Thực trạng quy định pháp luật hình sự về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh 27 CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM LẬP PHÁP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ CHẾ TÀI HÌNH SỰ TRONG HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BÁO CÁO TỔNG KẾTNGHIÊN CỨU KHOA HỌC MÔN: LUẬT CẠNH TRANH
Tên đề tài: Vấn đề hình sự hoá tội phạm cạnh tranh tại các nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Lĩnh vực khoa học: Lĩnh vực pháp lý
Chuyên ngành: Luật kinh tế
TP.HCM, Tháng 12 Năm 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BÁO CÁO TỔNG KẾT
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC MÔN: LUẬT CẠNH TRANH
Tên đề tài: Vấn đề hình sự hoá tội phạm cạnh tranh tại các nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nhóm sinh viên thực hiện
Trang 31) Lý do chọn đề tài: 1
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ CHẾ TÀI HÌNH SỰ ĐỐI
1.1 Lý luận chung hành vi hạn chế cạnh tranh và pháp luật điều chỉnh 4
1.1.1 Khái quát về hành vi hạn chế cạnh tranh 4
1.1.2 Pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh 6
2.1 Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia về chế tài hình sự trong hạn chế cạnh
2.2 Đánh giá quy định hình sự về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam 27
2.2.1 Thực trạng quy định pháp luật hình sự về xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh 27
CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM LẬP PHÁP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ CHẾ TÀI HÌNH SỰ TRONG HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH PHÁP
3.1 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về chế tài hình sự đối với hành vi hạn chế cạnh tranh tại
3.2 Đề xuất hoàn thiện chế tài hình sự đối với hành vi hạn chế cạnh tranh tại Việt Nam 33
Trang 4M Đ U Ở ĐẦU ẦU 1) Lý do ch n đ tài: ọn đề tài: ề tài:
Cạnh tranh là một quy luật tất yếu và cơ bản để vận hành nền kinh tế thị trường.Thực hiện cạnh tranh sẽ đem lại những lợi ích đáng kể, bao gồm thúc đẩy kinh tế phát triển
và mang đến những quyền lợi tốt nhất cho người tiêu dùng Tuy nhiên, nếu không kiểm soátcạnh tranh thì có thể dẫn tới những hệ lụy tiêu cực Bản chất của việc cạnh tranh đó là cácdoanh nghiệp sẽ hướng tới lợi nhuận cao nhất, cũng chính vì vậy sẽ dẫn đến việc doanhnghiệp bằng mọi thủ đoạn để thực hiện cạnh tranh nhằm đạt được lợi ích cho riêng mình.Các hành vi tập trung kinh tế, cạnh tranh không lành mạnh và đặc biệt là hạn chế cạnh tranh
có thể gây thiệt hại trực tiếp tới đối thủ cạnh tranh, triệt tiêu đối thủ và ảnh hưởng tới quyềnlợi của người tiêu dùng, phá vỡ quy luật của thị trường tác động tới cả một nền kinh tế Tuynhiên, trong ba nhóm hành vi trên thì hạn chế cạnh tranh được xem là nguy hiểm hơn cả bởi
lẽ nhóm hành vi này thực hiện những thủ đoạn rất tinh vi khiến cơ quan điều tra khó pháthiện Ngoài ra những hành vi bị xem là hạn chế cạnh tranh về bản chất là những hành vi gâytác động lớn hơn cả điển hình như thoả thuận ấn định giá, phá huỷ quy luật cung cầu thịtrường, tạo nên tình thế bất lợi cho người tiêu dùng Vì lẽ đó mà pháp luật cần phải có sựcan thiệp để đảm bảo cạnh tranh luôn ở mức phù hợp, bảo vệ quyền lợi của các bên liênquan và hơn hết là bảo vệ một nền kinh tế chung phát triển lành mạnh Trong bối cảnh hiệnnay, khi những hành vi phản cạnh tranh ngày càng được thực hiện một cách tinh vi, khóphát hiện và tính nguy hiểm nghiêm trọng ngày càng tăng cao thì không thể bỏ qua việc truycứu trách nhiệm hình sự Do đó mà cần phải xây dựng một khung pháp lý hoàn chỉnh vàchặt chẽ về tội phạm cạnh tranh, để xử lý một cách nghiêm minh Các nhà làm luật tại ViệtNam đã nhận diện tầm quan trọng của việc hình sự hoá đối với tội phạm cạnh tranh, do đó
Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 với quy định tại Điều 217 đã điều chỉnh về tộiphạm cạnh tranh Tuy nhiên quy định trên được xây dựng trên cơ sở hợp nhất với Luật Cạnhtranh 2004 đã hết hiệu lực, dẫn đến một số mâu thuẫn so với Luật Cạnh tranh 2018 và xuhướng quốc tế hiện nay Trong khi đó vấn đề hình sự lại đặc biệt quan trọng bởi khả năngảnh hưởng tới các chủ thể Do đó đề tài “Vấn đề hình sự hoá tội phạm cạnh tranh tại một sốnước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” được ra đời để phân tích, làm rõ một số bấtcập Từ đó hy vọng góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật cạnh tranh hoàn hảo nhất cóthể tại nước ta, phù hợp với xu hướng các nước phát triển hiện nay
2) Kh o l ảo lược nghiên cứu đi trước: ược nghiên cứu đi trước: c nghiên c u đi tr ứu đi trước: ước: c:
Những vấn đề liên quan hình sự hoá cạnh tranh đã được thực hiện từ trước đây, phản ánh thông qua nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, phân tích nghiên cứu chi
Trang 5tiết vấn đề hình sự hoá những vi phạm về hạn chế cạnh tranh lại chưa được nghiên cứu một cách cụ thể, chuyên sâu Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu và tham khảo một số tác phẩm, bài viết đi trước Một số bài nghiên cứu mang tính khái quát cơ bản bao gồm:
Kim Hoàn Mỹ Linh (2014), Chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam,
Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu đã chỉ ra được nhữngvấn đề lý luận liên quan chế tài nói chung Nhóm tác giả đã tham khảo được những kháiniệm xoay quanh hạn chế cạnh tranh, chế tài xử lý vi phạm và một số quan điểm trong việc
áp dụng hình sự tại một số quốc gia cùng với những kiến nghị mà tác giả luận văn đã đưa
ra
Bộ Công thương (2017), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế: So sánh luật cạnh tranh một
số nước trên thế giới bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong
dự thảo luật cạnh tranh (sửa đổi) của Việt Nam Bản báo cáo đã chỉ ra được những đặc
điểm, quy định tổng quan về các hành vi hạn chế cạnh tranh trên thế giới Từ đó nhóm tácgiả đã tiếp thu một số tìm hiểu về tổng quan quy định pháp luật cạnh tranh các nước để tiếnhành phân tích, làm rõ cho bài nghiên cứu
Phùng Văn Thành (2013), Vấn đề thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo pháp luật nước ngoài, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu đã đưa ra
tổng quan về cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh và chuyên sâu về thoả thuận hạn chế cạnhtranh và có những đề xuất đáng kể cho pháp luật Việt Nam Nhóm tác gỉa đã tiếp nhận cácquan điểm, cơ sở lý luận nêu trong luận văn và tham khảo quy định tại một số nước mà tácgiả luận văn đã phân tích
William Kolasky, Criminalising cartel activity: Lessons from the US experience.
