản xuất các mặt hàng khác nhau, từ đó giúp giải thích được nguyên nhân, cơ cấu, cũng như luồng thương mại giữa các quốc gia.

Thương mại quốc tế không chỉ tác động đến giá cả hàng hóa trao đổi giữa các quốc gia, mà còn làm thay đổi giá cả các yếu tố được sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa đó Đề cập đến mối liên hệ giữa thương mại quốc tế và giá cả các yếu tố, trên cơ sở những giả thiết có bản của lý thuyết H-O, nhà kinh tế học người Mỹ P Samuelson đã phát biểu định lý cân bằng giá cả các yếu tố như sau:

Thương mại tự do không chỉ làm cân bằng giá cả hàng hóa, mà còn làm cân bằng giá cả tương đối của các yếu tố sản xuất giữa hai quốc gia, và nếu hai quốc gia tiếp tục sản xuất cả hai mặt hàng khi có thương mại (tức thực hiện chuyên môn hóa không hoàn toàn), thì thương mại sẽ cân bằng giá cả tuyệt đối của các yếu tố sản xuất.

Nếu gọi r (lãi suất) là giá của vốn, và w (tiền lương) là giá của lao động, thì giá tương đối của vốn sẽ là r/w, và giá tương đối của lao động là w/r Theo định lý cân bằng giá cả các yếu tố ở trên thì thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam sẽ dẫn đến làm cân bằng giá tương đối của vốn (r/w) và giá tương đối của lao động (w/r) giữa hai nước Chẳng hạn trong mô hình thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam, Nhật Bản là nước dồi dào tương đối về vốn, Việt Nam dồi dào tương đối về lao động, cho nên giá tương đối của vốn ở Nhật Bản sẽ thấp hơn giá tương đối của vốn ở Việt Nam, còn giá tương đối của lao động ở Nhật Bản sẽ cao hơn giá tương đối của lao động ở Việt Nam Khi thương mại diễn ra thì Nhật Bản sẽ gia tăng sản xuất thép và giảm sản lượng vải nên nhu cầu về vốn (yếu tố sử dụng nhiều trong sản xuất thép) tăng lên trong tương quan so với nhu cầu về lao động Mặt khác, Việt Nam sẽ gia tăng sản xuất vải và giảm sản xuất thép nên nhu cầu về vốn giảm xuống trong tương quan với nhu cầu về lao động. Kết quả là đến thời điểm nào đó thì các mức giá tương đối của vốn và lao động ở hai nước sẽ cân bằng nhau Với những giả thiết của lý thuyết H-O về cạnh tranh hoàn hảo trên thị trường hàng hóa và thị trường các yếu tố, sản xuất cả hai mặt hàng được đặc trưng bởi hiệu suất không đổi theo quy mô và công nghệ sản xuất giống nhau giữa hai nước - được giữ nguyên thì không chỉ giá tương đối, mà cả giá tuyệt đối của các yếu tố sản xuất ở hai nước cũng sẽ cân bằng nhau, cụ thể là lãi suất (và tiền lương) ở Nhật Bản và Việt Nam sẽ cân bằng nhau.

Thứ ba, so với lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo, thì lý thuyết H-O có tính khái quát cao hơn, nhất là khi được bổ sung thêm khái niệm vốn con người.

Mô hình H-O được xây dựng thay thế cho mô hình cơ bản về lợi thế so sánh Mặc dù nó phức tạp hơn và có khả năng dự đoán chính xác hơn Tuy nhiên lại hoàn thiện hơn và có sự lý tưởng hóa Đó là việc bỏ qua lý thuyết giá trị lao động và việc gắn cơ chế tân cổ điển vào lý thuyết thương mại quốc tế Mô hình H-O lập luận rằng cơ cấu thương mại quốc tế được quyết định bởi sự khác biệt giữa các yếu tố nguồn lực Nó dự đoán rằng một nước sẽ xuất khẩunhững sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó có thế mạnh, và nhập khẩunhững sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố nguồn lực mà nước đó khan hiếm Thương mại tự do sẽ làm cho giá cả các yếu tố sản xuất có xu hướng cân bằng

Vốn con người là duy nhất và khác với bất kỳ vốn khác Vốn con người tương tự như

"phương tiện sản xuất vật chất ", ví dụ, nhà máy và máy móc: người ta có thể đầu tư vào vốn con người (thông qua giáo dục, đào tạo, điều trị y tế) và đầu ra của một người phụ thuộc một phần vào tỷ lệ lợi nhuận của vốn con người mà công ty sở hữu Do đó, vốn con người là một phương tiện sản xuất, trong đó đầu tư bổ sung mang lại sản lượng bổ sung Nguồn vốn con người dồi dào dẫn đến việc nguồn lao động dồi dào, tăng lên của sức sản xuất làm rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa.

