Bài tập : Tìm hiểu về Bộ ngoại giao Việt Nam Bộ Ngoại giao Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đối ngoại gồm: công tác ngoại giao, biên giới lãnh thổ quốc gia, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, quản lý Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật. Bộ được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945. Bộ trưởng hiện nay là ông Phạm Bình Minh 1. Cơ cấu tổ chức Các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước Vụ Chính sách đối ngoại Vụ Tổng hợp kinh tế Vụ Hợp tác kinh tế đa phương Vụ Đông Bắc Á Vụ Đông Nam Á Nam Á Thái Bình Dương Vụ Châu Âu Vụ Châu Mỹ Vụ Tây Á – Châu Phi Vụ ASEAN Vụ Luật pháp và Điều ước Quốc tế Vụ các Tổ chức quốc tế Cục Lễ tân Nhà nước
Trang 1Bài tập : Tìm hiểu về Bộ ngoại giao Việt Nam
Bộ Ngoại giao Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đối ngoại gồm: công tác ngoại giao, biên giới lãnh thổ quốc gia, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, quản lý Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật
Bộ được thành lập ngày 28 tháng 8 năm 1945 Bộ trưởng hiện nay là ông Phạm Bình Minh
1 Cơ cấu tổ chức
Các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước
Vụ Chính sách đối ngoại
Vụ Tổng hợp kinh tế
Vụ Hợp tác kinh tế đa phương
Vụ Đông Bắc Á
Vụ Đông Nam Á- Nam Á- Thái Bình Dương
Vụ Châu Âu
Vụ Châu Mỹ
Vụ Tây Á – Châu Phi
Vụ ASEAN
Vụ Luật pháp và Điều ước Quốc tế
Trang 2 Vụ các Tổ chức quốc tế
Cục Lễ tân Nhà nước
Vụ Văn hóa Đối ngoại và UNESCO
Vụ Thông tin Báo chí
Vụ Tổ chức Cán bộ
Cục Quản trị Tài vụ
Cục Lãnh sự
Thanh tra Bộ
Văn phòng Bộ
Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
Ủy ban Biên giới Quốc gia
Cục Cơ yếu
Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh
2 Các tổ chức sự nghiệp
Học viện Ngoại giao
Báo Thế giới và Việt Nam
Trung tâm hướng dẫn báo chí nước ngoài
Trung tâm Thông tin
Cục Phục vụ Ngoại giao đoàn
Nhà khách Chính phủ
Trang 3 Xí nghiệp Ô tô V 75
Các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài do Bộ Ngoại giao thống nhất quản lý
Các Đại sứ quán
Các Tổng Lãnh sự quán và Lãnh sự quán
Các Phái đoàn đại diện thường trực của Việt Nam ở nước ngoài và bên cạnh Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế liên chính phủ
Các bộ trưởng
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam
Hồ Chí Minh (từ 2/9/1945 đến 2/3/1946, và từ 3/11/1946 đến tháng 3/1947)
Nguyễn Tường Tam (từ 2/3/1946 đến tháng 5/1946)
Hoàng Minh Giám (từ tháng 3/1947 đến tháng 4/1954)
Phạm Văn Đồng (từ tháng 4/1954 đến tháng 2/1961)
Ung Văn Khiêm (từ tháng 2/1961 đến 30/4/1963)
Xuân Thủy (từ 30/4/1963 đến tháng 4/1965)
Nguyễn Duy Trinh (từ tháng 4/1965 đến tháng 2/1980)
Nguyễn Cơ Thạch (từ tháng 2/1980 đến tháng 7/1991)
Nguyễn Mạnh Cầm (từ tháng 8/1991 đến 28/1/2000)
Nguyễn Dy Niên (từ 28/1/2000 đến tháng 6/2006)
Phạm Gia Khiêm (từ tháng 6/2006 đến 03 tháng 08/2011)
Trang 4 Phạm Bình Minh (từ 03 tháng 08/2011 đến nay)
3 Lịch sử hình thành Bộ Ngoại giao Việt Nam
Việt Nam có hàng nghìn năm lịch sử với một nền ngoại giao tinh tế
và hiển hách, trừ một nghìn năm Bắc thuộc, trải qua các triều đại khác nhau từ Vua Hùng, An Dương Vương, Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và thời đại Hồ Chí Minh Nền ngoại giao mới Việt Nam ra đời cùng với việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2/9/1945, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, nay là nước CHXHCN Việt Nam Lịch sử ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh có thể chia làm 5 giai đoạn chính
- Giai đoạn 1945-1946: Đây là thời kỳ cực kỳ khó khăn của của đất nước nói chung và ngoại giao Việt Nam nói riêng Nhà nước độc lập non trẻ đứng trước vô vàn thử thách (chính quyền vừa ra đời, kinh tế đình đốn, ngân sách trống rỗng, chưa được nước nào công nhận, thiên tai liên miên, đặc biệt
