1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Tư pháp quốc tế: TỐ TỤNG DÂN SỰ ĐỐI VỚI VỤ VIỆC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP VIỆT NAM

32 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 483,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây được xem là trình tự và thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, tại hệ thống cơ quan tư pháp quốc gia theo pháp luật tố tụng của chính nước đó xây dựng hoặc công

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

KHOA LUẬT KINH TẾ

BÀI TIỂU LUẬN

Giảng viên: Bành Quốc Tuấn

TP.HCM, tháng 07, năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ ĐỐI VỚI VỤ VIỆC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP TƯ QUỐC TẾ VIỆT NAM 2

1.1 Khái quát chung 2

1.1.1 Khái niệm vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 2

1.1.2 Đặc điểm của giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 4

1.1.3 Vai trò của việc giải quyết các vụ việc tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài 5

1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 6

1.2 Công nhận và thi hành án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam 9

1.2.1 Nguyên tắc công nhận 9

1.2.2 Trình tự, thủ tục công nhận 10

1.2.3 Các trường hợp không công nhận 11

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 14

2.1 Thực trạng thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Toà án 14

2.1.1 Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam 15

2.1.2 Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam 16

2.1.3 Không thay đổi thẩm quyền của Tòa án Việt Nam 16

2.2 Thực trạng quy định về địa vị pháp lý trong lĩnh vực tố tụng của người nước ngoài 17

2.3 Thực trạng quy định của pháp luật về năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài 17

2.4 Thực trạng về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài: 18

2.4.1 Về xử lý đơn khởi kiện 18

2.4.2 Giai đoạn chuẩn bị xét xử: 20

2.4.3 Phiên tòa sơ thẩm 22

2.4.4 Kháng cáo và phiên toà phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ 22

2.5 Về vấn đề ủy thác tư pháp 23

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ĐỐI VỚI VỤ VIỆC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM 25

KẾT LUẬN 29

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

Trang 3

ra, những vụ việc phát sinh từ các quan hệ dân sự, kinh tế, lao động hôn nhân gia đình (dân sự theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng phổ biến Vậy nên cần

có những cơ chế rõ ràng, phù hợp để giải quyết, từ đó mới có thể giữ chân và thu hút thêm nhiều nhà đầu tư, thúc đẩy các giao lưu dân sự quốc tế, góp phần đẩy mạnh hội nhập quốc tế

Để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn, trong những năm qua Nhà nước ta đã xây dựng những quy định pháp luật để điều chỉnh những vấn đề này trong Bộ Luật dân sự Trong quá trình thực thi, những quy định này đã phát huy được chức năng của mình Trong

phạm vi đề tài “Tố tụng dân sự đối với những vụ việc có yếu tố nước ngoài trong Tư

pháp quốc tế Việt Nam”, nhóm tác giả sẽ khái quát những quy định của pháp luật tố

tụng dân sự có yếu tố nước ngoài nhằm nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm về lý luận cũng như thực tiễn, từ đó đưa ra một số đề xuất hoàn thiện pháp luật

Trang 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỐ TỤNG DÂN SỰ ĐỐI VỚI

VỤ VIỆC CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP TƯ QUỐC TẾ

VIỆT NAM 1.1 Khái quát chung

Trong xu hướng quốc tế, các giao dịch dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng tăng mạnh Không thể phủ nhận những giá trị mà quá trình hội nhập quốc tế mang lại Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng kéo theo những tranh chấp dân sự giữa công dân, pháp nhân các nước Vì vậy, trong nội dung chương này sẽ giới thiệu về tố tụng dân sự về vụ việc có yếu tố nước ngoài Đây được xem là trình tự và thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, tại hệ thống cơ quan tư pháp quốc gia theo pháp luật tố tụng của chính nước đó xây dựng hoặc công nhận thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án

1.1.1 Khái niệm vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

1.1.1.1 Khái niệm vụ việc có yếu tố dân sự nước ngoài

Các nước trên thế giới đã có quan điểm khác nhau về quan niệm yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự Yếu tố nước ngoài được xác định thường dựa vào một trong ba dấu hiệu: có chủ thể nước ngoài; khách thể của quan hệ đó được thực thi ở nước ngoài hoặc được xác lập theo luật nước ngoài và cuối cùng là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự đó ở nước ngoài Việc nhận diện yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự là hết sức cần thiết, đấy chính là dấu hiệu phân biệt đối tượng điều chỉnh giữa tư pháp quốc tế với luật dân sự nói chung