Nghiên cứu đã chỉ ra những điểm cơ bản trong việc hình sự hoá cạnh tranh tại Hoa Kỳ.Nhóm tác giả đã tiếp nhận những đánh giá, quan điểm và các thông tin cơ bản xoay quanhviệc hình sự hoá vi phạm cạnh tranh của tác giả bài viết
Nhóm tác giả cũng tiến hành tìm hiểu nghiên cứu tại một số bài báo học thuật,nghiên cứu của nhiều tác giả khác tại Việt Nam và quốc tế Trong quá trình tìm hiểu, nhómtác giả đã có sự nhìn nhận và đúc kết kinh nghiệm đểt thực hiện bài nghiên cứu của mình
3 M c đích nghiên c u: ục đích nghiên cứu: ứu đi trước:
Cạnh tranh là một trong những vấn đề quan trọng của nền kinh tế, chính vì vậy Chínhphủ các quốc gia đều khuyến khích các doanh nghiệp thực thi cạnh tranh một cách lànhmạnh Tuy nhiên nếu không kiểm soát được các hành vi cạnh tranh sẽ dẫn tới các doanhnghiệp dùng mọi thủ đoạn phương pháp để thực hiện hành vi phản cạnh tranh của mìnhnhằm đạt được lợi nhuận lớn nhất Do đó mà các nhà làm luật tại các quốc gia, bao gồm cảViệt Nam đã quy định hình sự hoá về tội phạm cạnh tranh Tuy nhiên quy định hình sự hoátại Việt Nam còn nhiều lỗ hổng, bất cập so với thực tiễn hiện nay và xu hướng quốc tế Vìvậy đề tài được thực hiện nhằm: Thứ nhất, thông qua những cơ sở lý luận và kinh nghiệmlập pháp từ các quốc gia để đưa ra đánh giá, nhận xét, những bất cập còn tồn tại trong phápluật Việt Nam về tội phạm cạnh tranh khi thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh Thứ hai,qua những phân tích trên nhóm tác giả tiến hành đưa ra các đề xuất phù hợp trong pháp luậthình sự Việt Nam về tội phạm cạnh tranh
Trang 64 Đ i t ối tượng và phạm vi nghiên cứu ược nghiên cứu đi trước: ng và ph m vi nghiên c u ạm vi nghiên cứu ứu đi trước:
4.1) Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu các đối tượng:
- Vấn đề hình sự hoá tội phạm cạnh tranh
- Ban hành đề xuất hoàn thiện quy định về tội phạm cạnh tranh
4.2) Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Đề tài lựa chọn nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2010 cho tới thời
điểm hiện tại
- Về không gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu các quy định sẵn có và việc áp dụng tại Việt Nam, bên cạnh đó có sự tham khảo pháp luật của một số nước
5 Ph ương pháp nghiên cứu ng pháp nghiên c u ứu đi trước:
Đề tài được thực hiện chủ yếu với phương pháp nghiên cứu định tính Cụ thể là đã sửdụng phương pháp thu thập thông tin qua văn bản Thu thập thông tin để trình bày các kháiniệm liên quan đến cạnh tranh, pháp luật về hạn chế cạnh tranh và đặc biệt là về thoả thuậnhạn chế cạnh tranh Từ đó kết hợp với phân tích, bình luận thông qua quy định của một sốnước phát triển để đưa ra một hành lang pháp lý phù hợp với bối cảnh của Việt Nam
6 Đóng góp c a đ tài: ủa đề tài: ề tài:
Đề tài nghiên cứu được triển khai dự kiến đem lại những kết quả sau đây:
6.1) Về phương diện học thuật:
Đề tài sẽ là một trong những tài liệu tham khảo để các nhà làm luật xem xét chỉnhsửa các chế tài, trách nhiệm hình sự về tội phạm cạnh tranh một cách phù hợp Đề tài cũnghướng tới việc thống nhất các quy định pháp luật, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý tạiViệt Nam
6.2) Về phương diện thực tiễn:
Quy định chặt chẽ về vấn đề hình sự hoá đối với các hành vi vi phạm cạnh tranh, từ
đó giảm thiểu số lượng những vi phạm cạnh tranh có thể xảy ra Xây dựng một khung pháp
lý phù hợp với thực tiễn, xu hướng các nước
7 K t c u đ tài ết cấu đề tài ấu đề tài ề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu được
bố cục theo 3 chương:
Đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hạn chế cạnh tranh và hình sự hoá tội phạm cạnh tranh tại Việt
Nam
Chương 2: Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia về chế tài hình sự trong
hạn chế cạnh tranh và đánh giá quy định pháp luật về tội phạm cạnh tranh tại Việt Nam
Trang 7Chương 3: Kiến nghị và đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về tội phạm cạnh tranh tại
Việt Nam
CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ CHẾ TÀI HÌNH
SỰ ĐỐI VỚI MỘT SỐ HÀNH VI VI PHẠM 1.1 Lý luận chung hành vi hạn chế cạnh tranh và pháp luật điều chỉnh
1.1.1 Khái quát về hành vi hạn chế cạnh tranh
Cạnh tranh đóng một vai trò quan trọng trên thị trường, là một quy luật tất yếuphải diễn ra để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Mục đích của cạnh tranh đến cuốicùng là lợi nhuận, do đó nếu cạnh tranh một cách hợp pháp các doanh nghiệp sẽ có động lựctạo ra những sản phẩm mang tính hiệu quả nhất, đồng thời người tiêu dùng cũng là bên đượchưởng quyền lợi khi quá trình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp được diễn ra Theo MichaelPorter ông đã đưa ra quan điểm về lợi thế của cạnh tranh mang lại: “Lợi thế của cạnh tranhxuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng Lợi thế có thể ởdưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho người mua là tươngđương), hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ khiến người mua chấpnhận mua với một mức giá cao hơn".1
Bên cạnh đó, khái niệm cạnh tranh được trích từ cuốn “Black Law Dictionary là
“sự nỗ lực hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm cạnh tranh giành những lợi íchgiống nhau từ chủ thể thứ ba” Còn theo Từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992, “cạnhtranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giànhcùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” Từ điểnTiếng Việt Bách khoa tri thức phổ thông cũng có cách giải thích cạnh tranh tương tự, “Cạnhtranh là sự ganh đua giữa các nhà sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinhdoanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợinhất” Cạnh tranh đôi khi là được xem là động lực thúc đẩy nền kinh tế cung-cầu phát triển,giúp cho các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, thị trường vì vậy mà vận độngmạnh mẽ hơn Song, một số hành vi hạn chế cạnh tranh cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cáccân kinh tế Một hành vi thái quá có thể dẫn đến triệt tiêu, giảm bớt cạnh tranh lại ảnhhưởng tiêu cực cho nền kinh tế, nhóm hành vi này được gọi là hành vi hạn chế cạnh tranh, làhành vi luôn hướng tới việc hình thành một sức mạnh thị trường hoặc tận dụng sức mạnh thị
1 Đỗ Xuân Đại (2016), Năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực xây lắp của tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị bộ
quốc phòng, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội,
https://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/23403/1/00050007831.pdf, truy xuất ngày 9/12/2020.
Trang 8trường để làm cho tình trạng cạnh tranh trên thị trường bị biến dạng.2 Nhìn chung, hành vicạnh tranh là một điều cần thiết trong nền kinh tế, gắn liền với nền kinh tế thị trường ViệtNam Vì vậy mà ở một số quốc gia, đặc biệt là Việt Nam trong nhiều năm qua đã nỗ lựchoàn thiện các chế định bảo vệ cạnh tranh, đảm bảo thực thi theo quy luật tồn tại của thịtrường.
Trước đây trong Luật cạnh tranh 2004 hành vi hạn chế cạnh tranh được hiểu làhành vi làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường và bao gồm 3 nhóm hành vi cơbản là: thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng (vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độcquyền) và tập trung kinh tế Tuy nhiên, theo Khoản 2, Khoản 3, Điều 3 Luật cạnh tranh
2018 thì khái niệm về hành vi hạn chế cạnh tranh được hiểu: Là hành vi gây tác động hoặc
có khả năng gây tác động làm loại trừ, giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường,
và chỉ bao gồm 2 nhóm hành vi là: thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng (vị trí thốnglĩnh thị trường, vị trí độc quyền) Nói cách khác, đối với hành vi tập trung kinh tế theo quyđịnh của Luật cạnh tranh 2018, tới thời điểm này các nhà làm Luật không còn coi đây làhành vi hạn chế cạnh tranh
Khi nói đến hành vi hạn chế cạnh tranh, cần phân biệt được giữa hành vi hạn chếcạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Theo Khoản 6, Điều 3, Luật cạnh tranh
2018 thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh có các dấu hiệu đó là: trái với nguyên tắcthiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh Trongkhi đó, dấu hiệu căn bản của hành vi hạn chế cạnh tranh là làm giảm, làm cản trở, làm sailệch, thậm chí là loại bỏ cạnh tranh trên thị trường Như vậy, nhìn về mặt dấu hiệu đó có thểnhận thấy được rằng mức độ nghiêm trọng của các hành vi hạn chế cạnh tranh cao hơnnhiều so với hành vi cạnh tranh không lành mạnh Tuy nhiên, nhận thấy rằng thỏa thuậnhạn chế cạnh tranh được coi là có mức độ nghiêm trọng và gây độc hại đến thị trường, khóphát hiện và gây biến dạng thay đổi cơ cấu “cung”, lũng đoạn “cầu”, làm phá vỡ giá trị điềutiết quan hệ cung-cầu, gây nguy hại đến các đối tượng cạnh tranh, đặc biệt là làm mất niềmtin đối với người tiêu dùng
Ở Châu Âu, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh như trực tiếp và gián tiếp ấn địnhgiá mua hoặc giá bán hoặc bất kỳ điều kiện giao dịch nào khác; hạn chế hoặc kiểm soát sảnxuất, thị trường, phát triển kỹ thuật hoặc đầu tư; chia sẻ thị trường hoặc nguồn cung cấp; ápdụng các điều kiện khác nhau đối với các giao dịch đã ký kết làm cho người tiêu dùng bị bấtlợi trong cạnh tranh; thực hiện việc giao kết hợp đồng mà mục đích và bản chất lại không cómối liên hệ nào với chủ thể của hợp đồng đó Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các
2 Nguyễn Thị Tình (2015), Hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền thương mại, ở Việt Nam hiện nay,
https://www.slideshare.net/trongthuy3/luan-van-han-che-canh-tranh-trong-nhuong-quyen-thuong-mai?