Và cuối cùng, lý thuyết H-O là một bộ phận cấu thành của lý thuyết kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất hiện nay - lý thuyết cân bằng tổng quát của trường phái tân cổ điển, và do đó góp phần quan trọng trong việc giải thích cơ chế vận hành của kinh tế thị trường.

Nhược điểm

Cho đến những năm 1950, địa vị thống trị của lý thuyết truyền thống về thương mại quốc tế, với đại diện tiêu biểu là lý thuyết H–O, đã gặp phải những thách thức nghiêm trọng với sự xuất hiện cái gọi là nghịch lý Leontief và nhiều hiện thực trái ngược với những kết luận của lý thuyết H–O.

Trên thực tế, lý thuyết H-O cho rằng một nước sẽ xuất khẩu các mặt hàng được sản xuất bằng các yếu tố đầu vào thuận lợi của nước ấy và nhập khẩu những mặt hàng được làm bằng các yếu tố hiếm hơn Để kiểm nghiệm sự phù hợp của lý thuyết này, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành, trong đó nổi tiếng nhất là công trình của Leontief, một nhà kinh tế học người Mỹ Leontief đã dùng dữ liệu kinh tế Mỹ năm 1947 để tính toán tỷ lệ vốn so với lao động trong sản xuất các mặt hàng xuất khẩu và các mặt hàng thay thế nhập khẩu Kết quả cho thấy tỷ lệ vốn/lao động trong sản xuất thay thế nhập khẩu cao hơn khoảng 30% so với tỷ lệ tương ứng trong sản xuất hàng hóa xuất khẩu, một kết quả hoàn toàn trái với dự báo của lý thuyết H-O.

Một số cách lý giải nghịch lý Leontief :

Có ý kiến cho rằng các tính toán của Leontief là sai hoặc số liệu ông sử dụng không mang tính đại diện Tuy nhiên, quan điểm này không xác đáng bởi nhiều công trình nghiên cứu khi áp dụng phương pháp kiểm chứng của Leontief vẫn đi tới những kết luận tương tự.

Đảo ngược hàm lượng yếu tố là một cách giải thích cho nghịch lý Leontief, cho rằng nếu các mặt hàng thay thế Mỹ nhập khẩu trở thành những sản phẩm đòi hỏi vốn tương đối cao hơn so với các mặt hàng xuất khẩu, thì theo lý thuyết H-O, nhập khẩu của Mỹ sẽ là những mặt hàng sử dụng nhiều lao động Tuy nhiên, trên thực tế sự đảo ngược hàm lượng yếu tố không phải là hiện tượng phổ biến và vì vậy không thể coi nó là cơ sở duy nhất để giải thích nghịch lý Leontief.

Trên thực tế, sở thích tiêu dùng khác nhau giữa các quốc gia và dân chúng mỗi nước có xu hướng tiêu thụ những mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế trong sản xuất Khi người dân Mỹ ưa chuộng hàng hóa có hàm lượng vốn cao đến mức nguồn vốn dồi dào ở Mỹ cũng không đủ để tạo ra mức cung đáp ứng, việc Mỹ phải nhập khẩu các mặt hàng này là điều dễ hiểu Ngược lại, ở các nước có mức thu nhập cao, dân chúng thường chi tiêu nhiều cho các mặt hàng có hàm lượng lao động cao hơn là cho các mặt hàng vốn tích tụ Do vậy, nếu ở Mỹ tồn tại một thiên hướng tiêu dùng nhất định, thì đó có thể là thiên hướng tiêu dùng nhiều mặt hàng có hàm lượng lao động cao.

Chính sách bảo hộ thương mại: Trong các mô hình đã được đề cập thì thương mại được giả định là hoàn toàn tự do Tuy nhiên, vào năm 1947, chính sách bảo hộ mậu dịch được áp dụng phổ biến ở Mỹ và nhiều quốc gia khác Nếu thuế quan được áp đặt nhằm loại trừ các mặt hàng sử dụng nhiều lao động ra khỏi thị trường Mỹ, thì các quốc gia khác sẽ xuất khẩu vào Mỹ các mặt hàng sử dụng nhiều vốn Tuy nhiên, điểm không rõ ràng ở đây là tại sao các nước vẫn không muốn buôn bán với Mỹ nếu như chỉ có thể xuất khẩu vào Mỹ những mặt hàng không có lợi thế ( mặt hàng sử dụng nhiều vốn ) để đổi lấy những mặt hàng mà chính họ có lợi thế ( mặt hàng sử dụng nhiều lao động ).

