Hình thức thương mại này thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế thế giới, trong đó giá cả, cung và cầu, tác động và bị tác động bởi các sự kiện toàn cầu, thể hiện các mối quan hệ kinh tế xã hội và
Trang 1Lớp học phần: Kinh tế quốc tế 1(219)-5
BÀI TẬP NHÓM 7
CHỦ ĐỀ 1: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN LÝ THUYẾT CƠ
BẢN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
TÁC ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ ĐẾN NỀN
KINH TẾ VIỆT NAM.
Thành viên :
1 Đặng Nguyễn Hải Linh-11182611
2 Nguyễn Quang Đông-11180959
3 Nguyễn Thị Minh Thu-11184728
4 Nguyễn Thanh Phương-11184042
5 Hoàng Thị Thúy-11184815
6 Nguyễn Phương Linh-11182780
7 Lê Anh Tuấn-11185377
Trang 21 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Thương mại quốc tế 6
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của thương mại quốc tế. 7
3 Tác động của hoạt động thương mại quốc tế đến sự phát triển kinh tế
Trang 3Danh mục từ viết tắt
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
TFP:Năng suất các nhân tố tổng hợp
CPI: Chỉ số giá tiêu dùng
PNTR:Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn
ASEM: Hợp tác Á-Âu
Danh mục bảng biểu
Biểu đồ 1: So sánh GDP giữaViệt Nam và một số quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực Đông Á và Đông Nam Á, giai đoạn 1980-2014………12Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2006-2016………17Biểu đồ 3: FDI vào Việt Nam theo ngành năm 2016 ……….….18
Trang 4Lời mở đầu
Kinh tế quốc tế là môn học nghiên cứu sự phụ thuộc kinh tế giữa các quốc gia, phân tích dòng chảy hàng hóa, dịch vụ và thanh toán giữa một quốc gia với phần còn lại của thế giới, chính sách định hướng cho các dòng chảy này ảnh hưởng của chúng đối với phúc lợi của quốc gia Một trong những hoạt động chính của kinh tế quốc tế chính là hoạt động thương mại quốc tế Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây Thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được xem như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá" Thương mại quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đó diễn ra
sự mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc các tài sản trí tuệ giữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế Sự phụ thuộc kinh tế của các quốc gia này ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi các quan hệ chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh giữa các quốc gia Đối với phần lớn các nước, nó tương đương với một tỷ lệ lớn trong GDP Điều kiện để thương mại quốc tế tồn tại và phát triển là:- Có sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ, kèm theo
đó là sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp Có sự ra đời của nhà nước và sự phát triển của phân công lao động quốc tế Ngoại thương đã xuất hiện từ thời cổ đại, dưới chế độ nhà nướcchiếm hữu nô lệ và tiếp đó là chế độ nhà nước phong kiến Thời đó, do kinh tế tự nhiên còn chiếm vị trí thống trị, nên thương mại quốc tế mang tính chất ngẫu nhiên, phát triển với quy
mô rất nhỏ, hẹp Lưu thông hàng hóa quốc tế chỉ gồm một phần nhỏ nhiều sản phẩm sản xuất ra và chủ yếu là để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân của giai cấp thống trị đương thời Đến thời đại tư bản chủ nghĩa, thương mại quốc tế mới phát triển rộng rãi Các cuộc cách mạng lớn diễn ra trongthương nghiệp ở thế kỷ XVI và XVII gắn liền với những phát kiến địa ký đã dẫn tới sự phát triển nhanh chóng của tư bản thương nhân Tính tất yếu nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là phải tái sản xuất tren một quy mô ngày càng lớn hơn để phát triển thu lợi nhuận Điều đó, thúc đẩy thị trường thếgiới phải không ngừng mở rộng, thương mại quốc tế ngày càng phát triển Ngày nay càng có nhiều nước ở nhiều trình
độ phát triển kinh tế- xã hội khác nhau thuộc nhiều khu vực lãnh thổ khác nhau cùng tham gia vào mậu dịch quốc tế Nhất là trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay thì thương mại quốc tế càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một nước