fbclid=IwAR36dYgWjzx-JWfGL1TcC8bi_5H2P9L9go7lMRbnhuW_XgcIrfYRa79n37o, truy xuất ngày 9/12/2020, truy xuất ngày 9/12/2020
Trang 9doanh nghiệp này cùng với quyết định của các hiệp hội cùng cam kết và các thông lệ phốihợp có thể ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước thành viên và được coi là đối tượnghoặc có tác dụng ngăn chặn, hạn chế hoặc bóp méo cạnh tranh trong thị trường nội bộ vàcác thỏa thuận tuyệt nhiên bị cấm3
Luật cạnh tranh của đa số các nước trên thế giới đều được quy định rõ và chiathành hai loại đó là thỏa thuận chiều ngang và thỏa thuận theo chiều dọc Trong phạm vi bàinghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ tập trung nghiên cứu và phân tích rõ về các thỏa thuận theochiều ngang Vì đây là những thỏa thuận mang tính chất nghiêm trọng đối với nền kinh tếthị trường Thỏa thuận theo chiều ngang được hiểu là những thỏa thuận giữa các chủ thểkinh doanh trong cùng ngành hàng và cùng khâu của quá trình kinh doanh (ví dụ: giữanhững người bán buôn với nhau, giữa những người bán lẻ với nhau) để khống chế giá, phânchia thị trường, hoặc sự thỏa thuận phối hợp hành động nào đó trong một thời gian nhấtđịnh để cản trở cạnh tranh từ doanh nghiệp khác4 Rõ ràng, thỏa thuận hạn chế cạnh tranhtheo chiều ngang đem lại sự bất lợi, làm ảnh hưởng niềm tin đến người tiêu dùng
1.1.2 Pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh
Nhận thấy rằng, mức độ của hành vi hạn chế cạnh tranh là bất hợp pháp và cónguy cơ làm lũng đoạn nền kinh tế thị trường vì chúng không chỉ lừa dối người tiêu dùng vàcác doanh nghiệp khác mà còn hạn chế nền tăng trưởng kinh tế một cách không lành mạnh.Điều đó đòi hỏi pháp luật phải ngày càng hoàn thiện để điều chỉnh các hành vi vi phạmpháp luật này
Điển hình như tại Úc, Ủy ban Người tiêu dùng và cạnh tranh Úc (ACCC)5 đã quyđịnh một số hành vi hạn chế cạnh tranh được gọi là hành vi Cartel Chúng bao gồm: ấn địnhgiá, chia sẻ thị trường, gian lận giá thầu, kiểm soát đầu ra hoặc hạn chế số lượng hàng hóa
và dịch vụ có sẵn cho người mua ACCC nhận thấy rằng, hành vi cartel là vô đạo đức, cạnhtranh trên nền kinh tế thị trường không lành mạnh.6 Cụ thể, nhiều doanh nghiệp đã tăng giácho người tiêu dùng và thông qua đó tạo một chi phí ảo của việc sản xuất và chi phí vốn trêntoàn bộ chuỗi cung ứng, bao gồm chi phí thuê chỗ ở và thiết bị, lãi suất và làm giảm chấtlượng của sản phẩm; làm giảm cơ sở hạ tầng bằng cách gian lận giá thầu trong các dự án cơ
sở hạ tầng công cộng làm tăng chi phí và cuối cùng làm giảm năng lực của khu vực để đầu
3 Điều 101 (Điều 81 TEC), Hiệp ước thành lập liên minh Châu Âu
https://eur-lex.europa.eu/legal-content/EN/ALL/?uri=CELEX:12008E101, truy xuất ngày 9/12/2020
4 Nguyễn Thế Cường (2012), Thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu ở Việt Nam hiện nay,https://thegioiluat.vn/uploads/users/2017/04/42/LVTS-2012%20-%20Th%E1%BB%8Fa%20Thu%E1%BA%ADn
%20H%E1%BA%A1n%20Ch%E1%BA%BF%20C%E1%BA%A1nh%20Tranh%20Trong%20L%C4%A9nh%20V
%E1%BB%B1c%20Kinh%20Doanh%20X%C4%83ng%20D%E1%BA%A7u%20%E1%BB%9E%20Vi%E1%BB
%87t%20Nam%20Hi%E1%BB%87n%20Nay.pdf, truy xuất ngày 9/12/2020
5 Australia Competition & Consumer Commission, viết tắt là ACCC.
6 ACCC, Cartels, https://www.accc.gov.au/business/anti-competitive-behaviour/cartels, truy xuất ngày 9/12/2020
Trang 10tư các dự án có lợi Song, ACCC cũng đưa ra một số hình phạt có thể xảy ra đối với các cánhân và các doanh nghiệp câu kết lẫn nhau Các cá nhân bị kết tội nếu thực hiện hành vicartel có thể sẽ phải chấp hành hình phạt hình sự và dân sự, các doanh nghiệp có thể phảichịu các các hình thức phạt tiền đối với mỗi hành vi phạm tội cartel Các hình phạt này baogồm: truất quyền quản lý của một cá nhân ra khỏi công ty, lệnh phục vụ cộng đồng Cụ thể:phạt tù lên đến 10 năm, hoặc phạt tiền lên đến 420.000$ cho mỗi tội danh hình sự và phạttiền lên đến 500.000$ cho mỗi hành vi vi phạm dân sự 7 ACCC còn đưa ra một số các vấn
đề liên quan đến cartel có thể bị truy tố hình sự ACCC sẽ đề nghị truy tố các hành vinghiêm trọng về cartel , cụ thể nếu hành vi nghiêm trọng đó có một trong các yếu tố sau:hành vi bí mật, hành vi đã gây ra hoặc có thể gây hại kinh tế quy mô lớn hoặc nghiêm trọng,hành vi đó đã tồn tại hoặc có khả năng tác động đáng kể đến thị trường nơi hành vi đó xảy
ra, hành vi cố ý hoặc vô ý gây ra thiệt hại đáng kể cho cộng đồng, hoặc có thể gây ra tổnthất cho người tiêu dùng; một cá nhân hay tổ chức đã có tiền án hoặc thừa nhận tham giavào các hành vi phạm tội hoặc dân sự; đại điện cấp cao của các công ty đã tham gia vào việc
ủy quyền hoặc tham gia vào các hoạt động; tác động tiêu cực đến người tiêu dùng và chínhphủ khi giá trị thương mại bị ảnh hưởng là tương đối thấp; hành vi cartel này gây cản trởđến các cơ quan chức năng trong công tác điều tra
Tại pháp luật Việt Nam quy định những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở điều 11của Luật cạnh tranh 2018, cụ thể các thỏa thuận được quy định này nếu vi phạm sẽ xử phạttùy theo từng trường hợp cụ thể Ở Việt Nam, mức hình phạt hành chính nặng nhất cho mộthành vi hạn chế cạnh tranh lên đến 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp trong năm tàichính trước đó, kèm theo các biện pháp khắc phục khác.8 Tuy nhiên đối với hành vi cấuthành tội phạm sẽ phải gánh chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể tại Điều 217 Bộ luật Hình sự
2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) cũng đã đặt ra chế tài hình sự đối với một số hành
vi vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh, đã đánh dấu một bước ngoặt trong việc nhận thứccủa các nhà làm luật về mức độ nghiêm trọng của các hành vi về thỏa thuận hạn chế cạnhtranh, đưa Việt Nam theo xu hướng chung của thế giới Tuy vậy, tại Điều 217 này cũng đãbộc lộ một số điều bất cập trong mối tương quan với Luật cạnh tranh 2018 Tại quy định vềmức hình phạt tối đa dành cho người phạm tội là phạt tiền đến 3 tỷ đồng hoặc phạt tù 5 năm
và có thể bị áp dụng một số hình phạt bổ sung khác Nhìn chung, tại điều 217, các nhà làmluật cũng đã tỏ ra thái độ nghiêm khắc mang tính răn đe để phù hợp với xu thế chung củacác nước trên thế giới Tuy vậy, khi đối chiếu điều này, cách tiếp cận trong giai đoạn Bộluật hình sự 2015 ra đời chỉ tương thích với quy định của Điều 8 và Điều 9 của Luật cạnhtranh 2004 lúc đó vẫn còn hiệu lực Tại điều 11 và 12 của Luật cạnh tranh 2018, đã cho thấy
7 ACCC, Fines penalties, https://www.accc.gov.au/business/business-rights-protections/fines-penalties#cartels, truy
xuất ngày 9/12/2020.
