Chế biến trà Ô long trong giai đoạn chè tươi Quy trình sản xuất trà Ô Long giai đoạn chè tươi Nguyên liệu chè búp tươi Nguyên liệu chè tươi sau khi hái về cần phải để nơi thoáng mát, p
Trang 2Nội dung báo cáo gồm 3 phần
1.Trình bày các đặc điểm của nguyên liệu
lá trà được dùng trong công nghệ chế biến trà olong (cách trồng, thu hái, đặc điểm lá )
2.So sánh quy trình sản xuất trà olong của công ty trà Phước Lạc và Long Đỉnh.
3.Trình bày quy trình sản xuất rượu vang của công ty Vĩnh Tiến
Trang 31.Trình bày các đặc điểm của nguyên liệu lá
trà được dùng trong công nghệ chế biến trà olong (cách trồng, thu hái, đặc điểm lá )
Giống trà Olong tiêu biểu được trồng nhiều ở Việt Nam là giống trà: Olong Kim Tuyên, Olong
Thúy Ngọc và giống lai Olong Tứ Qúy
Olong Thúy Ngọc Olong Tứ Quý Olong Kim Tuyên
- Dạng thân bụi, mật độ cành dày,
tán phát triển theo chiều ngang
– Lá hình bầu dục, thế lá ngang,
răng cưa rõ và đều, chóp lá tù
– Búp màu xanh nhạt, tuyết trung
bình
– Cây sinh trưởng khỏe mạnh,
mật độ búp vừa phải
– Trà 2 trồng được 2 năm, với
điều kiện tốt tại Lâm Đồng sẽ cho
năng suất 5 – 6 tấn/ha
– Xuất phát từ một loại trà đã qua
– Cây có dạng thân bụi, kích
thước lá nhỏ
.– Răng cưa mờ, có 8 đôi gân lá
– Lá màu xanh đậm, bóng, mép lágợn sóng, thế lá ngang
– Dễ nảy mầm, sức sinh trưởng
khỏe mạnh
– Năng suất : Trong điều kiệncanh tác tốt tại Lâm Đồng, tràtrồng được 2 năm sẽ đạt năng suất
4,5 -5 tấn/ha
Trang 4Hình 1 Hình dạng lá của các giống trà khác nhau.
ĐIỀU KIỆN KHÍ HẬU, ĐẤT ĐAI KHI TRỒNG TRÀ OLONG Khí hậu
– Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 18 – 23oc
– Độ ẩm không khí trung bình hàng năm: >80%
– Lượng mưa hàng năm trên 1200 mm
Đất đai
– Đất có tầng dày canh tác 50 cm trở lên, kết cấu tơi xốp
– Mạch nước ngầm ở sâu dưới mặt đất từ 100 cm trở lên
– Độ PH 4,0 – 6,0, tỷ lệ mùn tổng số 2,0% trở lên
– Độ dốc bình quân đồi không quá 25 độ
Trang 5– Đối với các giống trà thì độ cao nơi trồng là yếu tố quyết định đến hương vị của trà mà đặc biệt là giống trà Olong sẽ cho hương thơm và hậu ngọt hơn là trồng ở vùng đất thấp.
Trang 6– Chất lượng nước tưới cho trà phải là nước sạch, không bị ô nhiễm bởi các chất độc hại Nhu cầu lượng nước tưới cho trà thay đổi theo giai đoạn sinh trưởng của cây.
