Điều đó giúp cho chúng ta thấyrõ: “Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc,toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân vàt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Đồng Nai – Tháng 06 Năm 2019
MỤC LỤC
Trang 2CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý
THỨC 1
1 Vật chất 1
2 Ý thức 5
3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 7
4 Ý nghĩa phương pháp luận: 10
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI NƯỚC TA HIỆN NAY 11
1 Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị 11
2 Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay: 13
CHƯƠNG 3: TỔNG KẾT 20
Tài liệu tham khảo: 21
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 3Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởixướng và lãnh đạo đã trải qua hơn ba mươi năm, đã thu được nhiều thành tựuquan trọng, đã, đang và sẽ đem lại những thay đổi lớn lao cho đất nước và dântộc Kết quả quan trọng đó có phần quan trọng là Đảng Cộng sản Việt Nam đãvận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của triết học mác xít, trong đó cóphép biện chứng duy vật vào xây dựng và thực hiện đường lối đổi mới.
Đảng ta xác định rõ mục tiêu giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước hiện nay là: “Phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng làthen chốt, phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố quốc phòng
- an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên” Điều đó giúp cho chúng ta thấyrõ: “Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc,toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân vàtoàn quân”
Để triển khai một cách hiệu quả, đòi hỏi các thế hệ cách mạng hiện nayphải nắm được bản chất của phép biện chứng duy vật, không ngừng học tập vàrèn luyện mới có thể vận dụng một cách đúng đắn phương pháp biện chứng vềmối quan hê giữa vật chất và ý thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đangđặt ra mà không rơi vào ngụy biện, chiết trung… để thực hiện thắng lợi mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước tiến lên chủnghĩa xã hội
Với ý nghĩa đó em đã chọn đề tài "Mối quan hệ biện chứng giữa vật
chất và ý thức và vận dụng vào công cuộc đổi mới nước ta hiện nay".
Trang 4CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học Phạmtrù vật chất và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết họctrước Mác quan tâm với nhiều quan điểm khác nhau và luôn diển ra cuộc đấutranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trong suốt lịch sử của triếthọc
1 Vật chất
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2.500 năm Ngay từ lúc mới ra đời, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Giống như mọi phạm trù khác, phạm trù vật chất có quá trình phát sinh và phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người và với sự hiểu biết của con người về giới tự nhiên
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm thì thực thể của thế giới, cơ sở củamọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể là "ý chí của Thượng đế"
là "ý niệm tuyệt đối", v.v
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì thực thể của thế giới là vật chất,cái tồn tại một cách vĩnh cửu, tạo nên mọi sự vật và hiện tượng cùng với nhữngthuộc tính của chúng
a Định nghĩa vật chất
Kế thừa tư tưởng của C Mác và Ph ăngghen; tổng kết những thành tựukhoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và từ nhu cầu của cuộc đấutranh chống chủ nghĩa duy tâm, V.I Lênin đã định nghĩa:
"Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đemlại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
V.I.Lênin phân biệt hai vấn đề quan trọng:
Trước hết là phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học vớicác quan niệm của khoa học tự nhiên về cấu tạo và những thuộc tính cụ thể củacác đối tượng các dạng vật chất khác nhau Vật chất với tư cách là phạm trù triếthọc dùng chỉ vật chất nói chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra, không mất đi;còn các đối tượng, các dạng vật chất khoa học cụ thể nghiên cứu đều có giớihạn, có sinh ra và mất đi để chuyển hóa thành cái khác Vì vậy, không thể quyvật chất nói chung về vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với nhữngdạng cụ thể của vật chất như các nhà duy vật trong lịch sử cổ đại, cận đại đãlàm
Thứ hai là trong nhận thức luận, đặc trưng quan trọng nhất để nhận biết vậtchất chính là thuộc tính khách quan Khách quan, theo V.I.Lênin là "cái đang