Trang 5Các học thuyết về thương mại quốc tế lần lượt ra đời làm nền tảng cho sự phát triển ngoại thương giữa các nước trên thế giới hiện nay Bốn học thuyết nổi bật nhất là:
Quan điểm Chủ nghĩa trọng thương (đầu thế kỷ 15)
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối (Adam Smith)
Lý thuyết lợi thế so sánh (David Ricardo 1817)
Mô hình Heckscher – Ohlin (mô hình H-O)
Thương mại quốc tế với tư cách là một khoa học cũng là một nhánh của kinh tế học Thương mại quốc tế hợp cùng tài chính quốc tế tạo thành ngành kinh tế học quốc tế Do đó, thương mại quốc tế đã ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự hình thành và phát triển của Việt Nam Nó đã có những tác động tích cực cũng như tiêu cực đến Việt Nam qua các giai đoạn
từ năm 1986 đến nay cũng như ảnh hưởng to lớn đến việc tăng GDP của người dân Việt Nam
Nội Dung Bài
Trang 61 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của Thương mại quốc tế
1.1 Khái niệm Thương mại quốc tế
Theo William J Bernstein trong cuốn “Lịch sử giao thương – Thương mại định hình thế giới như thế nào?” khi nói về thương mại nói chung, thương mại quốc tế nói riêng thì ông
đã đưa ra nhận định như sau:
“Thứ nhất, Thương mại là một sự thôi thúc bản năng và không thể suy giảm của con người
… Thứ hai, sự thôi thúc giao thương ảnh hưởng sâu sắc tới quỹ đạo của loài người Đơn giản là thương mại trực tiếp thúc đẩy sự thịnh vượng toàn cầu”
=> Cơ sở mang tính cơ bản, quan trọng nhất của việc hình thành nên hoạt động thương mại quốc tế cũng như những hoạt động kinh tế quốc tế khác là nhu cầu của con người Vì dùcho chúng ta có những sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật nhưng do bản chất của con người luôn luôn có nhu cầu, luôn có “một sự thôi thúc bản năng” vậy nên chúng ta muốn biến những mong muốn của mình được thỏa mãn Từ đó mà hoạt động thương mại quốc tế ra đời
Vậy khái niệm tổng quát của thương mại quốc tế là gì?
- Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia Hình thức thương mại này thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế thế giới, trong đó giá cả, cung và cầu, tác động
và bị tác động bởi các sự kiện toàn cầu, thể hiện các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia
Ví dụ, thay đổi chính trị ở châu Á có thể dẫn đến sự gia tăng chi phí nhân công, do đó làm tăng chi phí sản xuất cho một công ty giày của Mỹ có trụ sở tại Malaysia, dẫn đến tăng giá một đôi giày tennis tại trung tâm mua sắm nơi bạn ở Trái lại, việc giảm chi phí lao động
sẽ khiến giá đôi giày của bạn rẻ hơn
- Thương mại toàn cầu tạo cơ hội cho người tiêu dùng và các nước được tiếp xúc với hàng hoá, dịch vụ mà nước họ không có Hầu như tất cả các loại sản phẩm bạn cần đều được tìm thấy trên thị trường quốc tế: thực phẩm, quần áo, phụ tùng, dầu, đồ trang sức, rượu vang,
cổ phiếu, tiền tệ và nước Các dịch vụ cũng được giao dịch như du lịch, ngân hàng, tư vấn
và vận tải Khi một sản phẩm được bán ra thị trường thế giới được gọi là xuất khẩu, và khi một sản phẩm được mua từ thị trường thế giới được gọi là nhập khẩu Nhập khẩu và xuất khẩu được hạch toán vào tài khoảng vãng laiong cán cân thanh toán của một quốc gia
Trang 7- Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước Ngày nay, thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sự phụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy, phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối
ưu sự phân công lao động và chuyên môn hoá quốc tế
- Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đối của đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế Mặt khác, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội Phải luôn luôn tính toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi tham gia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp Vì vậy để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cường khả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của thương mại quốc tế.