Ở Việt Nam, đã định nghĩa quan hệ hay vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong một số văn bản quy phạm pháp luật nhất định So với các văn bản quy phạm pháp luật trước đây, thì Bộ luật Dân sự 2015 đã đưa ra khái niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đầy đủ hơn.Cụ thể, quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; các bên tham gia đều là cá nhân

Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt

quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự này ở nước ngoài1

Tương tự Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 phân loại vụ việc

có yếu tố nước ngoài dựa trên hai tiêu chí cơ bản : Quốc tịch của đương sự và nơi xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự; quốc tịch của đương sự và nơi có đối

1Khoản 2, Điều 663 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 5

tượng của quan hệ dân sự cần được thực hiện Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 không sử dụng yếu tố “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” để làm căn cứ xác định vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Bên cạnh đó, Bộ luật cũng xác định tiêu chí yếu tố nước ngoài dựa trên “đối tượng của quan hệ dân sự ở nước ngoài” là tài sản ở nước ngoài và công việc thực hiện ở nước ngoài Ngoài ra cả hai bộ luật cũng đã quy định rõ về việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, kết hôn là cơ sở để xác lập quan hệ hôn nhân Để xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ kết hôn cần dựa vào dấu hiệu xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân Trong đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài2

Trong xã hội hiện đại, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển, do vậy, quan niệm về yếu tố nước ngoài chỉ có thể dừng lại ở việc xác định những yếu tố chung nhất, liên quan đến yếu tố nước ngoài Ở từng lĩnh vực cụ thể của quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, còn nhiều vấn đề khác nhau phải làm rõ về yếu tố nước ngoài

Cụ thể, nếu muốn xác định vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài hay không cần căn cứ vào chủ thể, sự kiện pháp lý, đối tượng tranh chấp3 Theo cách tiếp cận của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định dựa theo tiêu chí quốc tịch đương sự, nơi xảy ra sự kiện pháp lý và nơi có đối tượng tranh chấp Nói chung, qua các khái niệm nêu trên, chúng ta đã có thể hiểu rõ vụ việc dân sự

có yếu tố nước ngoài là những tranh chấp dân sự thuộc một trong các trường hợp sau:

có ít nhất một bên tham gia là các cá nhân,tổ chức, cơ quan nước ngoài; các bên tham gia đều là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là cá nhân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài, được các bên khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền, Tòa án thụ lý giải quyết thành một vụ việc

1.1.1.2 Giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Theo quy định tại Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền, trình

tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Chương XXXVIII Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Trường hợp Chương này không quy định thì áp dụng các quy định khác liên quan của Bộ luật tố tụng dân sự năm

2 Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

3 Điều 464 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015

Trang 6

2015 như quy định về thủ tục khởi kiện và thụ lý, lập hồ sơ, hòa giải, xét xử sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết Việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phải trên cơ sở nguyên tắc bảo đảm thực hiện các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh

tế, mở rộng quan hệ quốc tế; bảo đảm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bình đẳng

và cùng có lợi Có thể hiểu giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là việc Tòa

án dùng những các thức phù hợp trên cơ sở của pháp luật nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn của các bên bị xâm hại, đồng thời buộc bên vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định do hành vi của họ gây ra Tòa án đóng vai trò là cơ quan tài phán có quyền nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài buộc các bên có nghĩa vụ thi hành

Trong thực tế, giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là một vấn đề phức tạp, bởi vì cơ chế pháp lý này không chỉ bó hẹp trong phạm vi quốc gia mà luôn liên quan đến quan hệ nước ngoài, có tính chất quốc tế Do đó, giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đang là một thách thức được đặt ra trong bối cảnh hiện nay đối với Tòa án, giải quyết đúng pháp luật vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài góp phần duy trì