Năng suất lao động cao của công nhân Mỹ : Bản thân Leontief có sự lý giải nghịch lý của mình với lập luận rằng do năng suất lao động của công nhân Mỹ cao hơn nhiều so với các nước khác, cho nên về thực chất Mỹ là nước dồi dào về lao động, chứ không phải dồi dào về vốn. Trên thực tế, có nhiều yếu tố làm tăng năng suất lao động của công nhân Mỹ, và khi các mức tăng này là tương đươngthì Mỹ vẫn là nước dồi dào tương đối về vốn.

Tài nguyên thiên nhiên: Có lập luận cho rằng Mỹ không còn là nước dồi dào tương đối về tài nguyên thiên nhiên, cho nên phải nhập khẩu một lượng lớn các loại khoáng sản như : sắt, đồng, bô xít, dầu mỏ… Để chế biến các mặt hàng này, Mỹ sẽ phải nhập khẩu 1 lường lớn vốn từ bên ngoài( dưới dạng hữu hình )

Vốn đầu tư vào nguồn nhân lực : Trong tính toán của mình, Leontief chỉ đưa vào 2 yếu tố sản xuất là lao động và vốn hữu hình Tuy nhiên, nếu như các yếu tố khác chẳng hạn như vốn đầu tư vào nguồn nhân lực, được tính đến thì hàm lượng các yếu tố của các mặt hàng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu của Mỹ có thể thay đổi, dẫn đến đỏa ngược nghịch lý Leontief.

 Thương mại giữa các nước công nghiệp đang phát triển

Ngày nay, hơn một nửa thương mại quốc tế được diễn ra giữa các quốc gia công nghiệp phát triển- những nước được coi là có mức độ trang bị các yếu tố sản xuất tương đối giống nhau Hơn nữa kể từ sau Đại chiến thế giới thứ 2, tỷ trọng của các quốc gia này trong thương mại thế giới tăng đều đặn cùng với việc thu nhập bình quân đầu người càng xích lại gần nhau

 Điều này thể hiện sự giống nhau ngày càng tăng về mức độ trang bị các yếu tố giữa các quốc gia này và do đó mâu thuẫn với dự đoán của lý thuyết H-O.

Một tỉ trọng lớn và ngày càng gia tăng của thương mại thế giới, đặc biệt là thương mại giữa các quốc gia công nghiệp phát triển, bao gồm những sản phẩm rất giống nhau ( hoặc nói cách khác, có hàm lượng yếu tố giống nhau )

Ví dụ : Nhật Bản xuất khẩu xe Toyota sang Mỹ, đồng thời lại nhập khẩu xe Cadillac từ Mỹ

 Hiện tượng này không phù hợp với kết luận của lý thuyết H-O, theo đó các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia phải có hàm lượng các yếu tố khác nhau: mặt hàng xuất khẩu là mặt hàng sử dụng nhiều yếu tố dồi dào, còn mặt hàng nhập khẩu là mặt hàng sử dụng nhiều yếu tố khan hiếm.

 Ảnh hưởng của quá trình tự do hóa thương mại

Kể từ sau Đại chiến thế giới thứ hai, thương mại quốc tế đã được tự do hóa một cách đang kể, và do đó có sự gia tăng nhanh chóng về quy mô Xuất phát từ lý thuyết H-O, thì thực tế trên sẽ phải đi cùng với những biến đổi lớn trong quá trình phân bổ nguồn lực và mâu thuẫn xã hội.

Định lý Stolper–Samuelson cho thấy khi tự do hóa thương mại làm thay đổi tỉ lệ cung yếu tố, thu nhập của một yếu tố sản xuất sẽ giảm xuống, trong khi thu nhập của yếu tố còn lại có thể tăng lên Hệ quả là một số tầng lớp xã hội phụ thuộc nhiều vào yếu tố bị tổn thất sẽ chịu thiệt thòi về thu nhập và có khả năng phản kháng quyết liệt trước các biện pháp mở cửa thương mại.

Ứng dụng lý thuyết H-O với Việt Nam

Ứng dụng lý thuyết H-O trong việc xuất khẩu

2.1.1 Theo lý thuyết H-O, Việt Nam sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất

Những thuận lợi để Việt Nam phát triển mặt hàng sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất dồi dào:

-Việt Nam nằm ở vùng đông Nam Á, là vùng có tốc độ phát triển khả quan, nhanh so của kinh tế thế giới.