8 Khoản 1 Điều 111 Luật Cạnh tranh 2018
Trang 11tồn tại nhiều bất câp, không có mối tương quan lẫn nhau so với điều 217 của Bộ luật hình sự
2015 mà nhóm tác giả sẽ phân tích ở những chương sau Sỡ dĩ tồn tại trường hợp bất cậpnhư vậy, một yếu tố khách quan khác là do giai đoạn ra đời của Bộ luật hình sự 2015 phùhợp với thực tiễn của Luật cạnh tranh 2004 mà khi đó Luật cạnh tranh 2018 ra đời một thờigian sau
Ngoài các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định thì tại điều 11 của Luậtcạnh tranh 2018 thì pháp luật Việt Nam còn quy định có các hành vi như lạm dụng vị tríthống lĩnh, độc quyền Đối với hành vi lạm dụng vị trí, thống lĩnh thị trường thì hầu hết cácquốc gia trên thế giới đều đã có pháp luật điều chỉnh và quy định cụ thể Pháp luật tại Đức
có quy định tại Điều 82 Hiệp định Rome về hành vi lạm dụng thống lĩnh được hiểu là hành
vi có những cam kết về vị trí thống lĩnh thị trường chung mà không tương thích với nềnkinh tế làm ảnh hưởng đến các quốc gia thành viên khác thì sẽ mặc nhiên bị cấm.9 Còn Bộquy tắc về Cạnh tranh Liên Hợp Quốc và Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD hành vinày được hiểu là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh sử dụng
để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhậpthị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh Nói chung, các nước trên thế giới cụ thể như
EU, luật có liên quan cũng đã đưa ra khái niệm mà một cách rõ ràng về hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh, độc quyền trên thị trường và những hành vi này có nguy cơ gây hại cho nềnkinh tế của cả quốc gia, do đó sẽ bị cấm mặc nhiên nếu như vi phạm mà điều luật đã quyđịnh Đối với Việt Nam, hành vi lạm thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền làhành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền gây tác động hoặc
có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh.10 Nhìn một cách tổng quát thì hành vi này đãđược định nghĩa ở các quốc gia trên thế giới mà cụ thể là Việt Nam đã đưa ra một cái nhìnbao quát và rõ ràng về hành vi bị cấm này Song, để xác định doanh nghiệp đó có phải đang
có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, độc quyền thì cũng cần quy định các nguyên tắc vàđiều kiện cụ thể Ở Việt Nam, các nhà làm luật đã quy định mức thị phần của doanh nghiệp
có hành vi này là từ 30% trở lên trên thị trường liên quan và nhóm doanh nghiệp câu kết lẫnnhau có tổng thị phần lần lượt là 50%, 65%, 75%, 85% trở lên.11
Xem xét ở góc độ thực tiễn, thực trạng hạn chế cạnh tranh của các quốc gia trênthế giới đặc biệt là ở Việt Nam đều có tất cả các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạmdụng vị trí thống lĩnh, độc quyền Tuy nhiên, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đang diễn ravới mức độ dày đặc, điều đó đòi hỏi pháp luật Việt Nam cần điều chỉnh những thiếu sót,những hạn chế để từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực trong quá trình điều chỉnh pháp
9 Article 82 of the EC Treaty, https://ec.europa.eu/competition/legislation/treaties/ec/art82_en.html, truy xuất ngày 9/12/2020
10 Khoản 5, Điều 3, Luật Cạnh tranh 2018.
11 Điều 26, Luật Cạnh tranh 2018.
Trang 12luật Vì vậy trong giới hạn bài viết này nhóm tác giả sẽ phân tích sâu hơn về những thỏathuận hạn chế cạnh tranh này.
Tóm lại, pháp luật Việt Nam trong nhiều năm qua cũng đã nỗ lực điều chỉnhnhững hành vi hạn chế cạnh tranh Các nhà làm luật cũng đã một phần bao quát được cácquy định về những hành vi hạn chế cạnh tranh, xem xét đưa ra các chế tài mang tính răn đe,nghiêm khắc qua các điều luật được quy định mà cụ thể là tại điều 217 của Bộ luật hình sự
2015, khi áp dụng chế tài hình sự Dù vậy, cũng sẽ có những bất cập khó tránh phải chưaphù hợp với xu thế chung của giai đoạn hiện nay
1.1.3 Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh
Để xác định hành vi hạn chế cạnh tranh thì căn cứ vào hai yếu tố là thị trườngliên quan và thị phần, thị phần kết hợp của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp trên thịtrường liên quan đó
1.1.3.1 Thị trường liên quan
Việc xác định thị trường là một giai đoạn rất quan trọng, nó mang tính quyết địnhđối với mỗi vụ việc hạn chế cạnh tranh Bởi lẽ, thị phần chỉ được nhắc đến sau khi thịtrường đã được xác định Chính vì vậy, nếu việc xác định thị trường bị lệch hướng, thì tất cảnhững phân tích tiếp theo dựa trên thị phần hoặc cấu trúc thị trường đều không hoàn toànchính xác Nói cách khác, việc xác định thị trường liên quan sẽ giúp xác định được ranh giớidiễn ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Việc tính toán thị phần của từng doanh nghiệptrong vụ việc cạnh tranh cũng sẽ chính xác hơn nếu việc xác định thị trường được thực hiệnđúng Đồng thời, cũng qua đó xác định được sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp cóliên quan đối với hành vi hạn chế cạnh tranh Một thị trường liên quan được xác định theo
cả yếu tố sản phẩm và yếu tố địa lý – đây là hai khía cạnh của thị trường liên quan Thịtrường sản phẩm có liên quan bao gồm tất cả các sản phẩm hoặc dịch vụ được coi là có thểthay thế hoặc thay thế vì lí do đặc điểm sản phẩm, giá cả và mục đích sử dụng Để đánh giá,xác định được thị trường liên quan, cần dựa vào thị trường sản phẩm liên quan, thị trườngđịa lý liên quan và các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan
Thứ nhất, về vấn đề thị trường sản phẩm liên quan Có thể hiểu thị trường sản phẩm
liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau cả về đặc tính,
mục đích sử dụng và giá cả Đây được xem là yếu tố quan trọng nhất và không thể khôngtính đến trong việc chống độc quyền Xác định thị trường sản phẩm liên quan chính là việcxác định tính thay thế của sản phẩm Khả năng thay thế cho nhau của các sản phẩm phảnánh mức độ cạnh tranh giữa các sản phẩm khác nhau trên cùng thị trường liên quan, nghĩa làngười tiêu dùng họ có thể sử dụng hàng hóa của doanh nghiệp này hoặc doanh nghiệp khác
mà không ảnh hưởng đến mục đích sử dụng Điều này có nghĩa là trên thị trường xuất hiện
Trang 13các sản phẩm cùng đáp ứng một nhu cầu của thị trường Để tạo sự khác biệt và tính cạnhtranh giữa các sản phẩm, các công ty ra sức thay đổi, cải tiến, sáng tạo thêm các đặc tínhriêng biệt nhằm phân biệt với các sản phẩm khác Tính riêng biệt của hàng hóa, sản phẩm ởđây có thể là về mẫu mã, chất lượng, hình thức, độ nhanh chóng và thái độ phục vụ củadoanh nghiệp đối với người tiêu dùng Tính thay thế của sản phẩm được xác định theohướng dựa trên sự thay thế cung cầu Trong trường hợp có 2 sản phẩm thay thế hoàn hảocho nhau, người tiêu dùng sẽ có thể lựa chọn một trong hai để đáp ứng nhu cầu của mình.