Trải qua các hình thái kinh tế xã hội có sự thống trị của các chế độ Nhà nước khác nhau,
từ chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, đến chế độ chiếm tư bản chủ nghĩa và kể cả chế độ xã hội chủ nghĩa, các quan hệ sản xuất, trao đổi hàng hoá - tiền tệ đã phát triển trên phạm vi toàn thế giới, hình thành nên sự đa dạng, phức tạp của các mối quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó, sôi động nhất và cũng chiếm vị trí, vai trò, động lực quan trọng nhất cho
sự tăng trưởng và phát triển kinh tế mở của mỗi quốc gia và cho cả nên kinh tế thế giới là các hoạt động thương mại quốc tế
Trong quá trình tái sản xuất mở rộng, do yêu cầu khách quan của việc xã hội hoá lực lượng sản xuất, các nước ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau, lệ thuộc vào nhau Sự giao lưu tư bản, trao đổi mậu dịch, do đó, ngày càng phong phú Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia càng làm nổi bật tính thống nhất của nền sản xuất thế giới
Buôn bán nói chung và buôn bán quốc tế nói riêng là hoạt động kinh tế trao đổi hàng hoá
- tiền tệ đã có từ lâu đời và sự phát triển của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển văn minh của xã hội loài ngươì Như vậy là con người đã sớm tìm thấy lợi ích của thương mại quốc tế, nhưng để giải thích một cách khoa học về nguồn gốc của những lợi ích thương mại quốc tế thì đó đã không phải là vấn đề đơn giản
=> Những lý thuyết, nghiên cứu của các trường phái kinh tế, các nhà kinh tế khác nhau trong những giai đoạn lịch sử khác nhau chính là quá trình hình thành nên hoạt động
Trang 8Thương mại quốc tế theo trình tự nhận thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ phiến diện đến toàn diện, từ hiện tượng đến bản chất.
1.2.1 Chủ nghĩa trọng thương
Lý thuyết trọng thương ở Châu Âu đã phát triển từ khoảng giữa thế kỷ XVI đến giữa thế
kỷ XVIII, với nhiều đại biểu khác nhau: Jean Bodin, Melon, Jully, Colbert (Pháp), Thomas Mrm, Josias, Chhild, James Stewart (Anh)
Nội dung chính của thuyết này là: Mỗi quốc gia muốn đạt được sự thịnh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng tiền tệ bằng phát triển ngoại thương và mỗi quốc gia chỉ có thể thu được lợi ích từ ngoại thương nếu cán cân thương mại mang dấu dương (hay giá trị xuất khẩu lớn hơn giá trị nhập khẩu) Được lợi là vì thặng dư của xuất khẩu so với nhập khẩu được thanh toán bằng vàng, bạc và chính vàng, bạc là tiền tệ, là biểu hiện của
sự giàu có Đối với một quốc gia không có mỏ vàng hay bạc chỉ còn cách duy nhất là trông cậy vào phát triển ngoại thương và chiếm hữu
Lý thuyết trọng thương mặc dù có nội dung rất sơ khai và còn chứa đựng nhiều yếu tố đơngiản, phiến diện, chưa cho phép phân tích bản chất bên trong của các sự vật hiện tượng kinh
tế, song đó đã là những tư tưởng đầu tiên của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển nghiên cứu
về hiện tượng và lợi ích của ngoại thương ý nghĩa tích cực của học thuyết này là đối lập với
tư tưởng phong kiến lúc bấy giờ là coi trọng kinh tế tự cung, tự cấp Ngoài ra, những người trọng thương cũng sớm nhận thức được vai trò qua trọng của nhà nước trong quản lý, điều hành trực tiếp các hoạt động kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế quan, bảo hộ mậu dịch trong nước để bảo hộ các ngành sản xuất non trẻ, kiểm soát nhập khẩu, thúc đẩy xuất khẩu