Việt Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi để trở thành trung tâm giao nhận vận tải biển quốc tế, nằm trên các tuyến đường giao lưu hàng hải từ các nước Liên Xô cũ, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đến Nam Á, Trung Đông và châu Phi Ven biển Việt Nam, nhất là khu vực Phan Thiết trở vào, có nhiều cảng nước sâu, khí hậu ổn định và ít bão, sương mù, tạo điều kiện cho tàu nước ngoài thực hiện chuyển tải hàng hóa, sửa chữa và tiếp nhiên liệu quanh năm Nét đặc trưng của Đông Nam Á là có nhiều quốc gia nằm dọc trên một vùng biển nội địa kết nối với phần còn lại của thế giới Biển Đông có bảy eo biển dẫn ra bên ngoài, nối châu Á với châu Đại Dương, đồng thời kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, mở ra các tuyến giao thương quốc tế và mang lại lợi ích lớn cho khu vực Đối với Nhật Bản và Trung Quốc, đây là những tuyến đường huyết mạch: khoảng 80% nguồn cung của Trung Quốc phải đi qua các eo biển này.

-Việt Nam nằm trên trục đường bộ và đường sắt từ châu Âu sang Trung Quốc qua Campuchia, Lào, Thái Lan, Mianma, Pakistan, Ấn Độ… Đặc biệt con đường bộ xuyên Á được đưa vào sử dụng từ năm 2003.

=> Vị trí thuận lợi : tạo khả năng phát triển các hoạt động trung chuyển, tái sản xuất và chuyển hàng hóa qua các khu vực lân cận

- Tài nguyên thiên nhiên Việt Nam phong phú và đa dạng:

Tài nguyên đất: Diện tích đất khoảng 330.363 km2 trong đó lên tới 50% là đất dùng vào nông nghiệp và ngư nghiệp Với khí hậu nhiệt dới mưa nắng điều hòa cho phép chúng ta phát triển nông sản và lâm sản xuất khẩu có hiệu quả cao như: gọa, cao su, và các nông sản nhiệt đới Chúng ta có đường bờ biển dài 3260km, có 2680 sông ngòi, với diện tích 63.566ha, cho phép Việt Nam phát tiển xuất khẩu thủy sản

Tài nguyên khoáng sản:Có tiềm năng về xuất khẩu lớn nhất là dầu khí Việt Nam đứng thứ 31 về trữ lượng dầu mỏ Ngành dầu khí đóng góp tới 20% GDP cả nước, là ngành hàng đầu mang lại kim ngạch xuất khẩu cho đất nước

Về khoáng sản xây dựng:

Cát ở vùng biển miền Trung cho phép xuất khẩu, được các bạn hang nước ngoài ưa chuộng như mỏ cát ở Nha Trang

- Đây là một lợi thế của Việt Nam, với dân số đông 96,3 triệu người(2019) đứng thư 15 Thế giới số người trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ hơn 76%.Với nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ, tư chất người Việt Nam cần cù, sáng tạo, tiếp thu nhanh công nghệ mới, có thể tham gia lao động quốc tế Chính điều này đã giúp cho Việt Nam phát triển các ngành như : dệt may, sản xuất giày dép, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, lắp ráp hàng điện tử

* Như vậy, vận dụng lý thuyết H-O với điều kiện phát triển của Việt Nam chúng ta cần ưu tiên phát triển sản xuất những ngành nhiều lao dộng, những lĩnh vực tận dụng tối đa lợi thế của nước ta về tài nguyên thiên nhiên, Ví dụ như nông sản, dệt may, giày da…

- Về cơ cấu xuất khẩu, chúng ta cần tận dụng lợi thế về lao động dồi dào và những ưu thế về tài nguyên, vị trí địa lí để xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều tương đối yếu tố sản xuất dồi dào

2.1.2 Thực trạng về cơ cấu xuất khẩu ở VN hiện nay:

Chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu vẫn là nhóm hàng công nghiệp ,tiếp đến là nhóm hàng nông sản, thủy sản và nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản tổng kim ngạch xuất khẩu

Bảng 1: Cơ cấu xuất khẩu cả Việt Nam theo nhóm hàng

Hình 1:Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa năm 20 16

Mặt hàng điện tử và linh kiện điện tử đang được xuất khẩu mạnh, chiếm tỉ trọng cao Đứng thư hai là dệt may ; tiếp theo là nông lâm thủy sản và hiện tại khoáng sản ( nguyên liệu thô) xuất khẩu không nhiều.Tỉ trọng của nhóm nhiên liệu và khoáng sản không lớn

2.1.3 Tại sao lại có xu hướng chuyển dịch trong cơ cấu xuất khẩu:

- Hai lợi thế mà Việt Nam đang có là tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động dồi dào Mặc dầu Việt Nam được coi là một đất nước phong phú về các loại khoáng sản, nhưng nếu tính theo mức đầu người thì không phải là nước giàu khoáng sản Về lao động, Việt Nam có nguồn lao động trẻ dồi dào, tuy nhiên lực lượng này lại chưa quen với lối lao động công nghiệp, việc tiếp cận công nghệ mới còn hạn chế