Vì vậy, các nhà sản xuất sẽ không có sức mạnh thị trường, sẽ không khai thác tính độcquyền bằng việc tăng giá sản phẩm vì làm như vậy người tiêu dùng sẽ chuyển sang dùng sảnphẩm thay thế Sau quá trình học hỏi kinh nghiệm, Luật cạnh tranh đã đưa ra hai căn cứ đểxác định khả năng thay thế của sản phẩm: Đầu tiên là tính chất của sản phẩm thể hiện thôngqua mục đích sử dụng và đặc tính của sản phẩm Theo đó, mục đích sử dụng của hàng hóa,dịch vụ căn cứ theo mục đích sử dụng chủ yếu nhất, tức là các sản phẩm có mục đích sửdụng cơ bản giống nhau, và khi sản phẩm có cùng một số đặc tính về tính chất vật lý, tínhchất hóa học, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng hay khả năng hấp thụ.Bởi lẽ các sản phẩm không tương đồng nhau về những yếu tố trên thì không thể thay thế chonhau Cuối cùng là dựa trên phản ứng của người tiêu dùng khi có sự thay đổi về giá cả củasản phẩm có liên quan Để xem xét khả năng thay thế của sản phẩm còn phải xem xét phảnứng của người tiêu dùng như thế nào khi hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ tăng giá Nếu ngườitiêu dùng nhận thấy sự tăng giá của sản phẩm mà họ đang dùng và họ chuyển sang dùng sảnphẩm tương tự khác thì các sản phẩm đó được cho là có khả năng thay thế cho nhau
Thứ hai, Thị trường địa lý liên quan Thị trường địa lí liên quan là khu vực,
không gian địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ được tiêu thụ một cách chủyếu và có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệtđáng kể với các khu vực địa lý lân cận Thị trường địa lí liên quan bao gồm khu vực có cácchính sách liên quan đến cung cầu sản phẩm hoặc dịch vụ, trong đó có các điều kiện cạnhtranh đồng nhất, đủ để phân biệt với các khu vực xung quanh Điều kiện cạnh tranh ở mỗikhu vực có sự khác biệt lớn, tuy nhiên giới hạn này không bị lệ thuộc vào các biên giớimang tính hành chính như tỉnh hay quốc gia Việc xác định thị trường địa lý liên quan dựatrên quan điểm của người tiêu dùng về khả năng thay thế cho nhau của những sản phẩmđược sản xuất hoặc được mua bán tại những địa điểm khác nhau Nếu người tiêu dùngchuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác khi phát hiện sản phẩm đang sử dụngtại một địa điểm nhất định tăng giá đáng kể trong một thời gian đủ dài, khi đó, hai địa điểmtrên được xem là chúng có cùng thị trường địa lý liên quan và ngược lại Theo khoản 2 Điều
7 NĐ 35/2020/NĐ-CP quy định ranh giới của khu vực địa lý căn cứ vào các yếu tố Khu vựcđịa lý có cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp tham gia phân phối hàng hóa, dịch vụ liênquan; Cơ sở kinh doanh của doanh nghiệp khác đóng trên khu vực địa lý lân cận đủ gần với
Trang 14khu vực địa lý quy định tại điểm a khoản này để có thể tham gia cạnh tranh với các hànghóa, dịch vụ liên quan trên khu vực địa lý đó; Chi phí vận chuyển hàng hóa, cung ứng dịchvụ; Thời gian vận chuyển hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Rào cản gia nhập, mở rộng thịtrường; Tập quán tiêu dùng; Chi phí, thời gian để khách hàng mua hàng hóa, dịch vụ.
1.1.3.2 Thị phần, thị phần kết hợp
Để xác định một hành vi có phải là hành vi hạn chế cạnh tranh hay không, cầnxem xét đến khả năng để khống chế thị trường của chủ thể thực hiện hành vi Nếu mộtdoanh nghiệp có càng nhiều thị phần, thì khả năng ảnh hưởng của doanh nghiệp đó đến thịtrường càng cao
Thị phần trước hết là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ mà doanh
nghiệp đó đang chiếm lĩnh Nói một cách khác, thị phần là phần thị trường doanh nghiệp đãchiếm lĩnh được hay là sự phân chia thị trường của doanh nghiệp đối với các đối thủ cạnhtranh trong ngành12 Thị phần sẽ thể hiện mức độ tập trung hóa người bán trong một thịtrường, phản ánh mức độ tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp đối với sản phẩm trongthị trường liên quan, thông qua đó có thể đánh giá sức khoẻ, vị trí của doanh nghiệp đó trênthị trường Khi tổng thị trường cho một sản phẩm hoặc dịch vụ tăng lên, một công ty duy trìđược thị phần của mình sẽ tăng doanh thu ở mức độ và tốc độ tương tự như tổng thịtrường.13 Trong quá trình xem xét hành vi thống lĩnh thị trường thì xác định thị phần là căn
cứ để xem xét một hành vi bị cấm; vị trí thống lĩnh thị trường; tập trung kinh tế Các cáchxác định thị phần được quy định tại khoản, Điều 10 Luật cạnh tranh 2018 gồm: tỷ lệ phầntrăm giữa doanh thu bán ra, doanh số mua vào, đơn vị hàng hoá dịch vụ bán ra, đơn vị hànghoá dịch vụ mua vào
Tiếp theo, thị phần kết hợp là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của haihay nhiều doanh nghiệp Khi các doanh nghiệp có những thoả thuận với nhau hoặc cùngnhau thực hiện hành vi tập trung kinh tế thì khi đó sẽ xem xét thị phần kết hợp của cácdoanh nghiệp này có thuộc trường hợp bị kiểm soát hạn chế cạnh tranh không Theo khoản
2, Điều 10 Luật cạnh tranh 2018 quy định: “Thị phần kết hợp là tổng thị phần trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia vào hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế.”
Trong phạm vi Luật cạnh tranh, thị phần là căn cứ dùng để xác định giới hạn mộtthỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm; vị trí thống lĩnh thị trường; tập trung kinh tế Đối vớinhóm hành vi thống lĩnh thị trường được xác định dựa trên thị phần hoặc khả năng gây hạn
12 https://thebank.vn/blog/19024-thi-phan-la-gi-cach-xac-dinh-thi-phan-trong-hoat-dong-doanh-nghiep.htm, truy xuất ngày 9/12/2020
13
https://vietnamfinance.vn/thi-phan-la-gi-tam-quan-trong-cua-thi-phan-doi-voi-doanh-nghiep-20180504224211729.htm, truy xuất ngày 9/12/2020
Trang 15chế cạnh tranh của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp và được quy định ở Điều 24,Luật cạnh tranh 2018 cụ thể: doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liênquan; Nhóm doanh nghiệp nếu cùng hành động gây hạn chế cạnh tranh và có sức mạnh thịtrường đáng kể hoặc có tổng thị phần theo luật định Pháp luật sử dụng phương pháp địnhlượng để xem xét vị trí thống lĩnh thị trường, từ đó dễ dàng hơn trong việc xác định mộtdoanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Chỉ cần doanh nghiệp có thị phần lớn hơn hoặcbằng mức luật quy định thì sẽ bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường mà không cần xét đếnkhả năng kiểm soát thị trường trên thực tế.