ổn định trật tự an toàn xã hội trong nước và quốc tế

1.1.2 Đặc điểm của giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Cũng như giải quyết vụ việc dân sự nói chung, giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, quyết định, bản án của Tòa án có tính bắt buộc thi hành đối với các bên

và được đảm bảo bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước;

Thứ hai, các phán quyết của Tòa án được thông qua theo đa số do vậy sẽ hạn chế

sai sót, vụ việc có thể được giải quyết lại ở cấp xét xử cao hơn nếu kết quả giải quyết không được các bên chấp nhận và kháng cáo hoặc việc giải quyết của Tòa án có vi phạm pháp luật bị phát hiện và kháng nghị;

Thứ ba, Lệ phí Tòa án thường thấp hơn so với lệ phí cơ quan tài phán khác là

Trọng tài;

Đây là giải pháp mà các bên có thể tính đến khi các phương án giải quyết tranh chấp khác không có giá trị khả thi, ví dụ như tranh chấp về hôn nhân và gia đình với yêu cầu ly hôn thì chỉ có lựa chọn duy nhất là khởi kiện tại Tòa án

Ngoài ra, giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài bằng Tòa án còn có những đặc trưng riêng so với giải quyết vụ việc dân sự thông thường, đó là :

Trang 7

Thứ nhất,về thẩm quyền xét xử: khi giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, việc xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia nào xét xử vụ kiện rất quan trọng,

dễ làm nảy sinh vấn đề xung đột về thẩm quyền Tòa án giữa các quốc gia;

Thứ hai,về thủ tục tố tụng: Tòa án các nước thường áp dụng luật tố tụng của nước mình để giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, trừ những trường hợp đặc biệt nhất định Trong quá trình giải quyết, Tòa án thường phải thông qua việc thực hiện

uỷ thác tư pháp quốc tế;

Thứ ba, về áp dụng luật nội dung: Tòa án có thể áp dụng pháp luật nước ngoài để

giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài;

Cuối cùng, về yếu tố ảnh hưởng: giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực Tư pháp giữa các quốc gia liên quan đến quan hệ tranh chấp

1.1.3 Vai trò của việc giải quyết các vụ việc tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài

Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó bao gồm cả việc giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo tố tụng tại Tòa án gắn liền với quyền lực Nhà nước, Tòa án nhân danh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam giải quyết vụ việc bằng tuyên một bản án, quyết định Bản án, quyết định của Tòa án mang tính chất bắt buộc thi hành đối với các bên và được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài bằng Tòa án có vai trò đặc biệt quan trọng và thường được coi là giải pháp cuối cùng để giải quyết dứt điểm tranh chấp khi các phương thức khác không có hiệu quả

Vai trò của Tòa án trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được xét trên các phương diện:

Về phương diện chính trị: Thông qua việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố

nước ngoài tại Tòa án một quốc gia sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác trong lĩnh vực tư pháp giữa các quốc gia, qua đó khẳng định tính độc lập và tự quyết của cơ quan tài phán thuộc quốc gia đó

Về phương diện kinh tế: Giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài có ý nghĩa

rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế Hợp tác giải quyết tốt các tranh chấp dân sự

có yếu tố nước ngoài giữa các quốc gia sẽ xác lập hành lang pháp lý cho quan hệ dân

sự có yếu tố nước ngoài trên phạm vi quốc tế, thúc đẩy giao lưu dân sự hợp pháp giữa các nước, hạn chế tranh chấp xảy ra Bên cạnh đó, cho phí Tòa án thấp hơn so với các phương thức giải tranh chấp khác như Trọng tài, từ đó giảm bớt gánh nặng tài chính

Trang 8

cho các đương sự Việc đảm bảo cho quyết định, bản án Tòa án được thi hành ở các quốc gia sẽ khuyến khích sự thỏa thuận giữa các bên trong tranh chấp

Về phương diện pháp luật: Thông qua việc giải quyết các vụ việc dân sự có yếu

tố nước ngoài, pháp luật điều chỉnh vấn đề này phát huy được vai trò trong đời sống xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào quan

hệ pháp luật cần bảo vệ; khôi phục lại trật tự của quan hệ pháp luật dân sự Qua đó, giúp các nước có điều kiện trao đổi kinh nghiệm, hiểu biết pháp luật của nhau, từ đó hoàn thiện hơn pháp luật nước mình