Hình 2:Cơ cấu trình độ của chất lượng lao động Việt Nam

- Giá cả của các loại hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra chủ yếu dựa trên lợi thế về điều kiện sản xuất (nguyên liệu thô, gia công và sơ chế) luôn rẻ hơn so với các mặt hàng chế biến dựa trên lợi thế về các điều kiện sản xuất cao hơn (lao động được đào tạo, công nghệ trung bình thích hợp) Hiện tại Việt Nam đang xuất khẩu dầu thô, gạo, khoáng sản… nếu không đi thẳng vào công nghệ hiện đại sử dụng lao động dồi dào để sản xuất hàng xuất khẩu thì Việt Nam sẽ phải chịu thiệt thòi về giá hàng xuất khẩu (giá trị gia tăng thấp) Thực tế đó đã được chứng minh qua nhiều năm Nhưng với quá trình phát triển (công nghiệp hoá, hiện đại hoá), Việt Nam sẽ có một bước chuyển rất căn bản: mở rộng lợi thế ra nhiều mặt hàng, nhóm hàng có giá trị cao Muốn vậy phải kết hợp đồng thời nhiều yếu tố: vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn nhân lực phong phú, trong đó nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh phát triển hiện nay, bởi nó tạo ra bước nhảy vọt về năng suất

-Chỉ xuất hiện trên dưới 10 năm trong “bản đồ” xuất nhập khẩu của Việt Nam nhưng 2 ngành hàng công nghệ xuất khẩu linh kiện điện thoại và máy vi tính đã nhanh chóng vượt qua nhiều lĩnh vực truyền thống như dệt may, giày dép, thủy sản… để vững vàng ở những vị trí xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với khoảng cách với những ngành hàng kế tiếp từ vài tỷ đến vài chục tỷUSD- một khoảng cách rất khó san lấp Mặt khác, sự vượt trội của 2 nhóm hàng lớn cũng cho thấy ưu thế về giá trị gia tăng, năng suất lao động của lĩnh vực công nghệ cao Bởi dù chưa có con số đầy đủ nhưng lao động trong các nhà máy sản xuất điện thoại; máy vi tính cũng chỉ dừng ở con số một vài trăm nghìn, trong khi các lĩnh vực khác lượng lao động có thể lên đến cả triệu, thậm chí vài triệu lao động như lĩnh vực dệt may.

Bảng 2: Các chỉ số về tình hình xuất khẩu của ngành linh kiện điện tử Điều này cho thấy, việc nhập khẩu các mặt hàng linh kiện điện tử từ nước ngoài sau đó lắp ráp và thuê gia công rồi xuất khẩu với sản phẩm hoàn thiện ăn chêch lệch đã đem lại 1 nguồn lãi không nhỏ cho doanh nghiệp Việt Nam

=> Cho thấy thực tế cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam có đôi chút khác biệt với lý thuyết H-O việc xuất khẩu sử dụng nhiều tương đối về yếu tố sản xuất còn còn hạn chế chúng ta cần xem xét cả yếu tố công nghệ, trình độ của lao động Việt Nam đã cho thây sự khác biệt Dù có lợi thế về lao động về tài nguyên thiên nhiên nhưng lao động chất lượng chưa cao và tài nguyên chưa phát triển ngành công nghiệp chế biến nhiên liệu chỉ có thể xuất khẩu nhiên liệu thô Chúng ta hướng tới sản xuất các mặt hàng điện thoại , linh kiện điện tử với số lượng nhân công ít, sử dụng nguyên liệu rẻ và thời gian sản xuất nhanh để kịp thời xuất khẩu sang các thị trường lớn

2.1.4 Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực và thị trường mà các mặt hàng này hướng tới:

Do yếu tố công nghệ, chi phí nhân công và thời gian Việt Nam hiện nay đang hướng tới 1 số mặt hàng chủ lực quan trọng phát huy lợi thế và đưa các sản phẩm này vào các thị trường tiềm năng

*Một số thị trường lớn và mặt hàng xuất khẩu chủ lực:

Hình 3: Cơ cấu các thị trường xuất khẩu của Việt Nam

*.Mặt hàng cụ thể và thị trường chính:

Mặt hàng chủ lực Thị trường chính hướng tới

1.Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 25,6 tỷ USD

Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ

2 Hàng dệt may đạt 24,61 tỷ USD

Hoa Kỳ đạt 11,21 tỷ USD;

3 Hàng nông sản (bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su) đạt

4 Thủy hải sản đạt 6,22 tỷ

Hoa Kỳ đạt 1,08 tỷ USD; Nhật Bản đạt 1,07 tỷ USD;EU đạt 982 triệu USD;Trung Quốc đạt 832 triệu