Đối với hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì sẽ có những hành vi thoả thuận
bị cấm tuyệt đối và thoả thuận hạn chế cạnh tranh chỉ bị cấm khi các doanh nghiệp thoảthuận đạt một thị phần nhất định Trên thực tế, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh rấttinh vi và khó kiểm soát, vì sẽ có một số nhóm doanh nghiệp có những “thoả thuận ngầm"
để lại những hậu quả nghiêm trọng, của thị trường như giá cả, sản lượng, kháchhàng, không còn tuân thủ theo quy luật thị trường mà bị khống chế bởi một nhóm cácdoanh nghiệp tham gia thỏa thuận Điều 13 Luật Cạnh tranh 2018 quy định Ủy ban Cạnhtranh Quốc gia đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cáchđáng kể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh căn cứ vào một số yếu tố trong đó bao gồm mứcthị phần của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận Tuy nhiên, mức thị phần là bao nhiêuthì trong Luật cạnh tranh không quy định, mà ở NĐ35/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một sốđiều của Luật Cạnh tranh quy định thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được coi là không gây rahoặc không có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể nếu thuộc một
trong các trường hợp sau: Đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan, khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận nhỏ hơn 5%; Đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh & các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định, khi thị phần của từng doanh nghiệp tham gia thoả thuận nhỏ hơn 15% Theo quy định thì chỉ quy định những hành vi không gây ra hoặc
không có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Để đánh giá hành vi
có gây ra hoặc có khả năng gây ra tác động hạn chết hay không còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu
tố, nhưng nếu vượt quá khuôn khổ quy định là một yếu tố thì mức thị phần này so với mứcthị phần để đạt được vị trí thống lĩnh thị trường có sự chênh lệnh lớn Sở dĩ là vì thoả thuậnhạn chế cạnh tranh thì khó phát hiện hơn, tinh vi hơn nên vì thế mà cũng có mức quy địnhnghiêm ngặt hơn
1.2 Lý luận chung về trách nhiệm hình sự đối với một số hành vi vi phạm cạnh tranh
1.2.1 Hình sự hoá xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh
Trách nhiệm hình sự là một trong những chế định cơ bản của luật hình sự Trong
Trang 16khoa học pháp lý, trách nhiệm hình sự nhận được khá nhiều sự quan tâm của những nhànghiên cứu trong và ngoài nước Mặc dù vậy, hiện nay khi nhắc đến khái niệm này vẫn cònnhiều luồng ý kiến khác nhau Trước tiên, ta cần làm rõ khái niệm “trách nhiệm”, “tráchnhiệm” thường được hiểu theo hai nghĩa Theo quan điểm của nhóm tác giả, thứ nhất “tráchnhiệm” là nghĩa vụ của của người này trước người khác hoặc nghĩa vụ của người này đốivới Nhà nước, xã hội; thứ hai “trách nhiệm” là hậu quả pháp lý bất lợi mà một người gánhchịu trước cá nhân, xã hội, Nhà nước sau khi vi phạm bổn phận, nghĩa vụ
Trong khoa học luật hình sự của Liên Xô trước đây, trách nhiệm hình sự là hậuquả pháp lý - xã hội phức tạp của việc phạm tội, bao gồm bốn yếu tố14: thứ nhất, nó dựa trêncác quy phạm pháp luật hình sự và bắt nguồn từ nghĩa vụ mà chủ thể phải chịu trước nhànước sau khi phạm tội; thứ hai, được thể hiện trong bản án của Tòa án; thứ ba, quyết địnhhình phạt hoặc biện pháp hình sự khác đối với người có tội; thứ tư, án tích được xem như làhậu quả pháp lý của việc kết án cùng với việc chấp hành hình phạt Còn trong khoa học luậthình sự Việt Nam, “Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, là hậu quảpháp lý của việc phạm tội thể hiện ở trách nhiệm của người phạm tội trước Nhà nước phảichịu những tác động pháp lý bất lợi được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụngtheo một trình tự tố tụng nhất định.”15
Một điểm quan trọng đối với thực hiện trách nhiệm hình sự đó là trách nhiệmhình sự chỉ phát sinh khi có tội phạm xảy ra Trên thực tế, nếu không có việc thực hiện tộiphạm (thực hiện những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội bị Luật Hình sự cấm) thì sẽkhông xuất hiện vấn đề trách nhiệm hình sự Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đềquan trọng nhất của luật hình sự Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định vềkhái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự tuy nhiên cách thể hiện khái niệm về tội phạm ởcác quốc gia vẫn còn nhiều điểm khác nhau Có người cho rằng “tội phạm là hành vi nguyhiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người đến một độ tuổi nhất định cónăng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và vì nó người phạm tộiphải bị xử phạt.”16 với khái niệm trên đã thể hiện đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm như: làhành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lựctrách nhiệm hình sự và người đạt đến độ tuổi nhất định thực hiện, được thực hiện do lỗi cố ýhoặc vô ý và chịu hình phạt Theo quan điểm của nhóm tác giả, khái niệm tội phạm gồm cóhai đặc tính cơ bản: thứ nhất, hình thức của tội phạm do Bộ luật hình sự quy định; thứ hai,nội dung là hành vi nguy hiểm cho xã hội Mặc dù, quan niệm trên mang tính khái quát cao
14 Parog A.I (2001), Luật hình sự liên bang Nga - phần chung, chương IV, tr.70, NXB Luật gia, Matxcova.
15 TS Trần Thị Quang Vinh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - phần chung, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh, tr.84.
16 ThS Đinh Hoàng Quang, Phạm Việt Nghĩa (2015), Khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự, tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 2(322) - Viện Hàn lâm khoa học Xã hội Việt Nam.
Trang 17nhưng nó vẫn thể hiện đầy đủ các đặc điểm của tội phạm Không phải bất kỳ hành vi gâynguy hiểm nào cũng là tội phạm, chỉ hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và được điều chỉnhtrong Bộ luật hình sự mới được xem là tội phạm Hành vi gây nguy hiểm cho xã hội đượcngười có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một các cố ý hoặc vô ý Hay nói cách khác,năng lực trách nhiệm hình sự và tính có lỗi là các dấu hiệu của hành vi gây nguy hiểm cho
xã hội nghĩa là những hành vi gây thiệt hại nhưng do người không có năng lực trách nhiệmhình sự thực hiện hoặc do chủ thể thực hiện nhưng không có lỗi thì không mang tính nguyhiểm cho xã hội
Về nguyên tắc, để một hành vi được xem là tội phạm nó phải đáp ứng các yêucầu của cấu thành tội phạm cơ bản Theo khoa học pháp lý Việt Nam, “Cấu thành tội phạm
là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quyđịnh trong Luật Hình sự.” Tuy có cùng một cấu trúc chung bao gồm bốn yếu tố: khách thể,mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan nhưng mỗi tội phạm đều có những dấu hiệu riêng
để phản ánh được bản chất nguy hiểm của loại tội phạm đó đối với xã hội với những nétđiển hình, đặc trưng riêng Đối với một cấu thành tội phạm cụ thể đều phải đáp ứng đầy đủbốn dấu hiệu bắt buộc sau đây: thứ nhất, quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại (thuộc yếu tốkhách thể của tội phạm); thứ hai, hành vi gây nguy hiểm cho xã hội (thuộc mặt khách quancủa tội phạm); thứ ba, lỗi (thuộc mặt chủ quan của tội phạm) và thứ tư, năng lực trách nhiệmhình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự (thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm) Đối với nhữnghành vi vi phạm gây hạn chế cạnh tranh, phần lớn các nước đều quy định trách nhiệm pháp
lý mà chủ thể phải chịu, bao gồm: Đình chỉ hành vi, công bố công khai về hành vi vi phạm,phạt tiền, bồi thường thiệt hại hoặc phạt tù, 17 Còn hiện nay, khoa học pháp lý chưa đưa rakhái niệm cụ thể về chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranh, nhưng căn cứ vào khái niệmchế tài nói chung ta có thể hiểu: “Chế tài đối với hành vi hạn chế cạnh tranh là những hìnhthức trách nhiệm pháp lý được Nhà nước áp dụng đối với các chủ thể kinh doanh, buộc cácchủ thể đó phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do đã có hành vi hạn chế cạnh tranh gâythiệt hại cho các chủ thể kinh doanh và các chủ thể khác”.18 Trách nhiệm hình sự đối vớihành vi gây hạn chế cạnh tranh được quy định cụ thể tại Điều 217 Bộ luật hình sự 2015 (đãsửa đổi, bổ sung năm 2017) Có thể thấy tội vi phạm quy định về cạnh tranh được thiết kế
có cấu thành tội phạm vật chất vì mặt khách quan của tội phạm có các dấu hiệu bao gồm:hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
và hậu quả Vậy tội phạm vi phạm quy định về cạnh tranh theo quy định tại Điều 217 Bộluật hình sự được xem là hoàn thành khi hành vi nguy hiểm cho xã hội đã gây ra hậu quảluật định Đối với cấu thành tội phạm trong hành vi hạn chế cạnh tranh thì quan hệ xã hội bị
17 Kim Hoàn Mỹ Linh (2014), Chế tài liên quan tới hạn chế cạnh tranh ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại
học Quốc gia Hà Nội, tr.18 o-viet-nam-hot, truy xuất ngày 9/12/2020.
https://www.slideshare.net/trongthuy2/luan-van-che-tai-lien-quan-den-han-che-canh-tranh-18 Kim Hoàn Mỹ Linh, tlđd
Trang 18tội phạm xâm hại là quan hệ sở hữu thông qua các hành vi điển hình như thỏa thuận nhằmtăng giá sản phẩm Hành vi gây nguy hiểm cho xã hội như thỏa thuận nhằm kìm hãm, khôngcho doanh nghiệp mới tham gia thị trường sẽ khiến Điều này sẽ khiến các doanh nghiệpvừa và nhỏ phải tập trung vốn để đối phó với sự kìm hãm do hành vi này gây ra, tạo sự cảntrở trong việc áp dụng khoa học - kỹ thuật mới vào công nghệ dẫn đến lạc hậu Đối với dấuhiệu lỗi của tội phạm, chủ thể có nhiều phương thức lựa chọn khác đối với hành vi của mìnhngoài các hành vi vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh Trách nhiệm hình sự tại Điều 217 Bộluật hình sự 2017 được áp dụng đối với pháp nhân thương mại, cá nhân có đủ năng lực tráchnhiệm hình sự và người từ đủ 16 tuổi trở lên.