Trang 5tồn tại độc lập với loài người và với cảm giác của con người" Trong đời sống xãhội, vật chất "theo ý nghĩa là tồn tại xã hội không phụ thuộc vào ý thức xã hộicủa con người"3 Về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất không có nghĩa
gì khác hơn: "thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ýthức con người phản ánh"
Như vậy, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao gồm những nội dung cơbản sau:
- Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộcvào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy con người đã nhận thức được hay chưa nhận thứcđược
- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hoặc trựctiếp tác động lên giác quan của con người
- Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của vật chất
Với những nội dung cơ bản như trên định nghĩa vật chất của V I Lênin cónhiều ý nghĩa to lớn
- Khi khẳng định vật chất là "thực tại khách quan được đem lại cho conngười trong cảm giác", "tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác", V.I.Lênin đã thừanhận rằng, trong nhận thức luận, vật chất là tính thứ nhất, là nguồn gốc kháchquan của cảm giác, ý thức Và khi khẳng định vật chất là cái "được cảm giác củachúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh", V.I.Lênin muốn nhấn mạnh rằng bằngnhững phương thức nhận thức khác nhau (chép lại, chụp lại, phản ánh ) conngười có thể nhận thức được thế giới vật chất Như vậy, định nghĩa vật chất củaV.I.Lênin đã bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, bác bỏ thuyết không thểbiết, đã khắc phục được những hạn chế trong các quan điểm của chủ nghĩa duyvật trước Mác về vật chất Đồng thời, định nghĩa vật chất của V.I.Lênin còn có ýnghĩa định hướng đối với khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc cáchình thức mới của vật thể trong thế giới
Như vậy, chúng ta thấy rằng định nghĩa vật chất của Lênin là một địnhnghĩa toàn diện và triệt để nó giải đáp được cả hai mặt vấn đề cơ bản của triếthọc trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phân biệt về nguyên tắcvới chủ nghĩa duy tâm, bất khả trị luận, nhị nguyên luận Đồng thời nó cũngkhắc phục thiếu sót, siêu hình, hẹp hòi trong quan niệm về vật chất của chủnghĩa duy vật cũ
Định nghĩa vật chất của Lênin cũn giúp chúng ta nhân tố vật chất trong đờisống xã hội, đó là tồn tại xã hội, và nó cũng có ý nghĩa trực tiếp định hướngtrong nghiên cứu khoa học tự nhiên, giúp khoa học tự nhiên ngày càng đi sâuvào nghiên cứu dạng cụ thể của vật chất trong giới vĩ mô Nó cũng giúp chúng
ta có thái độ khách quan và đòi hỏi chúng ta phải xuất phát từ thực tế kháchquan trong suy nghĩ và hành động
b Các đặc tính của vật chất:
Trang 6*Vận động là phương thức tồn tại của vật chất và là thuộc tính cố hữu của vật chất.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vận động là mọi sự biếnđổi nói chung chứ không phải là sự chuyển dịnh vị trí trong không gian, Anghencho rằng vận động là một phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữucủa vật chất nó bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũtrụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy Vận động có nhiều hìnhthức trong đó có 5 hình thức vận động cơ bản: Thứ nhất vận động cơ học (Dichuyển vị trí của các vật thể trong không gian); thứ hai: vận động vật lớ (vậnđộng của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình điệnnhiệt…);thứ ba:vận động hoá học (vận động của các nguyên tử, các quá trìnhhoá hợp và phân giải các chất);thữ tư:vận động sinh học (trao đổi chất giữa cơthể sống và môi trường); thứ năm:vận động xã hội (sự biến đổi thay thế của cáchình thái kinh tế xã hội) Các hình thức vận động đều quan hệ chặt chẽ với nhau.Một hình thức vận động nào đó được thực hiện là do sự tác động qua lại với cáchình thức vận động khác trong đó những hình thức vận động cao bao giờ cũngbao hàm những hình thức vận động thấp hơn, nhưng cũng không thể coi hìnhthức vận động cao là tổng số đơn giản các hình thức vận động thấp Mỗi sự vật,hiện tượng có thể gắn với nhiều hình thức vận động nhưng bao giờ cũng đượcđặc trưng bằng một hình thức vận động cơ bản