– Khi cây còn nhỏ thì lượng nước cần ít, khi cây lớn cho sản lượng búp càng cao thì nhu cầu nước càng cao
Sử dụng các phương tiện tưới nước tùy theo điều kiện cụ thể :
Phương pháp tưới phổ thông hiện nay là tưới rãnh
Phương pháp tưới sử dụng vòi phun, hay hệ thống giàn tưới kiểu phun mưa hoặc nhỏ giọt với vòi tưới di động hoặc cố định
– Căn cứ vào ẩm độ đất là cách xác định thời điểm tưới nước phổ biến hiện nay
– Độ ẩm đất thích hợp là 75 – 80%
– Thường tưới nước kết hợp với bón phân thúc để tăng hiệu quả phân bón
– Lượng nước tưới tăng dần theo sản lượng búp thu hoạch được
– Kết hợp giữa tưới nước và tủ gốc giữ ẩm cho trà
QUY TRÌNH - KỸ THUẬT THU HÁI TRÀ OLONG
– Thu hái khi chồi nách bắt đầu chuyển sang màu xanh non, lá chưa nở hết chưa hái, chỉ lấy ngọn chồi
và chừa lại 2-3 lá non
– Định kỳ 50 - 55 ngày hái một lần Trà Olong được hái bằng tay
– Tuyển chọn những búp đạt yêu cầu có hình thể 1 tôm hai lá Mỗi năm trà Olong phát lộc 3-7 lần
– Cần tập trung hái nhiều chồi đỉnh, chồi mập, chồi dài, không hái chồi bên, chồi nhỏ, chồi ngắn
– Cũng có thể tập trung thu hái một số chồi mập, đợi các chồi nách mọc ra thật nhiều rồi lại hái tiếp Như vậy có thể hướng tới tạo ra tán lá nhiều cành, nhiều ngọn, nhiều tầng
– Khi thu hái trà Olong, lần đầu nên hái nhiều, lần sau nên hái ít Khi hái trà cần phải cẩn thận, tránh làm gãy cây, cành trà, lưu ý phải kịp thời xới đất, bón phân
Trang 7Hình 3 Hái
trà thủ công
NHỮNG ĐIỀU
NÊN BIẾT KHI HÁI TRÀ OLONG
– Để bảo đảm búp trà tươi nguyên, nghĩa là trà không bị dập, ( vì khi ngọn trà bị dập thì lập tức sẽ bị oxy hóa )
– Trà khi hái được chứa trong gùi tre, trọng lượng trà trong gùi không vượt quá 7kg, thời gian một lầnhái không quá 40 phút Sau đó được tập kết về một điểm và đưa vào nhà máy chế biến
– Hái đúng kỹ thuật làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và tạo cho cây chè sinh trưởng, khỏe và bền vững
– Với đặc điểm của cây chè mỗi một búp sinh ra từ 1 nách lá, do vậy nhiều lá sẽ có nhiều búp, năng xuất cao Cho nên chỉ hái búp và hai đến ba lá, không hái hết lá trên cây trà
Trang 8Hình 4 Búp trà non trên cây
NHÂN GIỐNG TRÀ OLONG
Sau khi chọn được cây giống tốt cần tiến hành nhân giống với số lượng lớn để phục vụ trồng trọt và sản xuất Dùng biện pháp nhân giống vô tính từ một đoạn của cành trà 1,2 lá và chồi nách đem giâm trên mặt đất
Ưu điểm của phương pháp này chính là quần thể đồng đều, giữ được đặc tính của cây trà, khó khăn nhất vẫn là đòi hỏi kĩ thuật phải thật công phu Chọn nơi đất bằng, thoáng, gần nguồn nước, gần khu vực trồng trà
ty trà Phước Lạc và Long Đỉnh.
Quy trình sản xuất trà Ô long của công ty Long Đỉnh.
Được phân thành 2 giai đoạn: giai đoạn chè tươi và giai đoạn chè khô.