1.2.2 Sự cần thiết trong việc áp dụng chế tài hình sự đối với vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh
Việc áp dụng Luật Hình sự để ngăn chặn các hành vi sai trái trong thị trườngcạnh tranh nhằm bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng không phải là ý tưởng mới Trong phápluật cạnh tranh hiện nay, cơ sở để xử lý hình sự đối với những hành vi hạn chế cạnh tranhxuất phát trước tiên từ tính chất nghiêm trọng của các tác hại, hậu quả mà hành vi hạn chếcạnh tranh gây ra cho người tiêu dùng cũng như nền kinh tế.19 Theo đó, các hành vi gây hạnchế cạnh tranh không chỉ gây thiệt hại đối với người tiêu dùng về giá thành cao, ít sự lựachọn mà nó còn tạo ra sự lãng phí, cản trở sự phát triển của kinh tế, xã hội vì phải bỏ ra mộtphần chi phí để duy trì những doanh nghiệp nhỏ, kém hiệu quả dẫn đến không đủ khả năng
để áp dụng các khoa học-kỹ thuật hiện đại vào công nghệ và động lực trong kinh doanhcũng sẽ bị loại bỏ
Trên khía cạnh xã hội, các hành vi hạn chế cạnh tranh như câu kết với nhau để ấnđịnh giá cao hay tạo ra sự khan hiếm hàng hóa trên thị trường để tăng giá về bản chất cũngcũng có yếu tố chiếm đoạt như các tội “trộm cắp” hay “lừa đảo”.20 Ở đây, khách thể bị xâmhại chính là quyền tài sản của khách hàng, vì tài sản của họ bị bị chiếm đoạt thông qua việcphải trả mức giá cao hơn so với mức giá mà họ có thể sở hữu hàng hóa nếu như không cóhành vi hạn chế cạnh tranh
Trong thời hiện đại như ngày nay, thị trường ngày càng mở rộng nên việc pháthiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm hạn chế cạnh tranh chế là điều không dễ dàng Tuynhiên, hầu hết các quốc gia đã xây dựng luật cạnh tranh để đối phó với những sai sót nhưvậy dựa trên phạt tiền Trong bối cảnh này, cần lưu ý rằng luật cạnh tranh dựa trên phạt tiền
19 John M Connor, Albert A Foer và Simch Udwin, Criminalising Cartels: An American Perspective, tập 1, chương 2,
2010.
20 Nguyễn Anh Tuấn (2018), Bình luận: tội vi phạm quy định về luật cạnh tranh (Điều 217), Bài viết cho hội thảo
"Báo cáo những điểm mới của Bộ luật Hình sự 2017 và việc tổ chức thực hiện" của Viện nghiên cứu lập pháp trong khuôn khổ Dự án quản trị Nhà nước nhằm tăng trưởng toàn diện năm 2018 tại Nghệ An ngày 2/8/2018,
https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/80/810 , truy xuất ngày 9/12/2020
Trang 19vẫn có điểm yếu khá nghiêm trọng Khi một doanh nghiệp có hành vi gây hạn chế cạnhtranh sẽ luôn tính toán đưa ra dự kiến về mức lợi nhuận mà doanh nghiệp sẽ kiếm được từhành vi gây ra hạn chế cạnh tranh đó và đương nhiên họ cũng tính toán mức tiền phạt màdoanh nghiệp có thể phải chịu nếu bị phát hiện Mặc dù số tiền phạt chính xác rất khó tínhtoán, người vi phạm có thể tính toán số tiền gần đúng bằng cách xem xét hoạt động của cơquan quản lý cạnh tranh Do đó, nếu lợi nhuận nhiều hơn so với mức tiền phạt doanh nghiệp
sẽ không ngần ngại thực hiện các hành vi gây hạn chế cạnh tranh Các doanh nghiệp vẫn cóthể thanh toán tiền phạt hoặc tiền bồi thường, vì nó chỉ là một khoản không đáng kể so với
số tiền họ thu được từ các hành vi gây hạn chế cạnh tranh.21
Việc hình sự hóa một số hành vi hạn chế cạnh tranh trong pháp luật cạnh tranhchủ yếu xuất phát từ thực trạng đó là hình phạt áp dụng đối với các doanh nghiệp vi phạmvẫn chưa thực sự đủ tính răn đe Vì khi áp dụng những hình phạt đó, đối tượng chịu sự tácđộng trực tiếp là cổ đông hoặc chủ chủ sở hữu của doanh nghiệp Qua đó, hình phạt dù cónghiêm khắc đến mấy cũng chưa tạo động lực rõ ràng cho những người tham gia quản lýdoanh nghiệp - những người thường bất chấp các thủ đoạn để được thăng tiến hay đượcnhận nhiều tiền thưởng hơn Do vậy, cần phải có chế tài thích ứng để tăng tính răn đe chonhững người tham gia quản lý trong doanh nghiệp và ngăn chặn các hành vi gây hạn chếcạnh tranh gây tác động mạnh đến kinh tế, xã hội.22
CH ƯƠNG II NG II : NGHIÊN C U KINH NGHI M L P PHÁP C A M T S QU C GIA V ỨU KINH NGHIỆM LẬP PHÁP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ ỆM LẬP PHÁP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ ẬP PHÁP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ ỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ ỘT SỐ QUỐC GIA VỀ Ố QUỐC GIA VỀ Ố QUỐC GIA VỀ Ề
CH TÀI HÌNH S TRONG H N CH C NH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY Đ NH Ế TÀI HÌNH SỰ TRONG HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH Ự TRONG HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH ẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH Ế TÀI HÌNH SỰ TRONG HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH ẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH ỊNH
PHÁP LU T V T I PH M C NH TRANH T I VI T NAM ẬP PHÁP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ Ề ỘT SỐ QUỐC GIA VỀ ẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH ẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH ẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ ĐÁNH GIÁ QUY ĐỊNH ỆM LẬP PHÁP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ
2.1 Nghiên c u kinh nghi m l p pháp c a m t s qu c gia v ch tài hình s ứu đi trước: ệm lập pháp của một số quốc gia về chế tài hình sự ập pháp của một số quốc gia về chế tài hình sự ủa đề tài: ột số quốc gia về chế tài hình sự ối tượng và phạm vi nghiên cứu ối tượng và phạm vi nghiên cứu ề tài: ết cấu đề tài ự trong h n ch c nh tranh ạm vi nghiên cứu ết cấu đề tài ạm vi nghiên cứu
2.1.1 Kinh nghiệm lập pháp tại Hoa Kỳ
Vào thời điểm năm 1890, đạo luật chống độc quyền đầu tiên của Hoa Kỳ là Luật
chống độc quyền Sherman (Sherman Antitrust Act 1890) đã được Quốc hội thông qua nhằmngăn chặn các tổ chức, doanh nghiệp hình thành rào cản kinh doanh, hạn chế cạnh tranh trênthị trường, duy trì một nền kinh tế lành mạnh.23 Sau này, cùng với sự phát triển của xã hộicác nhà làm luật tại Hoa Kỳ đã ban hành thêm một số đạo luật khác bao gồm: Đạo luật
21 Aneesh V Pillai (2020), The Call for Criminal Sanctions for Enforcement of Competition Law and its Practical Concerns, Cochin University of Science and Technology.