1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Những nguyên tắc cơ bản về giải quyết tranh chấp trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo mang tính bắt buộc chung, thể hiện tập trung nhất quán quan điểm chính trị, pháp lý và cách xử sự giữa các quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản, quan trọng nhất, quyết định nội dung, quy trình giải quyết tranh chấp trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Các nguyên tắc được

các quốc gia thừa nhận đó là : Tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia; tôn trọng quyền

miễn trừ Tư pháp và Nhà nước nước ngoài và những người hưởng quyền miễn trừ Tư pháp; Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng; Nguyên tắc có đi có lại cũng có lợi: Nguyên tắc luật Tòa án

1.1.4.1 Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia

Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia là nguyên tắc cơ bản, có vai trò đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự quốc tế Theo quan niệm hiện nay, chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập đầy đủ về mặt lập pháp, hành pháp, tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó Chủ quyền quốc gia bao gồm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế, không một chủ thể nào được đứng trên chủ quyền quốc gia, được đưa

ra các mệnh lệnh buộc các quốc gia khác phải phục tùng Cơ sở pháp lý của nguyên tắc này được ghi nhận trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc, trong đại đa số các tổ chức quốc tế và khu vực, trong các Điều ước quốc tế song phương và đa phương, được thể chế rõ ràng trong pháp luật Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, nguyên tắc này được thể hiện trong việc các quốc gia có quyền xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật

và hệ thống cơ quan Tư pháp với chế độ tố tụng độc lập, xác lập thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt của Tòa án quốc gia mình, được tham gia các Điều ước quốc tế, được áp dụng nguyên tắc có đi có lại, được từ chối áp dụng luật nước ngoài

Trang 9

Nguyên tắc này là cơ sở hình thành, bao hàm nội dung các nguyên tắc khác nhằm đảm bảo cho quy trình tố tụng dân sự quốc tế được vận hành một cách thông suốt trên phạm vi toàn cầu, các tranh chấp dân sự quốc tế được giải quyết khách quan, công bằng,

là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Luật quốc tế

1.1.4.2 Nguyên tắc tôn trọng quyền miễn trừ Tư pháp của Nhà nước nước ngoài và những người được hưởng quyền miễn trừ Tư pháp

Khi tham gia vào các quan hệ Tư pháp quốc tế, các quốc gia được hưởng quyền miễn trừ, trong đó quan trọng nhất là quyền miễn trừ Tư pháp Cơ quan pháp lý của nguyên tắc này được ghi nhận rải rác trong Điều ước quốc tế, điển hình nhất là Công ước Liên Hiệp quốc về quyền miễn trừ tài phán

Nội dung của nguyên tắc này là : Quốc gia được miễn trừ xét xử bất cứ tại Tòa án của quốc gia nào Nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một Tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết mà quốc gia đó là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự) Các tranh chấp liên quan đến quốc gia phải được giải quyết bằng con đường thương lượng hoặc con đường ngoại giao, trừ khi quốc gia từ bỏ quyền này; quốc gia được miễn trừ đối với các viện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn; miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng pháp cưỡng chế thi hành quyết định trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho các tổ chức

cá nhân nước ngoài kiện, không đồng ý cho Tòa án xét xử

Những người đại diện cho quốc gia được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao và lãnh sự, quyền này được hình thành trên cơ sở chủ quyền quốc gia được pháp luật quốc

tế ghi nhận và đảm bảo Quyền ưu đãi, miễn trừ này bao gồm về Tư pháp, thân thể và tài sản Nội dung cụ thể của quyền miễn trừ Tư pháp của người có thân phận ngoại giao được thể hiện đó là: Tham gia các vụ kiện liên quan đến bất động sản, thừa kế, các hoạt động nghề nghiệp thương mại mà viên chức ngoại giao đó thực hiện ở nước sở tại không nhân danh quốc gia mà nhân danh cá nhân mình Quyền miễn trừ này cũng chỉ mang tính tương đối và sẽ chấm dứt khi chức năng đại diện của các viên chức ngoại giao kết thúc

Trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án có thẩm quyền của các quốc gia đều phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền miễn trừ Tư pháp của Nhà nước

và những người được quyền miễn trừ Tư pháp Những hành vi ngược lại với nguyên tắc này là vi phạm pháp luật quốc tế, tất yếu dẫn đến những hệ quả xấu gây ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao của các nước

1.1.4.3.Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng

Trang 10

Trong tố tụng dân sự quốc tế thì đây là một nguyên tắc quan trọng Nội dung của nguyên tắc đô là: Các bên tham gia tố tụng là công dân nước sở tại, người nước ngoài, giữa những người nước ngoài với nhau trong quan hệ dân sự nói chung đều có quyền bình đẳng trong việc khởi kiện, tham gia tố tụng, nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ, thực thi nghĩa vụ, trừ một số trường hợp ngoại lệ theo quy định của pháp luật Cơ sở pháp lý của nguyên tắc này được ghi nhận trong các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia

Pháp luật Việt Nam cũng thừa nhận nguyên tắc này, theo đó, người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được quyền khởi kiện tại Tòa án Việt Nam và tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật Việt Nam

1.1.4.4 Nguyên tắc có đi có lại cùng có lợi

Đây là một nguyên tắc cơ bản của Tư pháp quốc tế, có ý nghĩa rất quan trọng trong việc vận dụng các nội dung cũng như điều kiện áp dụng trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Nguyên tắc có đi có lại được áp dụng giữa các quốc gia khi không có Điều ước quốc tế hoặc Điều ước quốc tế không thể thực hiện được Nội dung nguyên tắc này là: Một quốc gia sẽ áp dụng các quy chế pháp lý của các bên tham gia tố tụng, xác định thẩm quyền của Tòa án, xác định luật áp dụng để giải quyết tranh chấp, thực hiện các hành vi tương trợ tư pháp và các chế độ khác trong các văn kiện pháp lý quốc tế đối với quốc gia khác một cách có đi có lại Bên cạnh đó, nguyên tắc có

đi có lại còn được quốc gia áp dụng để xác định các hành vi tố tụng liên quan đến các chủ thể nước ngoài giống như các chủ thể của nước này đã, đang được hưởng ở quốc gia đó Chế độ có đi có lại thể hiện dưới hai dạng có đi có lại thực chất và có đi có lại hình thức Xu thế áp dụng nguyên tắc có lại hình thức hiện nay đang phổ biến hơn trên thế giới, Việt Nam cũng theo xu thế này

Áp dụng nguyên tắc có đi có lại là nhu cầu khách quan để phát triển mối quan hệ quốc tế cùng có lợi giữa các quốc gia Nguyên tắc này có ưu điểm như là một giải pháp cấp thiết để giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng và tranh chấp quốc tế nói chung nhưng cũng là biện pháp trả đũa giữa các quốc gia

1.1.4.5 Nguyên tắc Luật Tòa án

Trong tố tụng dân sự quốc tế, tất cả các nước trên thế giới đều áp dụng nguyên tắc này Nội dung của nguyên tắc này là: khi giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án có thẩm quyền luôn áp dụng pháp luật tố tụng nước mình, trừ trường hợp ngoại lệ được quy định trong các Điều ước quốc tế Cũng như các nước trên thế giới, khi giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án Việt Nam áp dụng pháp luật tố tụng Việt Nam, trừ trường hợp trong Điều ước quốc tế có quy định khác nhau nhưng cũng không được mâu thuẫn với pháp luật Việt Nam

Trang 11

Những nguyên tắc cơ bản như trên luôn có mối quan hệ gắn bó, bổ sung cho nhau làm nền tảng cho hoạt động của Tòa án các quốc gia, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự khi giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, thúc đẩy phát triển giao lưu dân sự quốc tế