Hình 5 Chế biến trà Ô long trong giai đoạn chè tươi
Quy trình sản xuất trà Ô Long giai đoạn chè tươi
Nguyên liệu chè búp tươi
Nguyên liệu chè tươi sau khi hái về cần phải để nơi thoáng mát, phơi chè lớp mỏng tránh dập mát, phơi chè lớp mỏng tránh dập nát Chè búp tươi phải đảm bảo 1 tôm, hai ba lá non và không để chè quá lâu sau thu hoạch
Hái chè phải đúng kỹ thuật, lá không bị sâu, màu xanh non mượt, hái đúng ngày sinh trưởng, đúng lúckhô sương, khi hái không được đổ dồn với độ dài khoảng 15 phân, không được giẫm nát và khi vận chuyển chè được cho vào các giỏ nhựa 0.6m x 0.8m Sau khi hái xong phải chuyển ngay về nhà máy chế biến, không để quá 2 giờ sau khi hái, khi về đến nhà máy phải được làm héo ngay
Trang 9Hình 6 Hái chè Ô Long bằng dao lam để tránh dập chè
Héo nắng:
Mục đích: Tăng cường hoạt tính của các men, để chuyển quá trình tổng hợp các chất khi đọt chè chưa hái, thành quá trình phân giải các chất để chuẩn bị cho quá trình lên men; tạo điều kiện cho các enzim thủy phân, phân giải các hợp chất không tan thành các hợp chất hòa tan, tạo thành hương thơm đặc trưng sau này của sản phẩm
Về yêu cầu lý học là giảm một lượng nước trong lá trà, tăng cường nồng độ các chất trong dịch bào, tăng tốc độ phản ứng hóa học, đồng thời làm mất lực tương tác của lá làm mềm dẻo đọt trà, để khi tạo hình và phá vỡ tế bào không làm cho đọt chè bị nát vụn
Có 2 phương pháp héo nắng là: làm héo tự nhiên và làm héo nhân tạo
– Làm héo tự nhiên: là làm héo chè bằng năng lượng ánh sáng mặt trời với điều kiện ánh nắng 40% Dùng lưới đen cản ánh sáng trực tiếp để chè không bị đỏ Chè khi hái về sẽ được trải ra thành từng lớpmỏng trên bạt với độ dài 1,5-2 kg/m2 Khoảng 15 phút thì đảo chè 1 lần, đảo từ 2-3 lần tùy từng loại chè Tùy thời tiết mà thời gian làm héo khác nhau, nhiệt độ thích hợp để phơi từ 25-300, thời gian từ 1giờ 30 phút đến 2 giờ
Trang 10– Làm héo nhân tạo: là làm héo trong phòng héo bằng hơi nóng, phương pháp này áp dụng cho mùa mưa lạnh Nhiệt độ phòng làm héo là 38-400 C, cho trà ra các nia làm héo trong 30-35 phút, cứ 15 phút đảo chè một lần Sau đó trà được đưa vào phòng mát để hạ nhiệt trước khi đưa chè vào phòng héo mát.
Hình 7 Búp chè sau khi hái được đem trải mỏng ở sân héo nắng
Trang 11hóa xảy ra nhanh, giai đoạn này có ảnh hưởng đến màu sắc và hương thơm của lá chè.
Chè sau khi héo mát thì được đưa đổ vào thùng quay thơm và điều chỉnh thời gian hợp lý cho từng loại chè, thường thì 15 đến 20 vòng, mỗi vòng quay trong 1 phút Kết thúc quá trình quay thơm, chè
có mùi thơm của hoa sứ, cảm giác mát lạnh ở mũi
Chè sau khi được quay thơm thì cho lên nia đẩy để lên men trong phòng lên men Thời gian lên men
là từ 1,5 đến 2 giờ, giai đoạn này không được đảo trộn vì khi quay thơm mùi cỏ đi hết, khi lên men cần để yên để tạo mùi thơm đặc trưng
Xào trà:
Mục đích là diệt men giữ cho màu nước xanh tươi, diệt men càng nhanh càng tốt Dùng độ nóng cao phá vỡ hoạt tính của enzim lên men, giảm độ ẩm của lá trà để phục vụ cho giai đoạn tạo hình và làm dập tế bào lá trà
Trang 12Xào chè bằng thiết bị ống xào, để bức xạ nhiệt vào khối chè, làm cho nước trong chè bốc hơi, tạo bầu hơi nóng để diệt men Thời gian xào trà khoảng 5-6 phút, nhiệt đô khoảng 3000C, lưu ý không được xào quá khô để chuyển sang giai đoạn vò chuông chè không bị gãy.