1.2.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Chủ nghĩa trọng thương bắt đầu thoái trào từ thế kỷ 18 Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa trọng thương không thể đáp lại một cách thuyết phục trước những phê phán đối với chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch Vậy nên bắt đầu xuất hiện những tư tưởng kinh tế cố gắng phủ nhậnchủ nghĩa trọng thương cho đến khi trường phái kinh tế học cổ điển được hình thành rõ ràngnhờ Adam Smith, thì chủ nghĩa trọng thương kết thúc
Trong nhiều tác phẩm của mình, trong đó nổi tiếng nhất là cuốn sách “nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia”, Adam Smith đã đề cao vai trò của thương mại , đặc biệt là ngoại thương đã có tác dụng thúc đẩy nhanh sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của các nước, song khác với sự phiến diện của trọng thương đã tuyệt đối hoá quá
Trang 9mức vai trò ngoại thương, ông cho rằng ngoại thương có vai trò rất to lớn nhưng không phảinguồn gốc duy nhất của sự giàu có Sự giàu có không phải do ngoại thương mà là do công nghiệp, tức là do hoạt động sản xuất đem lại chứ không phải do hoạt động lưu thông Theo ông, hoạt động kinh tế (bao gồm cả hoạt động sản xuất và lưu thông) phải được tiến hành một cách tự do, do quan hệ cung cầu và biến động giá cả thị trường quy định Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Đó là câu hỏi cần được giải quyết ở thị trường.Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự do trao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngành sản xuất có lợi thế tuyệtđối, nghĩa là phải biết dựa vào những ngành sản xuất có thể sản xuất ra những sản phẩm có chi phí sản xuất nhỏ hơn so với quốc gia khác, nhưng lại thu được lượng sản phẩm nhiều nhất, sau đó đem cân đối với mức cầu ở mức giá lớn hơn giá cân bằng Chính sự chênh lệch giá nhờ mức cầu tăng lên ở quốc gia khác làm cho nền kinh tế tăng trưởng.
Quan điểm trên thể hiện nội dung cơ bản của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trong thương mại quốc tế Một nước được coi là có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác trong việc chuyên môn hoá sản xuất hàng hoá A khi cùng một nguồn lực có thể sản xuất được nhiều sản phẩm
A hơn là nước thứ 2
1.2.3 Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Lý thuyết về lợi thế so sánh trên đây cho thấy một nước có lợi thế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng hoá, nước đó sẽ thu được lợi ích ngoại thương, nếu chuyên môn hoá sản xuất theo lợi thế tuyệt đối Tuy nhiên, do lý thuyết này chỉ dựa vào lợi thế tuyệt đối nên
đã không giải thích được vì sao một nước có lợi thế tuyệt đối hơn hẳn so với nước khác, hoặc một nước không có lợi thế nào vẫn có thể tích cực tham gia vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế để phát triển mạnh các hoạt động thương mại quốc tế
Khắc phục những hạn chế của lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và cũng trả lời những câu hỏi trên đây, năm 1817, trong tác phẩm nổi tiếng của mình “Những nguyên lý của kinh tế chính trị” nhà kinh tế học cổ điển người Anh David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh, nhằm giải thích tổng quát chính xác hơn về cơ chế xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế Nội dung bao gồm:
- Mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế, bởi vì: phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước Nguyên nhân chính là dochuyên môn hoá sản xuất một số sản phẩm nhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từcác nước khác thông qua con đường thương mại quốc tế
Trang 10- Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối hơn so với các nước khác, vẫn có thể và có lợi khi tham gia vào phân công lao động và quốc tế, vì mỗi nước đều có những lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng khác.