1.2 Công nhận và thi hành án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam

Nguyên tắc công nhận và cho thi hành phải có điều ước quốc tế: Theo quy định

của nguyên tắc này, Việt Nam sẽ được xem xét công nhận và cho thi hành những bản

án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài được quy định tại Điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Pháp luật ở mỗi quốc gia luôn đưa ra những điều kiện, hình thức hay tiêu chí khác nhau để xem xét các điều kiện công nhân và thi hành án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài Đây được xem là các quy định chủ yếu về điều kiện hình thức Các điều kiện để cho công nhận và thi hành các bản án, quyết định dân sự của tòa

án nước ngoài tại Việt Nam hiện được quy định trong các HĐtương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước, trong Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận từ rất sớm trong các văn bản pháp luật về công nhận và cho thi hành ở Việt Nam như Pháp lệnh công nhận và thi hành của Việt Nam bản án, quyết định dân

sự của Tòa án nước ngoài năm 1993, Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011)

Nguyên tắc có đi có lại: Theo nguyên tắc này, Việt Nam sẽ xem xét công nhận và

cho thi hành những bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng

4 Điều 423 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

Trang 12

là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại Lẽ thông thường các quốc gia giải quyết vấn đề công nhận và thi hành bản án của tòa án nước ngoài bằng cách ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế; áp dụng nguyên tắc có đi có lại; áp dụng các điều kiện công nhận do luật trong nước quy định Và điều đó cũng có thể ngầm hiểu rằng việc ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế thực chất cũng là một hình thức của việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại Đây là nguyên tắc có nguồn gốc từ nguyên tắc thân thiện quốc gia (comity)5 Nguyên tắc thân thiện quốc gia ngầm định rằng thân thiện quốc gia đòi hỏi sự có đi có lại để có sự ngang bằng (equality)6 Vì vậy sự thân thiện không đòi hỏi một nước công nhận bản án của một nước thứ hai mà nước này đã không công nhận bản án của nước thứ nhất7 Nhìn chung, xuất phát từ nội dung nguyên tắc này, các nước cũng mang một hy vọng rằng đây là công cụ để buộc các quốc gia khác

sẽ công nhận bản án của tòa án quốc gia mình và vì vậy có thể bảo vệ quyền lợi của công dân và pháp nhân nước mình ở nước ngoài

Nguyên tắc đương nhiên công nhận: Theo nguyên tắc này, bản án, quyết định dân

sự của tòa án nước ngoài được đương nhiên công nhận tại Việt Nam sẽ thuộc một trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, bản án quyết định hôn nhân và gia đình, lao động của Tòa án nước ngoài

hoặc quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tại Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Thứ hai, bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình không mang tính chất tài sản

của Tòa án nước ngoài hoặc quyết định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Việt Nam chưa cùng là thành viên Điều ước quốc tế không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam

1.2.2 Trình tự, thủ tục công nhận

Đương sự có quyền gửi đơn yêu cầu của là người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, đương sự, người có quyền lợi ích hợp pháp liên quan cũng có thể

5 Công nhận và thi hành bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài: phải chăng nguyên tắc có đi

có lại là giải pháp?-Tạp chí khoa học 2004 (Dư Ngọc Bích)

6 Savigny.V (1849), được trích dẫn bởi Lenhoff A “Reciprociry: The Legal espect of a Perennial Idea” (1954) 49 Northwestern University Law Review 752, tr 763, 772

7 Hilton v Guyot 159 US 113 (1895) tại 212, được trích dẫn bởi Niv Tadmore “Recognition of foreign

in personam money judgements in Australia”, Deakin Law review 2 (1995), tr 135

Trang 13

gửi đơn yêu cầu không công nhận bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài thủ tục yêu cầu công nhận bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài được thực hiện như sau :

Thứ nhất, trong thời hạn 3 năm kể từ ngày bản án quyết định dân sự của tòa án

nước ngoài có hiệu lực pháp luật người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định cùng là thành viên hoặc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền quy định tại Bộ luật này để yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự đó (Trường hợp bất khả kháng thì thời gian được kéo dài hơn) Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền

Thứ hai, Tòa án có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo cho các bên liên quan

trong thời hạn 05 ngày và chuẩn bị mở phiên tòa xét đơn8 Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên họp do một hội đồng gồm ba thẩm phán, hội đồng xét đơn yêu cầu không xét xử lại vụ ấy mà chỉ kiểm tra đối chiếu bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, các giấy tờ tài liệu theo kèm theo đơn yêu cầu của các quy định của Bộ luật