là 30 vạn thù trong, ngoài ra còn có giặc ngoài) Có thể nói nước ta trong hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nay là Đảng cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam đã thực hiện những sách lược hết sức đúng đắn, khôn khéo vừa kiên quyết vừa linh hoạt: lúc hoà với Tưởng, tập trung sức chống Pháp xâm lược ở miền Nam, rồi hoà với Pháp với việc ký kết Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng Ba 1946 để đuổi Tưởng về nước, góp phần giữ vững Nhà nước độc lập non trẻ
- Giai đoạn 1946-1954: Ngoại giao phục vụ cuộc kháng chiến trường
kỳ chống thực dân Pháp xâm lược Ngoại giao đã phối hợp với chiến trường, đấu tranh chính trị chủ động triển khai hoạt động quốc tế, tranh thủ đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới, đặc biệt là hình thành liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia chống kẻ thù chung; xây dựng quan hệ với Thái Lan, Miến
Trang 5Điện, Indonesia, Ấn Độ…Tranh thủ thuận lợi do thắng lợi của chiến dịch biên giới đưa lại, ngoại giao đã thành công thúc đẩy thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại với Việt nam Đầu năm 1950, lần đầu tiên chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Trung Quốc, Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân ở châu Á, Đông Âu Các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành chỗ dựa quan trọng cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Phối hợp với mặt trận quân sự, Việt nam đã tham gia Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương, buộc các nước lớn công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Đông Dương, giải phóng được miền Bắc, đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới
- Giai đoạn 1954-1975: Ngoại giao phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược: Kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Ngoại giao đã trở thành mặt trận, đánh vào hậu phương quốc tế của Mỹ, mở rộng hậu phương quốc tế của Việt Nam, hình thành Mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn, mà nòng cốt là Liên Xô, Trung Quốc, các nước Xã hội chủ nghĩa, các nước Đông dương ủng hộ Việt Nam chống Mỹ cứu nước Đồng thời, ngoại giao đã phối hợp với chiến trường, đấu tranh chính trị, tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam (27/1/1973) Hiệp định Paris là thắng lợi to lớn của ngoại giao Việt Nam, đã buộc Mỹ và các nước liên quan rủt quân khỏi Việt Nam, chấm dứt hoạt động chiến tranh, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam Đó là điều kiện vô cùng thuận lợi dẫn đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc
- Giai đoạn 1975-1986: Đây là thời kỳ ngoại giao phục vụ khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh và bảo vệ Tổ quốc Những năm đầu sau chiến tranh, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hàng chục nước, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa, tranh thủ được sự giúp đỡ về vật chất của nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm khôi phục và phát triển kinh tế sau
Trang 6chiến tranh Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc (9/1977), tham gia Hội đồng tương trợ kinh tế (6/1978), ký Hiệp ước hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô (11/1978) Tuy nhiên, thời kỳ hoà bình xây dựng đất nước không dài, Việt Nam đã buộc phải đưa quân vào Campuchia, giúp nhân dân Campuchia đập tan chế độ diệt chủng và bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia Khôi phục lại tình đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Đông Dương Đó là nguyên nhân trực tiếp (cái cớ) dẫn đến chiến tranh biên giới với Trung Quốc (2/1979) và việc Trung Quốc, các nước phương Tây, ASEAN bao vây, cô lập, cấm vận Việt Nam
Giai đoạn 1986 đến nay: Với Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ
VI (12/1986), Việt Nam đã khởi đầu công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đường lối, chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao Lợi ích cao nhất của dân tộc Việt Nam trong giai đoạn này là "giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế-xã hội" Đó cũng là mục tiêu bao trùm của chính sách đối ngoại Việt Nam Nghị quyết 13 của Bộ chính trị (5/19988)