Một trong những điểm cốt yếu nhất của lý thuyết lợi thế so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất
Tóm lại là: Lợi ích thương mại quốc tế bắt nguồn từ sự khác nhau về lợi thế so sánh ở mỗi quốc gia, mà các lợi thế so sánh đó có thể được biểu hiện bằng các chi phí cơ hội khác nhau của mỗi quốc gia, do đó lợi ích của thương mại quốc tế cũng chính là bắt nguồn từ sự khác nhau về các chi phí cơ hội của mỗi quốc gia Chi phí cơ hội cho ta biết chi phí tương đối (chi phí so sánh) để làm ra sản phẩm hàng hoá khác nhau của mỗi quốc gia, hay nói cách khác, khi các chi phí cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống nhau thì không có lợi thế so sánh và cũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích do chuyên môn hoá và thương mại quốc tế Đó cũng là nội dung cơ bản của quy luật lợi thế so sánh đã được David Ricardo khẳng định là: các nước sẽ có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí cơ hội (chi phí so sánh) thấp hơn so với các nước khác Quy luật này đã được nhiều nhà kinh tế khác tiếp tục phát triển, hoàn thiện, trở thành quy luật chiphối động thái phát triển của thương mại quốc tế
1.2.4 Lý thuyết nguồn lực và Thương mại Hecksher - Ohlin.
Chúng ta đã thấy rằng lợi thế so sánh là nguồn gốc những lợi ích của thương mại quốc tế, nhưng lợi thế so sánh do đâu mà có? Vì sao các nước khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau? Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo đã không giải thích được những vấn đềtrên đây Để khắc phục những hạn chế này, hai nhà kinh tế học Thuỵ điển, Eli Hecksher và B.Ohlin trong tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bản 1933, đã phát triển lợi thế so sánh của David Ricardo thêm một bước bằng việc đưa ra mô hình H-O để trình bầy lý thuyết ưu đãi về nguồn lực sản xuất vốn có Lý thuyết này đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế là do trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi quốc gia đều hướng đến
chuyên môn hoá các ngành sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất Nói cách khác, theo lý thuyết H-O, một số nước này có lợi thế
so sánh hơn trong việc sản xuất và xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việcsản xuất những sản phẩm đó đã sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà một trong số nước đó đã được ưu đãi hơn so với một số nước khác Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các
Trang 11yếu tố sản xuất này (bao gồm vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đã khiến một số nước đó có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sản phẩm hàng hoá khác) khi sản xuất những sản phẩm hàng hoá đó.
Như vậy, cơ sở lý luận khoa học của lý thuyết H-O vẫn chính là dựa vào lý thuyết lợi thế
so sánh của David Ricardo, nhưng ở trình độ phát triển cao hơn là đã xác định được nguồn gốc của lợi thế so sánh chính là sự ưu đãi về các yếu tố sản xuất mà kinh tế học phát triển đương đại vẫn gọi là nguồn lực sản xuất Và do vậy, lý thuyết H-O còn được coi là lý thuyết lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có, hoặc vắn tắt hơn là lý thuyết nguồn lực sản xuất vốn có Đó cũng chính là lý thuyết hiện đại về thương mại quốc tế Sau này, nó còn được các nhà kinh tế học nổi tiếng khác như Paul Samuelson, james William tiếp tục
mở rộng và nghiên cứu tỷ mỉ hơn để khẳng định tư tưởng khoa học của định lý H-O hay còn gọi là quy luật H-O về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất, trước đó đã được Hecksher-Ohlin đưa ra với nội dung: một nước sẽ sản xuất loại hàng hoá mà việc sản xuất nó cần sử dụng nhiều yếu tố rẻ và tương đối sẵn có của nước đó và nhập khẩu hàng hoá mà việc sản xuất nó cần nhiều yếu tố đắt và tương đối khan hiếm hơn của nước đó
Tuy còn có những khiếm khuyết lý luận trước thực tiễn phát triển phức tạp của thương mạiquốc tế ngày nay, song quy luật này đang là quy luật chi phối động thái phát triển của thương mại quốc tế và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn quan trọng đối với các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nước kém phát triển, vì vậy nó đã chỉ ra rằng đối với các nước này, đa
số là những nước đông dân, nhiều lao động, nhưng nghèo vốn do đó trong giai đoạn đầu củaquá trình công nghiệp hoá đất nước, cần tập trung xuất khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều lao động và nhập khẩu những hàng hoá sử dụng nhiều vốn Sự lựa chọn các sản phẩm xuất khẩu phù hợp với các lợi thế so sánh về các nguồn lực sản xuất vốn có như vậy sẽ là điều kiện cần thiết để các nước kém và đang phát triển có thể nhanh chóng hội nhập vào sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, và trên cơ sở lợi ích thương mại thu được sẽ thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở những nước này
2 Khái quát về nền kinh tế Việt Nam
2.1 Đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam
2.1.1 Khái quát chung
Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp Trong khi nền kinh tế ngày càng được thị trườnghóa thì sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế vẫn còn ở mức độ cao Hiện tại, nhà nướcvẫn sử dụng các biện pháp quản lý giá cả kiểu hành chính với các mặt hàng thiết yếu như
Trang 12yêu cầu các tập đoàn kinh tế và tổng công ty điều chỉnh mức đầu tư, quyết định giá xăng dầu, kiểm soát giá thép, xi măng, than Tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Đảng ra quyết định về chiến lược phát triển kinh tế xã hội cho thời kỳ 10 năm và phương hướng thựchiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm Trên cơ sở đó, Chính phủ Việt Nam xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hàng năm để trình Quốc hội góp ý và thông qua.