Tố tụng 2015 các quy định khác của pháp luật Việt Nam

Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành hội đồng xét đơn không được xét xử lại vụ việc đã được tòa án nước ngoài ra bản án, quyết định Tòa án chỉ được kiểm tra đối chiếu bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, các giấy tờ tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại chương XXXIV và chương XXXVI của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, các quy định khác có liên quan pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận hoặc không công nhận bản án quyết định đó Sau khi xem xét đơn Hội đồng có quyền

ra quyết định công nhận và cho thi hành án tại Việt Nam hoặc quyết định không công nhận bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

1.2.3 Các trường hợp không công nhận

Trong pháp luật Việt Nam hiện nay, dường như vẫn chưa có các quy định về điều kiện cụ thể để công nhận hiệu lực và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài tại Việt Nam Bởi lẽ, việc này sẽ khó khăn trong việc công nhận do sự khác biệt trong hệ thống tư pháp và tố tụng của các quốc gia Song, pháp luật cũng có quy định về những trường hợp không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết

8Điều 436, Bộ Luật tố tụng dân sự 2015L tố tụng dân sự 2015

Trang 14

định dân sự của tòa án nước ngoài tại điều 439 bộ luật dân sự bao gồm 8 trường hợp sau:

Thứ nhất, bản án quyết định dân sự của tòa án nước ngoài không đáp ứng được

một trong các điều kiện để được công nhận quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đây được đánh giá là một quy định mới nhằm đảm bảo việc công nhận và cho thi hành bản án quyết định dân sự của tòa án những nước đã ký hiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam thì cần tôn trọng các quy định của Hiệp định và phải công nhận bản án theo quy định của điều ước quốc tế

Thứ hai, bản án quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định pháp

luật của nước có Tòa án đã ra bản án quyết định đó Đây là một trong các điều kiện tiên

quyết và cần thiết để tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, trường hợp những bản án do tòa án nước ngoài tuyên nhưng chưa có hiệu lực mà đương sự đã yêu cầu tòa án Việt Nam công nhận, thì tòa án Việt Nam sẽ không công nhận Về mặt thủ tục, đương sự yêu cầu tòa án Việt Nam công nhận và thi hành phải gửi bản án quyết định đã có xác nhận là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo nơi xét xử

Thứ ba, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng

mặt tại phiên tòa của tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của tòa án nước ngoài không được tống đạt cho họ trong một thời gian hợp lí theo quy

định của pháp luật của nước có tòa án nước ngoài đó để họ thực hiện quyền tự bảo vệ

Trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng thì hầu hết các nước đều có quy định

về quyền được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể trước các cơ quan tài

phán phải được đảm bảo Và dường như sẽ không có hạn chế hoặc tước đi quyền của đương sự trong việc bảo vệ quyền lợi của mình kể cả các cơ quan tài phán của nước ngoài Vì vậy, nếu bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài vi phạm nguyên tắc này thì có thể coi là căn cứ để tòa án Việt Nam không công nhận hiệu lực bản án, quyết định đó trên lãnh thổ Việt Nam

Thứ tư, Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không có thẩm quyền giải quyết vụ

việc dân sự đó Đây là những trường hợp mà vấn đề thẩm quyền của tòa án Việt Nam

sẽ được tách ra riêng biệt, do tính chất đặc biệt của loại vụ việc có liên quan mật thiết với cơ quan tài phán Việt Nam ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước Việt Nam Vụ việc dân sự này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của tòa án Việt Nam hoặc của tòa án nước ngoài đã được tòa án Việt Nam công nhận hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lý vụ việc, tòa án Việt Nam thụ lý và đang giải quyết

vụ việc Quy định này nhằm hạn chế tình trạng xung đột thẩm quyền hoặc “đã phán quyết” trong một vụ việc Nếu là vụ việc đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của tòa án Việt Nam hoặc tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ

Trang 15

việc đó, hoặc của tòa án nước ngoài đã được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành thì bản án, quyết định dân sự được yêu cầu sẽ không thể được công nhận hiệu lực tại Việt Nam