đã tạo ra bước ngoặt trong đường lối chính sách đố ngoại Việt Nam Các Đại hội tiếp theo từ Đại hội VII(1991), Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001) đến Đại hội X (2006) đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới đã từng bước đước bổ sung, hoàn chỉnh Đó là đưòng lối đối ngoại "độc lập tự chủ, hoà bình , hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá
và đa dạng hoá các quan hệ quốc tế Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam
là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực" ( Văn kiện Đại hội X) Việc thực hiện đường lối chính sách đối ngoại trên đã và đang gặt hái được những thành công quan trọng có ý nghĩa lịch sử Với việc rút hoàn toàn quân đội khỏi Cămpuchia, vấn đề Campuchía được giải quyết, Việt Nam đã phá được bao vây, cấm vận và không ngừng mở rộng quan hệ quốc tế theo hướng đa
Trang 7dạng hoá và đa phương hoá; bình thường hoá và từng bước xác lập khuôn khổ quan hệ ổn định lâu dài với tất cả các nước lớn, các nước công nghiệp phát triển (cho đến nay Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 172 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, có quan hệ kinh tế với hơn 220 thị trường nước ngoài và
là thành viên của nhiều tổ chúc và diến đàn quốc tế như Liên hợp quốc (1977), Phong trào Không liên kết (1976), Tổ chức Pháp ngữ (1986), ASEAN (1995) Diễn đàn hợp tác Á-Âu ASEM (1996), Diền đàn hợp tác kinh tế khu vực châu Á- Thái Bình Dương APEC ,1998 ); giải quyết ổn thoả nhiều tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, giữ vững môi trường hoà bình; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tranh thủ nhiều ODA, FDI, mở rộng thị trường ngoài nước; tăng cường ngoại giao đa phương Các sự kiện lớn của ngoại giao Việt Nam trong những năm gần đây là : Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị cấp cao VII tổ chức Pháp ngữ 1997), Hội nghị cấp cao ASEAN VII (1998), Hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác Á-ÂU V ( 2004), Hội nghị thượng đỉnh APEC 14 (2006) … Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thưong Thế giới WTO (11/2006) , Hoa Kỳ dành cho Việt Nam quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (11/2006)
Nguyên nhân cơ bản của những thành tựu đối ngoại là Việt Nam có đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam là bạn và đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực
Sự nghiệp đổi mới đang tiếp diễn Mục tiêu của Việt Nam đến năm
2020 là cơ bản trở thành nước công nghiệp, hiện đại, là dân giàu, nước mạnh
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
2 Đặc điểm nổi bật của chính sách đối ngoại, ngoại giao Việt Nam
Trang 8Chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh có những đặc điểm chính sau đây:
- Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam, là con đường giải phóng đúng dắn phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội Việt Nam và xu thế thời đại
Tư tưởng độc lập gắn liền với chủ nghĩa xã hội chỉ đạo nhận thức và hành động trong triển khai đường lối, chính sách đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam
- Độc lập tự chủ, tự lực tự cường; đồng thời tăng cường đoàn kết quốc
tế và mở rộng hợp tác quốc tế
Độc lập tự chủ thể hiện trong nhận thức, trong quyết sách và thực hiện đường lối, chính sách Độc lập tự chủ, đảm bảo lợi ích chính đáng của dân tộc
là nguyên tắc và nhiện vụ hàng đầu của ngoại giao Việt Nam Sự giúp đỡ hợp tác quốc tế là quan trọng
Độc lập tự chủ, tự lực tự cường, không có nghĩa là biệt lập với bên ngoài; ngược lại trên cơ sở độc lập tự chủ, cần phải mở rộng đoàn kết, hợp tác quốc tế, xử lý đúng đắn các vấn đề liên quan giữa dân tộc và thời đại, giữa Việt Nam và thế giới Trong hoạt động đối ngoại chú ý vấn đề tập hợp lực lượng quốc tế, tạo thêm thế và lực Mặt khác thành tựu đấu tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam, thúc đẩy thế giới tăng cường hợp tác với Việt Nam Ngoài ra, tiếp nhận sự giúp đỡ của quốc tế phải đi liền với làm nghĩa vụ quốc tế
- Kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại
Trang 9Cách mạng tháng Mười Nga mở thời ra đại mới- thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh là người Việt Nam yêu nước đầu tiên đặt cách mạng Việt Nam trong quan hệ với thế giới Sau chiến tranh thế giới II, trên thế giới xuất hiện điều kiện thuận lợi cho các dân tộc phát huy sức mạnh của mình, kết hợp với sự giúp đỡ quốc tế Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Việt Nam đã kết hợp được sức mạnh dân tộc
và thời đại Đó chính là một trong các nhân tố thắng lợi của đấu tranh giành
và bảo vệ độc lập dân tộc Sức mạnh dân tộc là tinh thần, truyền thống, lịch
sử, quân sự, kinh tế, văn hóa, trước hết là sức mạnh đoàn kết toàn dân Sức mạnh thời đại là các xu thế như hoà bình, hợp tác, phát triển Cách mạng khoa KHCN, … toàn cầu hoá Phải kết hợp được sức mạnh dân tộc và thời đại trong sự nghiệp đổi mới
- Xây dựng, phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước láng giềng; quan tâm xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn Việt Nam có câu "bán anh em xa, mua láng giềng gần" Láng giềng gần liên quan chặt chẽ đến an ninh và phát triển của Việt Nam nên quan hệ với láng giềng luôn là hướng ưu tiên cao trong chính sách đối ngoại của Việt Nam Chính sách của chúng ta là láng giềng thân thiện bình đẳng, hợp tác cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Những bất đồng được giải quyết bằng thương lượng Trong thời đại toàn cầu hoá, Việt Nam chú trọng đẩy mạnh liên kết kinh tế quốc tế, liên kết khu vực, duy trì phát triển quan hệ láng giềng ổn định Việt Nam đẩy mạnh hợp tác trong ASEAN, với các tam, tứ giác phát triển trong khu vưc…
Các nước lớn có vai trò, vị trí quan trọng trong quan hệ quốc tế Cho nên quan hệ với nước lớn cũng là ưu đối ngoại của Việt Nam Chính vì vậy, Việt Nam đã chú trọng phát triển quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ, với Liên minh châu Âu…
Trang 10- Coi trọng phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hoá ở các cấp, ở trung ương và địa phương
Có kết hợp mới tạo sức mạnh tổng hợp Đó là quy luật của đấu tranh dựng nước và giữ nước của Việt Nam Bên cạnh kết hợp giữa các ngành, còn phải kết hợp các binh chủng ngoại giao như: ngoại giao Nhà nước, ngoại giao Đảng, ngoại giao nhân dân
- Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại của Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao là hệ thống những nguyên lý, quan điểm, quan niệm về các vấn đề thế giới, thời đại, về đường lối quốc tế, chiến lược, sách lược, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam trong thời
kỳ hiện đại Tư tưởng này còn thể hiện trong hoạt động đối ngoại thực tiễn của Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Nội dung cơ bản tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh: các quyền dân tộc
cơ bản; độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với đoàn kết quốc tế; kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại; hòa bình, chống chiến tranh; hữu nghị, hợp tác với láng giềng; coi trong quan hệ với các nước lớn; ngoại giao là một mặt trận Ngoài tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn để lại phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Đó là phương pháp: dự báo và nắm bắt thời cơ; ngoại giao tâm công; dĩ bất biến, ứng vạn biến Phong cách ngoại giao: tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo; phong cách ứng
xử linh hoạt; phong cách nói giản dị, dễ cảm hoá và thuyết phục; phong cách viết ngắn gọn, hàm súc, dễ hiểu Nghệ thuật: vận dụng nhuần nhuyễn năm cái biết ( Biết mình; biết người; biết thời, biết thế; biết dừng và biết biến); nhân nhượng có nguyên tắc; lợi dụng mâu thuẫn đối phương