USD 5.Máy ảnh,máy quay phim, linh kiện đạ 2,96 tỷ USD

Trung Quốc với 1,29 tỷ USD; Ấn Độ với 458 triệu

USD; Hồng Kông với 380 triệu USD

6 Sắt thép dạt 3,16 tỷ USD Campuchia,Malaysia, Hoa Kỳ…

Bảng 3: Số liệu lấy hết tháng 9 năm 2019

Hình 4: Cơ cấu xuất khẩu của máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam theo quốc gia 9 tháng năm 2018

Ứng dụng lý thuyết H-O trong nhập khẩu

2.2.1 Nhập khẩu có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của Việt Nam trên các mặt

Thứ nhất, nhập khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh thương mại vì thông qua hoạt động nhập khẩu cung cấp cho nền kinh tế 60-100% nguyên-nhiên liệu chính phục vụ cho sản xuất.

Nhập khẩu đóng vai trò then chốt, tác động mạnh mẽ đến quá trình đổi mới công nghệ và trang thiết bị sản xuất Nhờ đó, trình độ sản xuất được nâng cao và năng suất lao động trong nước được cải thiện.

2.2.2 Thực trạng nhập khẩu Việt Nam hiện nay:

- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: kim ngạch trong tháng 9 là 4,72 tỷ USD, giảm 4,6% so với tháng 8, đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm này trong 9 tháng/2019 đạt 38,25 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện lớn nhất sang Việt Nam là: Hàn Quốc với trị giá 13,53 tỷ USD, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; đứng thứ 2 là Trung Quốc với 9,03 tỷ USD, tăng mạnh tới 56,3%; đứng thứ 3 là Đài Loan với trị giá đạt 4,02 tỷ USD, tăng 46%; đứng thứ 4 từ Hoa Kỳ với trị giá 3,58 tỷ USD, tăng tới 57,4%; đứng thứ 5 là Nhật Bản với 3,19 tỷ USD, tăng 8,6%

- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: trị giá nhập khẩu trong tháng 9/2019 đạt 2,95 tỷ USD, giảm 7,6% so với tháng trước Qua đó, đưa kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng này trong 9 tháng/2019 đạt 26,89 tỷ USD tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu trong 9 tháng/2019 có xuất xứ từ: Trung Quốc đạt 10,62 tỷ USD, tăng 27,3%; từ Hàn Quốc đạt 4,66 tỷ USD, tăng 4,9% và từ Nhật Bản đạt 3,5 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng thời gian năm 2018.

- Nhóm mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may, da, giày (bao gồm: bông, xơ sợi dệt, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy): nhập khẩu trong tháng 9 đạt trị giá 1,82 tỷ USD, giảm 1,1% so với tháng trước, qua đó đưa trị giá nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm đạt 18 tỷ USD, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày các loại nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từTrung Quốc với trị giá 8,46 tỷ USD, tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước; từ Hàn Quốc với2,16 tỷ USD, giảm 7,2%; từ Hoa Kỳ với 1,81 tỷ USD, tăng 13,9%; từ Đài Loan đạt trị giá 1,78 tỷ USD, giảm 2%…

- Điện thoại các loại và linh kiện: nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng 9/2019 đạt 1,66 tỷ USD, giảm 4 % so với tháng trước Tính đến hết tháng 9/2019 trị giá nhập khẩu nhóm hàng này đạt 10,63 tỷ USD, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 9 tháng/2019, Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn là 2 thị trường chính cung cấp điện thoại các loại và linh kiện cho Việt Nam với tổng trị giá đạt 9,8 tỷ USD, chiếm 92,2% tổng trị giá nhập khẩu của nhóm hàng này Trong đó: từ Trung Quốc là 5,69 tỷ USD, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu từ Hàn Quốc là 4,12 tỷ USD, giảm 1%…

- Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo: trong tháng 9/2019, nhập khẩu hai nhóm hàng chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo đạt 1,27 tỷ USD, giảm 7,4% so với tháng trước. Qua đó, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này trong 9 tháng tính từ đầu năm đạt 11,48 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 9 tháng tính từ đầu năm 2019, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ các quốc gia: Trung Quốc đạt 2,83 tỷ USD tăng 21,2%; Hàn Quốc đạt 2,57 tỷ USD tăng 1,8% ; Đài Loan đạt 1,11 tỷ USD, giảm 2,2%; Nhật Bản đạt 998 triệu USD, tăng nhẹ 0,01% so với 9 tháng/2018.