Thế giới vật chất bao giờ cũng ở trong quá trình vận động không ngừng.Không thể có vật chất không vận động, tức là vật chất tồn tại bằng cách vậnđộng và thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của mình Hay nói cáchkhác vận động là phương thức tồn tại của vật chất Anghen nhận định rằng vàcác rạng khác nhau của vật chất chỉ có thể tồn tại thông qua vận động chỉ thôngqua vận động mới có thể thấy được thuộc tính của vật thể Trong thế giới vậtchất từ các hạt cơ bản đến thế giới vi mô đến các hệ thống hành tinh khổng lồtrong thế giới vĩ mô từ vô cơ đến hữu cơ, đến xã hội loài người, tất cả luôn ởtrạng thái vận động Bất cứ một dạng vật chất nào cũng là một thể thống nhất cókết cấu xác định gồm những nhân tố, những bộ phận, những xu hướng khácnhau, cùng tồn tại, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau Sự tác động qua lại đó gây
ra biến đổi Nguồn gốc của vận động là do những nguyên nhân bên trong, vậnđộng của vật chất là tự thân vận động
Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất, không thể có vận động bênngoài vật chất, vận động không do ai sáng tạo ra và không thể tiêu diệt được do
đó vận động được bảo toàn cả về số lượng lẫn chất lượng Khoa học đã chứngminh rằng nếu một hình thức vận động nao đó của sự vật nhất định mất đi thì tấtyếu nó nảy sinh ra một hình thức vận động khác thay thế nó Cỏc hình thức vậnđộng chuyển hoá lẫn nhau, còn vận động của vật chất nói chung thì vĩnh viễntồn tai với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất
Trang 7Mặc dù vật chất luôn ở trong quá trình vận động không ngừng nhưng điều
đó không loại trừ mà còn bao hàm cả hiện tượng đứng im tương đối không cóhiện tượng đứng im tương đối thì không có sự phõn hoỏ thế giới vật chất thànhcác sự vật và hiện tượng phong phú và đa dạng Anghen khẳng định rằng khảnăng đứng im tương đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là nhữngđiều kiện chủ yếu của sự phân hóa vật chất Nếu vận động là sự biến đổi của các
sự vật, hiện tượng thì sự đứng im là sự ổn định, là sự bảo toàn tính qui định củacác sự vật hiện tượng Đứng im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động, vậnđộng trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối Trạng thái đứng im cònđược biểu hiện như là một quá trình vận động trong phạm vi của sự ổn định,chưa biến đổi Đứng im chỉ là tạm thời vỡ nó chỉ xảy ra trong một thời gian nhấtđịnh Vận động riêng biệt có xu hướng chuyển thành cân bằng nhưng vận độngtoàn thể lại phân loại sự cân bằng riêng biệt thành các sự vật, hiện tượng luônthay đổi chuyển hoá cho nhau
*Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.
Không gian phản ánh thuộc tính của các đối tượng vật chất có vị trí, cóhình hình thức kết cấu, có độ dài, ngắn, cao, thấp Không gian biểu hiện sự cùngtồn tại và tách biệt của các sự vật với nhau, biểu hiện khoảng tính của chúng, trật
tự phân bố chúng Còn thời gian phản ánh thuộc tính của các quá trình vật chấtdiễn ra nhanh hay chậm, kế tiếp nhau theo một trật tự nhất định Thời gian biểuhiện tốc độ và trình tự diễn biến của các quá trình vật chất, tính cách biệt giữacác giai đoạn khác nhau của các quá trình đó, sự xuất hiện và mất đi của các sựvật hiên tượng
Không gian và thời gian là hình cơ bản của vật chất đang vận động Lênin
đó chỉ ra trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đang vận động, và vật chấtđang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian Khônggian và thời gian là tồn tại khách quan Nó không phải là hình thức chủ quan đểxếp chặt các cảm giác mà ta thu nhận một cách lộn xộn như chủ nghĩa duy tâmquan niệm, cũng như nó không thể đứng ngoài vật chất Không có không giantrống rỗng Không gian và thời gian không phải là bất biến, tuyệt đối, mà trái lạikhông gian và thời gian có sự biến đổi phụ thuộc vật chất vận động
* Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tinh thần có trước, quyết định vật chất, do đócũng cho rằng thế giới thống nhất ở tinh thần Còn chủ nghĩa duy vật biện chứnglại khẳng định rằng, tính thống nhất chân chính của thế giới là ở tính vật chấtcủa nó Triết học Mác- Lênin khẳng định chỉ có một thế giới duy nhất là thế giớivật chất, không có thế giới tinh thần Thế giới thần linh ma quỷ tồn tại ở đâu đóbên trên, bên dưới ở trong hay ở ngoài thế giới vật chất Đồng thời còn khẳngđịnh rằng các bộ phận thế giới đều là những dạng cụ thể của vật chất, có liên hệvật chất thống nhất với nhau như liên hệ về cơ cấu tổ chức, liên hệ về lịch sử
Trang 8phát triển và đều phải luôn tuân thủ theo những qui luật khách quan của thế giớivật chất Do đó thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn, vô tận không do aisinh ra và cũng không mất đi trong thế giới đó không có cái gì khác ngoài nhữngquá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hoá lẫn nhau, là nguyên nhân và làkết quả của nhau.