hòa tan tiết ra ngấm phủ lên bề mặt lá để khi pha các chất của trà dễ hòa tan trong nước
Ngoài ra, vò chuông còn có tác dụng làm cho cọng và lá chè mềm, giúp cho giai đoạn tạo hình dễ dàng hơn và cũng là giai đoạn định hướng cho chè thành phẩm
Cho chè sao khi xào vào túi vải đặt chế ủ nóng trong 2 phút, sau đó đưa qua vò chuông Thời gian vò
Hình 11 Chế biến trà Ô long giai đoạn chè khô
Trang 13 Giai đoạn tạo hình:
Giai đoạn này có các công đoạn: sấy nóng, tạo dáng dạng viên, đánh tơi…Các giai đoạn trên được lặplại liên tục từ 14-15 lần, trong khoảng thời gian 5 tiếng, cho đến khi ngoại hình chè bán thành phẩm
có viên tròn hình cầu hoặc bán cầu là được
– Sấy nóng: dùng hơi nóng làm dịu lại chè, nhiệt độ chè khoảng 60 oC
– Tạo dáng: cho chè vào ben ép, máy sẽ xiết-ép-nén nhằm định dạng búp chè thành viên hình tròn Quá trình xiết-ép-nén được lặp đi lặp lại nhiều lần, khi banh chè cứng thì dừng lại tháo ra đánh tơi chochè không bị vón cục, chè sau tơi mà còn bị vón cục thì phải dùng tay để gỡ ra Nếu chè cứng thì phải làm nóng để lá chè mềm lại
Trang 14Hình 12 Trà Ô long đươc phân loại bằng tay và máy trước khi đóng gói thành phẩm
– Ngoại hình: vo viên khoảng 5-8mm, màu xanh đen
– Màu nước: xanh vàng, trong, không có gợn
– Mùi: thơm đặc trưng của chè, không có mùi lạ
Trang 15– Vị: đậm, dịu, có vị ngọt hậu, không có vị lạ
Đóng bao sản phẩm:
Chè bán thành phẩm được đưa sang công đoạn tinh chế tiếp theo hoặc đóng bao bảo quản để tiêu thụ:
– Loại xuất khẩu: 18kg/bao
– Loại nôi tiêu:
đóng gói giấy bạc hút chân không 50, 70, 100, 150, 200g, 250g/gói
đóng vào hộp giấy Carton và bộ sản phẩm quà tặng
Quy trình sản xuất trà olong ở công ty Phước Lạc.
1 Giai đoạn chè tươi
1.1 Nguyên liệu chè búp tươi
Nguyên liệu chè tươi (phải là gốc trà Ô Long) sau khi hái về cần phải để nơi thoáng mát, phơi chè lớpmỏng tránh dập mát, phơi chè lớp mỏng tránh dập nát Chè búp tươi phải đảm bảo 1 tôm, hai ba lánon và không để chè quá lâu sau thu hoạch Hái chè phải đúng kỹ thuật, lá không bị sâu, màu xanhnon mượt, hái đúng ngày sinh trưởng, đúng lúc khô sương, khi hái không được đổ dồn với độ dàikhoảng 15 phân, không được giẫm nát và khi vận chuyển chè được cho vào các giỏ nhựa 0.6m x0.8m Sau khi hái xong phải chuyển ngay về nhà máy chế biến, không để quá 2 giờ sau khi hái, khi vềđến nhà máy phải được làm héo ngay
1.2 Héo nắng:
Mục đích: Tăng cường hoạt tính của các men, để chuyển quá trình tổng hợp các chất khi đọt chè chưa
hái, thành quá trình phân giải các chất để chuẩn bị cho quá trình lên men; tạo điều kiện cho các enzimthủy phân, phân giải các hợp chất không tan thành các hợp chất hòa tan, tạo thành hương thơm đặctrưng sau này của sản phẩm
Về yêu cầu lý học là giảm một lượng nước nhất định trong lá trà, tăng cường nồng độ các chất trongdịch bào, tăng tốc độ phản ứng hóa học, đồng thời làm mất lực tương tác của lá làm mềm dẻo đọt trà,
để khi tạo hình và phá vỡ tế bào không làm cho đọt chè bị nát vụn
Trang 16Hình 13 Trà tươi sau khi thu hoạch được làm héo bằng ánh sáng mặt trời
1.3 Héo mát: Không khí mát sẽ tác dụng lên men làm cho chè sống tiếp tục lên men từng phần từng
phần tạo ra những biến đổi hóa học để tạo nên hương vị đặc hữu của trà Ô Long
1.4 Quay thơm: làm dập các lá chè, dịch tế bào chè tiếp xúc với oxy không khí tạo điều kiện cho quá
trình ôxy hóa xảy ra nhanh, giai đoạn này có ảnh hưởng đến màu sắc và hương thơm của lá chè
Hình 14 Quá trình quay thơm.
1.5 Lên men: Mục đich chính của giai đoạn lên men là thúc đẩy các quá trình thủy phân, oxy hóa
khử diễn ra dưới tác động của các enzim, đây là giai đoạn quyết định hương thơm, màu sắc chủ yếucủa quy trình sản xuất trà Ô Long
Trang 17Hình 15 Quá trình lên men trà.