- Sắt thép các loại: trong tháng 9/2019 nhập khẩu nhóm hàng này là 1,17 triệu tấn, trị giá đạt

Trong 9 tháng năm 2019, kim ngạch nhập khẩu sắt thép các loại đạt 756 triệu USD, giảm 9% về lượng và giảm 8,7% về trị giá; lượng nhập khẩu sắt thép các loại đạt 10,81 triệu tấn, trị giá 7,21 tỷ USD, tăng 4,8% về lượng nhưng giảm 3,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Kết thúc tháng 9/2019, Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp sắt thép các loại lớn nhất vào Việt Nam với 4,3 triệu tấn, trị giá đạt 2,73 tỷ USD, giảm 10,3% về lượng và giảm 21% về trị giá so với cùng kỳ năm trước Đứng thứ 2 là Nhật Bản với 1,53 triệu tấn, trị giá 1,02 tỷ USD, giảm 8,5% về lượng và giảm 13% về trị giá; đứng thứ ba là Hàn Quốc với 1,27 triệu tấn, trị giá đạt 1,03 tỷ USD, giảm 3,2% về lượng và giảm 4,7% về trị giá…

- Hóa chất và sản phẩm từ hóa chất: nhập khẩu hai nhóm hàng này trong tháng 9/2019 đạt trị giá 873 triệu USD, giảm 2,7% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu hai nhóm hàng này trong 9 tháng/2019 đạt 7,78 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước.

Hóa chất và sản phẩm trong 9 tháng/2019nhập khẩu về Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc tăng 15%; xuất xứ từ Hàn Quốc với 834 triệu USD, tăng 3,1%

Định hướng của nhà nước trong phát triển thương mại trong thời gian tới

2.3.1 Định hướng về xuất khẩu gắn với vận dụng lý thuyết H-O

Nhiệm vụ trong thời gian tới là Việt Nam phải cải tiến cơ cấu hàng xuất khẩu theo những hướng cơ bản sau:

Thứ nhất, giảm tỷ trọng xuất khẩu thô và sơ chế tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến ngày càng sâu và tinh, giảm tỷ trọng xuất khẩu nông sản, thuỷ sản thô Tiếp tục cấm xuất khẩu gỗ tròn, gỗ sẻ, giảm dần xuất khẩu dầu thô, quặng thô, tài nguyên chưa qua chế biến Chuyển từ xuất khẩu gạo, cà phê hạt, hạt điều, rau quả sang thực phẩm chế biến như cà phê hoà tan có bao bì hiện đại, mẫu mã đẹp, thuận lợi cho bảo quản và sử dụng.

Thứ hai, tăng cường đầu tư cho công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu để một mặt nâng cao giá trị hàng xuất khẩu mặt khác tận dụng được lao động trong nước Kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài để chế biến thành sản phẩm những ngành cần đầu tư nhiều vốn để một phần thay thế hàng nhập khẩu.

Thứ ba, nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu để tăng sức cạnh tranh hàng hoá của ta trên thị trường quốc tế.

Thứ tư, tạo ra những ngành hàng xuất khẩu mới có giá trị cao mạnh dạn đào thải những mặt hàng xuất khẩu không mang lại hiệu quả kinh tế Tiến hành phát triển quy hoạch các mặt hàng chủ lực để xuất khẩu.

2.3.2 Định hướng về nhập khẩu gắn với vận dụng lý thuyết H-O

Nhiệm vụ trong thời gian tới là Việt Nam phải cải tiến cơ cấu hàng nhập khẩu theo những hướng cơ bản sau:

Thứ nhất, chủ động điều chỉnh nhịp độ tăng trưởng nhập khẩu hàng hóa, kiểm soát chặt việc nhập khẩu các mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu, góp phần giảm nhập siêu trong dài hạn.

Nhập khẩu máy móc, thiết bị và công nghệ cao được thực hiện phù hợp với nguồn lực và trình độ sản xuất trong nước, đồng thời hướng tới tiết kiệm năng lượng và vật tư; định hướng nhập khẩu ổn định cho các ngành sản xuất sử dụng nguyên, nhiên, vật liệu khai thác và sản xuất trong nước có hiệu quả thấp hoặc có tác động xấu đến môi trường.

Thứ ba, đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, cải thiện thâm hụt thương mại với các thị trường Việt Nam nhập siêu.