Chính phủ Việt Nam tự nhận rằng kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, và nhiều nước và khối kinh tế bao gồm cả một số nền kinh tế thị trường tiên tiến cũng công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, cho đến nay Hoa Kỳ,
EU và Nhật Bản vẫn chưa công nhận kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường Tổ chức Thương mại Thế giới công nhận Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp và đang chuyển đổi
Biểu đồ 1: So sánh GDP giữaViệt Nam và một số quốc gia và vùng
lãnh thổ khu vực Đông Á và Đông Nam Á, giai đoạn 1980-2014
So sánh quy mô kinh tế (GDP-PPP) trong nền kinh tế toàn cầu giữa Việt Nam và một số quốc gia và vùng lãnh thổ khu vực Đông Á và Đông Nam Á, giai đoạn 1980-2014
Từ hình trên ta thấy nhìn chung quy mô kinh tế (GDP-PPP) của các nước khu vực Đông Á
và Đông Nam Á có chiều hướng tăng qua các năm trong giai đoạn từ 1980-2014 Trong đó Hàn Quốc là 1 trong các nước có tốc độ tăng nhanh và nhiều nhất so với các nước còn lại trong khu vực Năm 1980 đạt 0,8% GDP-PPP , năm 2014 đạt gần 2% GDP-PPP Ta thấy nền kinh tế GDP-PPP tăng trưởng nhanh, cho thấy Hàn Quốc có nền kinh tế có tiềm năng, vừa tạo ra nội lực đi lên, vừa đem đến ngoại lực thu hút đầu tư nước ngoài và lãnh thổ quốc gia mình
Việt Nam và Singapore là nước có chỉ số GDP-PPP thấp nhất so với các nước khu vực Đông Á và Đông Nam Á Năm 1980 hai nước này đạt gần 0,2% GDP-P năm 2014
Singgapore đạt gần 0,4% GDP-PPP và Việt Nam đạt 0,4% GDP-PPP Cho thấy hai nước chỉ
Trang 13số GDP-PPP còn thấp, nền kinh tế còn nhiều khó khăn và còn chậm phát triển so với các nước khác
Kết luận: các nước đều có chỉ số GDP-PPP theo chiều hướng tăng lên và tăng dần theo mức ổn định theo từng năm Các nước phát triển có tốc độ tăng nhanh hơn, nền kinh tế ổn định hơn, còn các nước đang phát triển còn gặp nhiều khó khăn, chưa ổn định nền kinh tế cần phải có chính sách tốt và đầu tư nhiều hơn
Các bộ, ngành của Việt Nam hiện thường chia toàn bộ lãnh thổ Việt Nam thành 7 vùng địa-kinh tế, đó là: Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, cũng còn nhiều cách phân vùng kinh tế khác được áp dụng Ở 3 miền của đất nước có 4 vùng kinh tế trọng điểm làm đầu tàu cho phát triển kinh tế của cả nước và vùng miền Ở ven biển, có 20 khu kinh tế với những ưu đãi riêng để thu hút đầu tư trong và ngoài nước và làm động lực cho phát triển kinh tế của các vùng Ngoài ra, dọc biên giới với Trung Quốc, Lào,
Campuchia có hơn 30 khu kinh tế cửa khẩu, trong đó có 9 khu kinh tế cửa khẩu được ưu tiên phát triển (Móng Cái, Lạng Sơn-Đồng Đăng, Lào Cai, Cầu Treo, Lao Bảo, Bờ Y, Mộc Bài, An Giang, Đồng Tháp) Sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng, hay giữa thành thị và nông thôn
2.1.2 Cơ cấu ngành của nền kinh tế
Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (hay còn gọi 3 ngành lớn) kinh tế, đó là:
• Ngành nông nghiệp: Là tổ hợp các ngành gắn liền với các quá trình sinh học gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Do sự phát triển của phân công lao động xã hội, các ngành này hình thành và phát triển tương đối độc lập, nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau.Nông nghiệp là một ngành cơ bản của nền kinh tế cả nước, vừa chịu sự chi phối chung củanền kinh tế quốc dân, vừa gắn bó mật thiết với các ngành khác trên địa bàn nông thôn, đồng thời lại phản ánh những nét riêng biệt mang tính đặc thù của 1 ngành mà đối tượng sản xuất
Trang 14Công nghiệp nặng: Dầu khí, luyện kim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng….
• Ngành dịch vụ: Đây là một ngành kinh tế ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Dịch vụ bao gồm rất nhiều loại: Thương mại, dịch vụ vận tải hànghoá, hành khách, dịch vụ bưu chính – viễn thông, dịch vụ tài chính tiền tệ như tín dụng, bảo hiểm, kiểm toán, chứng khoán…dịch vụ kỹ thuật, dịchvụ tư vấn, dịch vụ phục vụ đời sống Đối với Việt Nam hiện nay, du lịch đang thực sự trở thành 1 ngành kinh tế mũi nhọn
2.1.3 Thế mạnh phát triển kinh tế xã hội:
a Khu vực đồi núi
-Các thế mạnh:
+Khoáng sản: Khu vực đồi núi tập trung nhiều loại khoáng sản có nguồn gốc nội sinh như đồng, chì, thiếc, sắt, pyrit, niken, crôm, vàng, vonfram…và các khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh như bôxit, apatit, đá vôi, than đá, vật liệu xây dựng Đó là nguyên liệu, nhiên liệucho nhiều ngành công nghiệp
+Rừng và đất trồng: Tạo cơ sở phát triển nền lâm-nông nghiệp nhiệt đới Rừng giàu có về thành phần loài động, thực vật; trong đó nhiều loài quý hiếm tiêu biểu cho sinh vật rừng nhiệt đới
Miền núi nước ta còn có các cao nguyên và các thung lũng, tạo thuận lợi cho việc hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển chăn nuôi đại gia súc.Ngoài các cây trồng, vật nuôi nhiệt đới, ở vùng cao còn có thể trồng được các loài động,thực vật cận nhiệt và ôn đới Đất đai vùng bán bình nguyên và đồi trung du thích hợp để trồng các cây công nghiệp, cây ăn quả và cả cây lương thực
+Nguồn thủy năng: Các con sông ở miền núi nước ta có tiềm năng thủy điện lớn
+Tiềm năng du lịch: Có nhiều điều kiện để phát triển các loại hình du lịch tham quan, nghỉdưỡng….nhất là du lịch sinh thái
-Các mặt hạn chế:
Ở nhiều vùng núi, địa hình chia cắt mạnh, lắm sông suối, hẻm vực, sườn dốc, gây trở ngại cho giao thông, cho việc khai thác tài nguyên và giao lưu kinh tế giữa các vùng Do mưa nhiều, độ dốc lớn, miền núi còn là nơi xảy ra các thiên tai như lũ nguồn, lũ quét, xói mòn, trượt lở đất Tại các đứt gãy sâu còn có nguy cơ phát sinh động đất Các thiên tai khác như lốc, mưa đá, sương muối, rét hại….thường gây tác hại lớn cho sản xuất và đời sống dân cư
b.Khu vực đồng bằng