Thứ năm, đã hết thời hiệu thi hành theo pháp luật của nước có tòa án đã ra bản án,

quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam Quy định này được đánh giá là khá chặt chẽ, liên quan đến điều kiện về hình thức của việc công nhận bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, vì đã được công nhận hiệu lực tại Việt Nam, bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài phải đảm bảo đang trong thời thời hiệu được thi hành án theo pháp luật của nước đã ra bản án, quyết định đó hoặc theo pháp luật Việt Nam (ở Việt Nam thời hạn thi hành án thường là 5 năm)

Thứ sáu, việc công nhận và cho thi hành án, quyết định dân sự của tòa án nước

ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản pháp luật Việt Nam Trong trường hợp này, tòa án Việt Nam cần xem xét về mặt nội dung cũng như hiệu quả của việc thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài có trái trật tự công, trái các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam hay không để quyết định việc công nhận hiệu lực của chúng Khi xem xét về vấn đề này, thực tiễn pháp luật cũng đã cho rằng một bản án của tòa án nước ngoài có thể bị coi là vi phạm trật tự công khi không đảm bảo quyền về

tố tụng cho đương sự, xét xử không công bằng, vi phạm nguyên tắc bình đẳng, hay thậm chí đã dung túng cho hành vi lẩn tránh pháp luật… đều có thể không được công nhận hiệu lực tại nước yêu cầu

Cuối cùng, việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành

tại nước của tòa án ra bản án, quyết định Đây là một trong những điều kiện liên quan đến hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, chưa có hiệu lực tại nước xét xử thì không thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN

SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Sự phát triển đa dạng và phong phú của các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là quan hệ dân sự), cùng với quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng dẫn đến các tranh chấp, yêu cầu có yếu tố nước ngoài

mà tòa án phải thụ lý giải quyết ngày càng nhiều Để điều chỉnh và giải quyết những vụ việc này, pháp luật quy định một số thủ tục trong phần thứ 8 của Bộ Luật tố tụng dân

sự Trong trường hợp phần này không có quy định thì áp dụng các quy định khác có liên quan của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 để giải quyết

Thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cũng tương tự cũng có trình tự và thủ tục tương tự với đối với một vụ việc dân sự trong nước thông thường, bao gồm:

Xử lý đơn khởi kiện; Chuẩn bị xét xử; Phiên tòa sơ thẩm; Kháng cáo và xét xử phúc thẩm Tuy nhiên, vì là vụ việc dân sự có “yếu tố nước ngoài”, nên các thủ tục có phần phức tạp hơn, còn cần phải xem xét về thẩm quyền xét xử, địa vị pháp lý, năng lực pháp luật của các chủ thể là cá nhân, tổ chức nước ngoài, bên cạnh đó, còn có các thủ tục liên quan đến tống đạt văn bản, uỷ thác tư pháp,

2.1 Thực trạng thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Toà

án

Trong Tư pháp quốc tế, khi một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh, Tòa án của các nước có liên quan đều có thể có thẩm quyền giải quyết Chính vì vậy, việc xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia trong những trường hợp này là rất quan trọng Ở Việt Nam, thẩm quyền xét xử các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa

án trước hết được xác định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Việt Nam đã ký hiệp định tương trợ tư pháp với các nước Trong trường hợp không có Điều ước quốc tế điều chỉnh thì xác định theo các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự Theo quy định tại Điều 469, 470 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Việc Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài khi vụ việc đó nằm trong thẩm quyền chung (Thẩm quyền đối với vụ việc mà Tòa án nước đó có thẩm quyền xét xử nhưng tòa án nước khác cũng có thể xét xử, tùy thuộc vào tư pháp quốc tế của các quốc gia) hoặc thẩm quyền riêng (Chỉ có Tòa án Việt Nam mới có thẩm quyền xét xử) Việc xác định thẩm quyền của Toà án, phải được diễn ra trước khi áp dụng các thủ tục tố tụng dân sự bởi vì chỉ khi xác định tòa án nước mình có thẩm quyền giải quyết thì mới tiến hành quá trình tố tụng

Ngày đăng: 17/02/2022, 15:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w