Trong kinh tế học hiện đại, lý thuyết H-O được đánh giá là một trong những lý thuyết mạnh nhất Lý thuyết này chứng tỏ rằng lợi thế so sánh xuất phát từ những sự khác biệt trong độ sẵn có các yếu tố sản xuất Lý thuyết H-O đề cập đến mức độ sẵn có các nguồn lực của mỗi nước như đất đai, lao động và vốn Sự sẵn có các yếu tố khác nhau đó giải thích sư khác biệt về giá cả các nhân tố, cụ thể, độ dồi dào của nhân tố càng lớn thì giá cả của nhân tố đó càng rẻ

Trong một nền kinh tế mở, mỗi nước đều hướng đến chuyên môn hóa các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất Nói cách khác bằng cách thừa nhận là mỗi sản phẩm đòi hỏi một sự liên kết khác nhau các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, tài nguyên, đất đai…) và có sự chênh lệch giữa các nước về các yếu tố này, mỗi nước sẽ chuyên môn hóa trong những ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố với chi phí rẻ hơn, chất lượng tốt hơn so với các nước khác đồng thời nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố đầu vào kia.

Tuy nhiên, kết quả của các công trình kiểm chứng thực tế lý thuyết H-O thường bị bóp méo bởi các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường, mà ví dụ điển hình là Nghịch lý Leontief. Dường như lúc này phải quay trở về với ý tưởng của Ricardo rằng mô thức thương mại phần lớn được thúc đẩy bởi những khác biệt quốc tế về trình độ công nghệ hơn là những khác biệt về nguồn lực Ví dụ, ở Mỹ xuất khẩu máy vi tính và máy bay, không phải do các nguồn lực của Mỹ đặc biệt thích hợp với những hoạt động này, mà là do Mỹ sản xuất những hàng hoá này một cách có hiệu quả hơn so với sản xuất ôtô hoặc thép Điều này vẫn bỏ qua các lý do chưa được giải thích về sự khác biệt công nghệ.

Vì thế hiểu được nguồn gốc của những khác biệt về công nghệ giữa các nước là một chủ đề cơ bản của công nghệ giữa các nước là một chủ đề cơ bản của công việc nghiên cứu hiện nay. Tuy nhiên, khi quay về với sự giải thích của Ricardo về thương mại, chúng ta không quay lại với quan điểm với quan điểm cho rằng thương mại không gây tác động đến sự phân phối thu nhập.

Chừng nào mà có trên một yếu tố sản xuất được sử dụng, thương mại sẽ có những tác động hàm chứa trong hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu của một nước Mỹ xuất khẩu những sản phẩm cần tập trung nhiều lao động có tay nghề cao, và nhập khẩu những sản phẩm cần tập trung nhiều lao động có tay nghề thấp.

Do đó, thương mại có xu hướng đem lại lợi ích cho công nhân có tay nghề cao ở Mỹ trước những thiệt hại của công nhân có tay nghề thấp, mặc dù việc có nhiều hay ít các yếu tố sản xuất này không giúp gì được nhiều cho việc phán đoán mô thức thương mại.

Mô hình Heckscher – Ohlin vì vầy vẫn được sử dụng một cách hạn chế để phán đoán tác động của thương mại và chính sách thương mại đến sự phân phối thu nhập

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, việc định hướng sản xuất và thương mại là một hoạt động không thể thiếu của một quốc gia Việc xác định cơ cấu sản xuất của các nền kinh tế được dựa trên cơ sở lợi thế về nguồn lực của đất nước Sau khi triển khai nghiên cứu đề tài “Lý thuyết H - O và việc vận dụng vào định hướng sản xuất và thương mại của Việt Nam” nhóm nhận thấy đây thực sự là một đề tài hay và cần thiết Nắm vững và vận dụng lý thuyết H-

O rất có ý nghĩa đối với việc xác định cơ cấu sản xuất.

Trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước đi khá đúng đắn trong việc xác định cơ cấu sản xuất, góp phần không nhỏ vào thành tựu tăng trưởng và ổn định kinh tế Tuy nhiên, khi thực tiễn thay đổi nhanh chóng như hiện nay, không một chính sách nào có thể tồn tại mãi mà không có những điểm bất cập Vì vậy chính phủ cần đóng vai trò tích cực trong việc định hướng cho các bộ ngành, các địa phương và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu hàng hóa để xác định cơ cấu sản xuất hợp lý.

Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, người thực hiện không có tham vọng gì hơn ngoài việc tìm hiểu lý thuyết H- O, từ đó đưa ra một số ý kiến xây dựng nhằm góp phần nhỏ bé, hoàn thiện cơ cấu sản xuất và thương mại của đất nước Với những thành công ban đầu của hơn 20 năm đổi mới và từ kinh nghiệm của các nước đi trước, tin rằng Việt Nam sẽ thành công trong việc xác lập cơ cấu sản xuất và thương mại quốc gia phù hợp nhất, góp phần đưa đất nước tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế trên trường thế giới.

Chúng ta có thể tiếp tục triển khai một số đề tài để nghiên cứu sâu hơn vấn đề này, như:

Ngày đăng: 17/02/2022, 20:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w