2 Ý thức
a Kết cấu của ý thức
Cũng như vật chất có rất nhiều các quan niệm về ý thức theo các trườngphái khác nhau Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật ở đây khẳng định rằng ýthức là đặc tính là sản phẩm của vật chất, ý thức là sự phản ánh thế giới kháchquan vào bộ óc của con người thông qua lao động và ngôn ngữ Mác nhấn mạnhrằng tinh thần, ý thức chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ óc củacon người và được cải biến ở trong đó
Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu phức tạp bao gồm ý thức,tri thức, tìm cảm, ý chí trong đó tri thức là quan trong nhất là phương thức tồntại của ý thức.
Tri thức là phương thức tồn tại của ý thức vì sự hình thành và phát triển của
ý thức có liên quan mật thiết với nhau trong quá trình nhận thức của con người
và cải biến thế giới tự nhiên Tri thức càng được tích luỹ con người ngày càng đisâu vào bản chất sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn, tính năng động của ýthức cũng nhờ đó mà tăng hơn Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản, quantrọng nhất của ý thức có ý nghĩa chống quan điểm giản đơn coi ý thức chỉ là tìnhcảm niềm tin, ý chí Quan điểm đú chớnh là biểu hiện của bệnh chủ quan duy ýchí, của niềm tin mù quáng, của sự tưởng tượng chủ quan Tuy nhiên việc nhấnmạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phủ nhận và coi nhẹ vai tròcủa các nhân tố tình cảm ý chí
Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng của ý thức Chủ nghĩa duy tâm coi
tự ý thức là một thực thể độc lập, tự nó, có sẵn trong các cá nhân, biểu hiện quan
hệ xã hội Trái lại chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tự ý thức là ý thứchướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ thế giới bên ngoài Khiphản ánh thế giới khách quan, con người tự phân biệt mình, đối lập mình với thếgiới đó và tự nhận thức minh như là một thực thể hoạt động, có cảm giác, có tưduy, cú cỏc hành vi đạo đức và có vị trí xã hội Mặt khác sự giao tiếp xã hội vàhoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người phải nhận rõ bản thân mình và tựđiều chỉnh bản thân mình theo các qui tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội đề ra Ngoài
ra văn hoá cũng đóng vai trũ "Cỏi gương soi" giúp cho con người tự ý thức đượcbản thân.
Vô thức là một hiện tượng tõm lớ nhưng có liên quan đến những hoạt độngxảy ra ở ngoài phạm vi của ý thức Có hai loai vô thức: Loại thứ nhất liên quanđến hành vi chưa được con người ý thức; loai thứ hai liên quan đến các hành vi
Trang 9trước kia đã được ý thức nhưng do lặp lại nờn đó trở thành thói quen, có thể diễn
ra “Tự động” bên ngoài sư chỉ đạo của ý thức Vô thức ảnh hưởng đến nhiềuphạm vi hoạt động của con người Trong những hoàn cảnh nào đó nó có thể giúpcon người bớt sự căng thẳng trong hoạt động Việc tăng cương rèn luyện để biếnnhững hành vi tích cực thành thói quen và có vai trò rất quan trong đời sống củacon người Trong con người ý thức vẫn là cái chủ đạo cái quyết định trong hành
Sự phụ thuộc của ý thức vào sự hoạt động của bộ não thể hiện ở chỗ khi bộ não
bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ bị rối loạn Tuy nhiên, không thể qui mộtcách đơn giản ý thức về các quá trình sinh lí bởi vì óc chỉ là cơ quan phản ánh
Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người Sự xuất hiệncủa ý thức gắn liền với sự phát triển đặc tính của phản ánh, đặc tính này pháttriển cùng với sự phát triển của thế giới tự nhiên Sự xuất hiện của con người và
xã hội loài người đưa lại hình thức của sự phản ánh, đó là sự phản ánh ýthức. Sự phản ánh ý thức luôn gắn liền với việc làm cho tự nhiên thích nghi vớinhu cầu phát triển của xã hội
*Nguồn gốc xã hội:
Sự ra đời của ý thức gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của bộ
óc con người dưới ảnh hưởng của lao động, của giao tiếp và các quan hệ xã hội.Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính chất xã hội nhằm cảitạo tự nhiên, thoả mãn nhu cầu và phục vụ mục đích của bản thân con người.Chính nhờ lao động, con người và xã hội mới hình thành và phát triển Lao động
là phương thức tồn tại đầu tiên của con người, lao động đồng thời ngay từ đầu
đã liên kết những con người với nhau trong những quan hệ khách quan, tất yếu,mối quan hệ này đến lượt nó lại làm nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và tổchức lao động, nhu cầu " Cần phải có với nhau một cái gì" Và kết quả là ngônngữ ra đời Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy Với sự xuất hiệnngôn ngữ, tư tưởng của con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trựctiếp, trở thành tính hiệu vật chất tác động đến giác quan con người và gây ra cảmgiác Nhờ có ngôn ngữ con người có thể giao tiếp, trao đổi tư tưởng, tình cảmlẫn nhau truyền đạt kinh nghiệm cho nhau Thông qua đó mà ý thức cá nhân trởthành ý thức xã hội và ngược lai,ý thức xã hội thâm nhập vào ý thức cá nhân
Trang 10Ngôn ngữ đã trở thành một phương tiện vật chất không thể thiếu được của sựtrừu tượng hoá, tức là quá trình hình thành, thực hiện ý thức và chính nhờ trừutượng hoá và khái quát hoá mà con người có thể đi sâu vào bản chất của sự vật,hiện tượng, đồng thời tổng kết được hoạt động của mình trong toàn bộ quá trìnhphát triển lịch sử.
Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền lao động, với hoạt động sáng tạo cải biến vàthống trị tự nhiên của con người và đã trở thành mặt không thể thiếu được củahoạt động đú Tớnh sáng tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó khụng chụp lại mộtcách thụ động, nguyên xi sự vật mà phản ánh gắn liền với cải biến, quá trình thuthập thông tin gắn liền với xử lí thông tin Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện
ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan, ở quá trình chủ động tácđộng vào thế giới để phản ánh thế giới đó
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau không thể tách rời.Không cú phản ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sởsáng tạo Ngược lại không có sự sáng tạo thì không phải là phản ánh ý thức Đó
là mối quan hệ biện chứng giữa hai quá trình thu nhập và xử lí thông tin, là sựthống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan trong ý thức
Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế giớicủa con người Hoạt động đó không phải là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xãhội Do ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội Ý thức trước hết là trithức của con người về xã hội và hoàn cảnh, về những gì đang diễn ra ở thế giớikhách quan, về mối liên hệ giữa người và người trong xã hội Do đó ý thức xãhội hình thành và bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật tồn tại của xã hộiđó…Và ý thức của mỗi cá nhân mang trong lòng của ý thức xã hội Bản thốngnhất nó thể hiện ở tính năng động chủ quan của ý thức, ở mối quan hệ giữa nhân
tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tao thế giới của con người
3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Trong lịch sử, chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước vật chất có sau,
ý thức quyết định vật chất
Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vậtchất quyết định ý thức và sinh ra ý thức Tuy nhiên quan điểm của họ chưa thấyđược vai trò, tính năng động sáng tạo của ý thức
Trang 11Mối quan hệ vật chất và ý thức chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:
*Vai trò của vật chất đối với ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: vật chất có trước, ý thức có sau,vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc ngườinên chỉ khi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người vớithế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giớivật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất Kết luận này đã được chứng minhbởi sự phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằngchứng khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ
óc người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phảnánh, lao động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giớikhách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượngphản ảnh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vậtchất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất Sự vận động và pháttriển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quyluật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định Những yếu tố nàythuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyếtđịnh cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức
*Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chấtthông qua hoạt động thực tiễn của con người
Trang 12Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đếnvai trò của con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gìtrong hiện thực Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạtđộng vật chất Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nênvai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà
nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy conngười xác định mục tiêu, đề ra phương huớng, xây dựng kế hoạch, lựa chọnphương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v để thực hiện mục tiêu củamình Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông quahoạt động thực tiền của con người
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tíchcực hoặc tiêu cực Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tìnhcảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp vớicác quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thứctrong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo - đó là sự tácđộng tích cực cúa ý thức Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúnghiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướnghành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động ấy
sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực kháchquan
Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thếquyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúnghay sai, thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vậtchất, của ý thức có thể thấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nộidung và khả năng sáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ýthức chỉ có khả năng tác động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân
mà phải thông qua hoạt động thực tiễn (hoạt động vật chất) của con người Sứcmạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ýthức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những người hành động, trình độ tổchức của con người và những điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất, trong đócon người hành động theo định hướng của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng xuất phát từ con người hiện thực, con ngườithực tiễn để xem xét mối quan hệ này Từ đó khảng định, vật chất có trước, ýthức có sau, vật chất quyết định ý thức và ý thức tác động trở lại vật chất thôngqua hoạt động của con người
* Vật chất quyết định ý thức: Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chấtquyết định nguồn gốc, bản chất, nội dung sự biến đổi của ý thức
Ví dụ :Trong đời sống xã hội câu: thực túc, binh cường, có thực mới vựcđược đạo