1.6 Xào: Mục đích là diệt men giữ cho màu nước xanh tươi, diệt men càng nhanh càng tốt Dùng độ
nóng cao phá vỡ hoạt tính của enzim lên men, giảm độ ẩm của lá trà để phục vụ cho giai đoạn tạohình và làm dập tế bào lá trà
Hình 16 Thiết bị xào trà.
1.7 Vò chuông: Vận dụng lực xoay tròn của máy làm cho trà chuyển động và tự ma sát lẫn nhau, tạo
sự phá vỡ từng phần của các tổ chức tế bào, làm chất hòa tan tiết ra ngấm phủ lên bề mặt lá để khi phacác chất của trà dễ hòa tan trong nước
Ngoài ra, vò chuông còn có tác dụng làm cho cọng và lá chè mềm, giúp cho giai đoạn tạo hình dễdàng hơn và cũng là giai đoạn định hướng cho chè thành phẩm
1.8 Sấy sơ bộ: Sấy ở nhiệt độ cao có thể phá vỡ tàn dư của chất lên men còn lại khi vò chuông, làm
cho tác dụng lên men và phản ứng sinh hóa hoàn toàn bị đình chỉ, hương thơm được ổn định
2 Giai đoạn chè khô:
2.1 Giai đoạn tạo hình:
Giai đoạn này có các công đoạn: sấy nóng, tạo dáng dạng viên, đánh tơi…Các giai đoạn trên được lặp
Trang 18lại liên tục từ 14-15 lần, trong khoảng thời gian 5 tiếng, cho đến khi ngoại hình chè Ô Long bán thành phẩm có viên tròn hình cầu hoặc bán cầu là được.
Hình 17, 18 Thiết bị tạo hình viên tròn của trà.
2.2 Sấy:
Sử dụng hơi nóng của máy sấy để làm khô chè, nhiệt độ từ 100-105oC Sức gió thổi vào máy 1.200rpm, vận tốc của tua máy 800 rpm Sấy 3 lần, thời gian sấy từ 3-4giờ Ngoài ra, sấy để chuyển hóa vịchè, phát huy hương thơm của chè và mùi vị đặc trưng
Hình 19, 20 Hệ thống sấy băng tải
2.3 Chè bán thành phẩm:
Chè OLong bán thành phẩm có dạng hình cầu, bán cầu và có mùi thơm rất đặc trưng Sau giai đoạn
vò viên cứng là chè đã có thể sử dụng được, nhưng để xuất khẩu thì phải qua phân loại và đóng gói,
độ ẩm của chè 5-6%
Hình 21 Trà olong bán thành phẩm
Trang 192.4 Phân loại:
Được tiến hành bằng tay, kết hợp với máy thổi, máy sàng phân loại, sản phẩm sau khi phân loại gồmcó: chè dạng viên và chè cám.Chè Olong dạng viên được đem đi sấy, hút ẩm, hút chân không, sauđem đóng gói thành chè thành phẩm Đóng gói bằng bao bạc hoặc gói giấy bạc hút chân không
Ngoại hình: vo viên khoảng 5-8mm, màu xanh đen
Màu nước: xanh vàng, trong, không có gợn
Mùi: thơm đặc trưng của chè, không có mùi lạ
Vị: đậm, dịu, có vị ngọt hậu, không có vị lạ
2.5 Đóng bao sản phẩm:
Chè OLong bán thành phẩm được đưa sang công đoạn tinh chế tiếp theo hoặc đóng bao bảo quản đểtiêu thụ:
– Loại xuất khẩu: 18kg/bao
– Loại nội tiêu: đóng gói giấy bạc hút chân không 10, 15, 50, 70, 100, 150, 200g, 250g/gói
Hình 22 Đóng bao và bảo quản trà.
Trang 203 Trình bày quy trình sản xuất rượu vang của công ty Vĩnh Tiến
Hình
23.