22 TS Nguyễn Anh Tuấn (2018), tldd.
23 Sherman Anti - Trust Act (1890), https://www.ourdocuments.gov/doc.php?flash=false&doc=51 , truy xuất ngày 8/12/2020
Trang 20Clayon năm 1914 (bổ sung Đạo luật Sherman), Đạo luật về Uỷ ban Thương mại Liên bang thành lập Cơ quan cạnh tranh tại Hoa Kỳ năm 1914, Đạo luật Robinson - Patman (bổ sungĐạo luật Clayton), Luật Coller - Kefaner, Luật chống độc quyền sửa đổi Hart - Scoss -Rodino năm 1976.24 Tại Hoa Kỳ, các hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm: thoả thuận hạnchế cạnh tranh, lợi dụng vị trí thống lĩnh thị trường và tập trung kinh tế đều bị cấm Điềunày được thể hiện thông qua quy định tại Mục 1, Đạo luật Chống độc quyền Sherman củaHoa Kỳ: “mọi giao kèo, liên kết dưới dạng độc quyền hoặc bất kỳ một hình thức nào khác,hoặc âm mưu, nhằm hạn chế kinh doanh hoặc trao đổi thương mại giữa các bang với nhau,hoặc với quốc gia khác đều bị tuyên bố là bất hợp pháp”.25 Các nhà lập pháp tại Hoa Kỳcũng khẳng định tầm quan trọng của chế tài khi áp dụng đối với các hành vi phản cạnhtranh: “Nếu không có một biện pháp chế tài thích hợp, thì thắng một phán quyết đối vớihành vi vi phạm như thắng một trận đánh và thua cả cuộc chiến”.26 Có thể thấy, việc cânnhắc đặt ra các chế tài phù hợp là đặc biệt quan trọng để xử lý đối với các vi phạm cạnhtranh nhằm chấm dứt các hành vi sai phạm, ngăn ngừa vi phạm và thiết lập một cơ chế cạnhtranh lành mạnh thúc đẩy sự phát triển của thị trường kinh tế Trong phạm vi của đề tài,nhóm tác giả tập trung vào chế tài hình sự áp dụng đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh.Việc hình sự hoá các hành vi hạn chế cạnh tranh đã được đặt ra từ rất lâu tại Hoa Kỳ, luậtpháp tại nước này coi Cartel là một tội hình sự, cần phải được xử lý thực hiện theo thủ tục tốtụng hình sự Cartel được biết đến là một thoả thuận giữa các công ty để kiểm soát giá cả,sản lượng và các điều kiện khác Những thoả thuận này sẽ dẫn tới việc giảm cạnh tranh, gâykhó khăn cho các doanh nghiệp khác khi tham gia thị trường.27 Tại Hoa Kỳ, đối với nhómhành vi Cartel gồm: thoả thuận ấn định giá, thoả thuận phân chia thị trường, thoả thuậnkiểm soát số lượng sản xuất, mua bán và thông đồng đấu thầu bị lên án một cách nghiêmkhắc.28 Những hành vi này được xem là ảnh hưởng tới thị trường cạnh tranh một cáchnghiêm trọng trong tất cả trường hợp, không biện minh được bằng bất cứ lí do nào do đó bịcấm một cách mặc nhiên.29 Các nhà làm luật tại Hoa Kỳ đánh giá đây là nhóm hành vi mangtính nguy hiểm, thể hiện tính đặc biệt nghiêm trọng do đó mà các chủ thể vi phạm sẽ phải
-24 Nguyễn Thị Tú (2017), Kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc xây dựng và thực thi luật cạnh tranh kinh tế và bài học cho Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán số 08 (169), tr.66, https://elearning.tdmu.edu.vn/elearning- ebook/T%E1%BA%A1p%20Ch%C3%AD%20S%E1%BB%91%20Ho%C3%A1/NguyenThiTu8.pdf , truy xuất ngày 8/12/2020
25 Section 1, Sherman Antitrust Act 1890, https://www.law.cornell.edu/uscode/text/15/1 , truy xuất ngày 8/12/2020
26 Justice Departmend Withdraws Report on Antitrust Monopoly Law, Introduction Chapter 9 Remedies, Competition and monopoly: Single - firm conduct under section 2 of the sherman act, https://www.justice.gov/atr/competition-and- monopoly-single-firm-conduct-under-section-2-sherman-act , truy xuất ngày 8/12/2020
27 Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển kinh tế học, Đại học Kinh tế quốc dân,
https://vietnamfinance.vn/cac-ten-la-gi-20180504224208360.htm, truy xuất ngày 8/12/2020
28Katalin J Cseres, Maarten Pieter Schinkel và Floris OW Vogelaar, Criminalization of Competition Law
Enforcement, tr.3, https://econpapers.repec.org/bookchap/elgeechap/4009_5f1.htm , truy xuất ngày 8/12/2020
Trang 21gánh chịu trách nhiệm hình sự, bị lên án về mặt xã hội lẫn chính trị Khi có những vi phạm
về hành vi kể trên, yếu tố hậu quả không phải dấu hiệu định tội trong việc truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với bên vi phạm Nhóm tác giả cho rằng điều này là hợp lý, bởi lẽ bốnthoả thuận kể trên về bản chất rất khó để các cơ quan điều tra xác định một cách cụ thể hậuquả Những ảnh hưởng của các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh về ấn định giá, thôngthầu, phân chia thị trường, kiểm soát số lượng hàng hoá vốn dĩ đã được xã hội thừa nhận làrất nguy hại, ảnh hưởng tới quyền lợi của người tiêu dùng Ban đầu, tại đạo luật Shermancác tội phạm vi phạm quy định về cạnh tranh được xem là tội phạm ít nghiêm trọng, do đómức hình phạt đối đa là 1 năm tù giam và phạt tiền 5.000 USD Tuy nhiên, sau này việc quyđịnh như vậy là không đủ tính răn đe đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh do đó vào năm
1974 lập pháp Hoa Kỳ đã quy định những hành vi cartel trở thành tội phạm nghiêm trọng vàtăng mức phạt tù từ tối đa 1 năm lên 3 năm Năm 2004 Đạo luật Cải cách và Tăng cườnghình phạt hình sự chống độc quyền đã tăng mức phạt cá nhân tối đa từ 350.000 USD lên đến1.000.000 USD và thời hạn tù tối đa từ 3 năm đến 10 năm.30 Như vậy có thể thấy theo thờigian, mức chế tài hình sự áp dụng đối với các hành vi phản cạnh tranh ngày càng trở nênnghiêm khắc và nặng hơn so với trước kia Nhóm tác giả cho rằng điều này là cần thiết bởi
lẽ hành vi hạn chế cạnh tranh ảnh hưởng tới rất nhiều chủ thể, đặc biệt là việc thoả thuậnhạn chế cạnh tranh có thể được diễn ra dưới trạng thái “thoả thuận ngầm” do đó mang tínhnguy hiểm hơn rất nhiều Cần phải có những chế tài hết sức nghiêm khắc để ngăn chặn cácdoanh nghiệp thực hiện hạn chế cạnh tranh, loại trừ các doanh nghiệp khác, vi phạm quyềnlợi của người tiêu dùng và gây ảnh hưởng tới nền kinh tế chung Việc các nhà làm luật Hoa
Kỳ quy định tăng mức hình phạt (tăng mức tiền phạt, phạt tù) sẽ góp phần giảm thiểu cáchành vi hạn chế cạnh tranh Trên thực tế, sau khi việc nâng mức hình phạt được thực thi cáchành vi hạn chế cạnh tranh tại Mỹ đã giảm đáng kể so với trước đây và các vùng tài phánkhác trên thế giới.31
Một vấn đề nữa được xem là trọng yếu trong pháp luật về cạnh tranh tại Hoa Kỳ
đó là sự khoan hồng đối với Cartel Bộ phận Chống độc quyền của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đãthông qua Chính sách khoan hồng cho doanh nghiệp và Chính sách khoan hồng cho cánhân Chương trình khoan hồng này sẽ giúp cho các cá nhân hoặc tổ chức có hành vi phảncạnh tranh có thể tránh bị truy tố hình sự, bao gồm hình phạt tiền và phạt tù.32 Nói cáchkhác, chính sách khoan hồng của Bộ phận Chống độc quyền chỉ áp dụng đối với trách
29 Báo cáo rà soát các quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, tr.13, http://www.qlct.gov.vn/Modules/CMS/Upload/36/2012_10_15/VN%20-Bao%20cao.pdf, truy xuất ngày 8/12/2020
30 Antitrust Criminal Penalty Enhancement and Reform Act of 2004, Pub L No 108-237, tit II, 118 Stat 661 (2004),
https://www.law.cornell.edu/topn/antitrust_criminal_penalty_enhancement_and_reform_act_of_2004 , truy xuất ngày 9/12/2020
31 Nguyễn Anh Tuấn (2018), tlđd, truy xuất ngày 9/12/2020.