Rượu vang Vĩnh Tiến
Rượu vang là một loại thức uống có cồn được lên men từ nước nho Rượu vang đỏ thường được lên men từ nước ép và vỏ quả nho, còn rượu vang trắng được lên men chỉ từ nước nho
Rượu vang được làm từ các loại nho nguyên chất và được lên men một cách tự nhiên Vì nho vốn có hai đặc tính tự nhiên là đường và men nên nước nho được ép ra, trải qua một quy trình chế biến sẽ trở thành rượu vang
Tuy nhiên các sản phẩm rượu vang mà chúng ta thưởng thức ngày nay thiên nhiên không thể tự làm rađược mà nó chính là nhờ vào bàn tay của con người Chính con người đã làm cho quy trình sản xuất rượu vang trở nên ngày một hoàn thiện hơn
Về cơ, bản, quy trình làm rượu vang gồm các bước sau:
Trang 21Bước 1: Lựa chọn thời điểm gặt hái nho
Khi nho chín thì độ acid sẽ giảm xuống và lượng đường sẽ tăng lên Thời điểm thích hợp để gặt hái nho là vào tháng 8 đối với Vang nổ (Sparkling Wines) vào tháng 10 đối với rượu đỏ Các nghệ nhân
sẽ quyết định thời điểm gặt hái nho, nhằm đạt lượng acid và lượng đường như mong muốn để chế biến theo khẩu vị riêng của mình Thời điểm các trang trại gặt hái nho cũng được thể hiện rõ trên nhãncủa các loại rượu vang
Để làm rượu vang nổ thì nho sẽ được hái khi độ acid đạt khoảng 1% và 19o Brix (Brix là đơn vị đo lượng đường còn lại trên nho, nhân đơn vị Brix với 0,55 thì chúng ta sẽ được nồng độ cồn) Để làm rượu vang đỏ, nho sẽ đựơc hái khi đạt gần được khoảng 0,8% độ acid và 22o Brix Phần lớn các loại nho dùng để làm rượu vang trắng và đỏ khi được gặt hái thì sẽ đạt khoảng 0,65% độ acid và 23o Brix.Điều kiện trên là tiêu chuẩn cơ bản để quyết định thời điểm thích hợp nhất khi gặt hái nho Phần lớn các nghệ nhân làm rượu vang quyết định thời điểm gặt hái nho bằng thông qua việc đánh giá mầu sắc nho và nếm quả nho
Bước 2: Vắt nước nho
Để lấy nước từ những quả nho, việc này được thực hiện qua hệ thống Vắt và Tước cuống Hệ thống này sẽ tước các cuống từ những chùm nho và vắt nước ra khỏi vỏ nho Nước này được gọi là nước chất lượng 1 Để làm ra vang trắng thì nước chất lượng 1 này sẽ được đưa qua hệ thống ép và sau đó được đưa vào bồn lên men Để làm ra rượu đỏ thì nước chất lượng 1 sẽ được đưa trực tiếp đến bồn lênmen rồi sau đó đưa qua hệ thống ép
Bước 3: Lên men
Phần lớn hệ thống lên men rượu trên thế giới đều sử dụng phương pháp truyền thống Phương pháp lên men truyền thống này đã chứng minh được hiệu quả cao và ổn định vì vậy rất ít nghệ nhân ứng dụng những phương pháp khác
Trong quy trình lên men, có một yếu tố rất quan trọng mà các nghệ nhân chú tâm đạt tới đó là nhiệt
độ Khi lên men với nhiệt độ (7o đến 12o C) thì hương thơm của nho được bảo quản tuyệt đối Với nhiệt độ (25o đến 35o C) sẽ đạt được hương vị của hoa nhiều hơn là hương vị của quả Trong quá trình lên men để làm rượu vang trắng và vang nổ thì nhiệt độ lý tưởng nhất là 10o C và cho vang đỏ là30oC
Bước 4: Quy trình ép
Hơn một nửa lượng nước ép ra từ quả nho một cách dễ dàng không cần đến áp lực cao Phần còn lại
sẽ được ép ra từ hệ thống ép Để làm rượu vang trắng nho sẽ được ép trước sau đó đưa lên hệ thống lên men Còn rượu đỏ thì ngược lại, được đưa lên hệ thống lên men trước khi đưa vào hệ thống ép
Hệ thống làm mịn sẽ lọc được các phần tử nhỏ nhất để rượu đạt được mầu trong suốt Một phương pháp phổ biến nhất mà các nghệ nhân hay sử dụng là dùng lòng trắng trứng gà và đất sét Cũng như phương pháp lọc, phương pháp làm mịn có thể sử dụng nhiều lần trong quá trình làm rượu vang