1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG BẤT CẬP CỦA VIỆC ÁP DỤNG ÁN LỆ, ÁP DỤNG TẬP QUÁN VÀ ÁP DỤNG LẼ CÔNG BẰNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

10 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 35,13 KB
File đính kèm Tiểu luận Tư duy pháp lý.rar (28 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ việc, đặc biệt là các vụ việc dân sự, ngoài căn cứ là các quy định của pháp luật, Tòa án còn có thể căn cứ vào nội dung của án lệ, tập quán hoặc lẽ công bằng để giải quyết vụ việc. Tại Việt Nam việc Tòa án áp dụng án lệ, tập quán và lẽ công bằng khi giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình không còn hiếm gặp, góp phần hỗ trợ rất nhiều cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc, đặc biệt là với những trường hợp quy định của pháp luật còn chưa rõ ràng, nhất quán, tạo ra cách hiểu, áp dụng khác nhau. Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, việc nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế áp dụng áp lệ, tập quán và lẽ công bằng cũng là rất cần thiết vì đây đều được coi là những nguồn bổ trợ của pháp luật. Mặc dù vậy, việc áp dụng án lệ, áp dụng tập quán và áp dụng lẽ công bằng tại Việt Nam hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, ảnh hưởng tiêu cực tới việc giải quyết các vụ việc, đặc biệt là các vụ việc dân sự. Trước thực trạng đó, tôi xin lựa chọn đề tài số 01 “Những bất cập của việc áp dụng án lệ, áp dụng tập quán và áp dụng lẽ công bằng ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục” làm đề tài cho bài tiều luận của mình.

Trang 1

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

BỘ MÔN LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

-0-0 -ĐỖ PHÚ TRUNG

Mã số sinh viên: 20068095 Lớp: QH-2020-L-VB2-A2

ĐỀ BÀI 01: ANH/CHỊ HÃY NGHIÊN CỨU BẢN ÁN SỐ 02/2020/HC-ST

(TẢI VỀ TỪ:

HTTPS://CONGBOBANAN.TOAAN.GOV.VN/2TA654177T1CVN/CHI-TIET-BAN-AN) TRÊN CƠ SỞ KIẾN THỨC ĐÃ HỌC TRONG HỌC PHẦN LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH, HÃY TÓM TẮT BẢN ÁN KHOẢNG NỬA TRANG VÀ BÌNH LUẬN VỀ: THỜI HIỆU KHỞI KIỆN; NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI TƯỢNG BỊ KIỆN, NGƯỜI BỊ KIỆN; VIỆC PHÁT BIỂU QUAN ĐIỂM CỦA ĐẠI DIỆN VIỆN

KIỂM SÁT TẠI PHIÊN TÒA

Tiểu luận kết thúc môn học: Luật tố tụng hành chính

Giảng viên: ThS Nguyễn Anh Đức

Hà Nội - 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

Ngày nay, việc các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó có những quyết định hành chính, hành vi hành chính không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân là không hiếm gặp, do đó việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là cũng rất phổ biến Để làm rõ phần nào quá trình giải quyết vụ án hành chính, tôi xin lựa chọn đề tài sau làm đề tài cho bài tiểu luận của mình:

Đề bài 01: “Anh/chị hãy nghiên cứu bản án số 02/2020/HC-ST (tải về từ:

https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta654177t1cvn/chi-tiet-ban-an ) Trên cơ sở kiến thức đã học trong học phần Luật tố tụng hành chính, hãy tóm tắt bản án khoảng nửa trang và bình luận về: thời hiệu khởi kiện; nhận định của Hội đồng xét xử liên quan đến đối tượng bị kiện, người bị kiện; việc phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.”

NỘI DUNG

1 Tóm tắt bản án

Nội dung tóm tắt của Bản án số 02/2020/HC-ST ngày 30/9/2020 của Tòa

án Nhân dân quận 1 – thành phố Hồ Chí Minh về việc khiếu kiện hành vi lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu bồi thường thiệt hại như sau:

Ngày 25 tháng 9 năm 2015, ông Nguyễn Thanh V đến tòa nhà Kumho Asiana số 39 Lê Duẩn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh giao hàng cho khách theo đơn đặt hàng thì bị ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính Biên bản vi phạm hành chính số 1294/BB – VPHC.BN ngày 25 tháng 9 năm 2015 đã ghi nhận việc lập Biên bản

vi phạm hành chính đối với ông Phạm Lê Tuấn N vì đã có hành vi để xe gắn máy trên hè phố trái quy định của pháp luật, buôn bán hàng nhỏ lẻ trên các tuyến

Trang 4

phố có quy định cấm bán hàng Ông Phạm Lê Tuấn N khởi kiện hành vi hành chính “lập biên bản vi phạm hành chính” và yêu cầu bồi thường thiệt hại, người

bị kiện là ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T phải trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Phạm Lê Tuấn N BS 59T1 – 41808, do ông K và ông T đã trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe nên ông rút lại yêu cầu này Tại phần “Quyết định”, Tòa

án Nhân dân Quận 1 - Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Phạm Lê Tuấn N về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe biển kiểm soát số 59T1 – 41808; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Lê Tuấn N đối với hành vi của ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T lập Biên bản vi phạm hành chính số 1294/BB – VPHC.BN; Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Lê Tuấn N về việc buộc Ủy ban nhân dân Phường Bến Nghé, Ủy ban nhân dân Quận 1 phải xin lỗi công khai và bồi thường thiệt hại do thu nhập bị giảm sút là 100.000 đồng

2 Thời hiệu khởi kiện

Khoản 1, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về “Thời

hiệu khởi kiện” quy định: “1 Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà cơ quan, tổ chức, cá nhân được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án hành chính bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.”, bên cạnh đó, khoản 2, Điều 116 cũng quy định về

việc xác định thời hiệu khởi kiện với từng trường hợp như sau:

“a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

b) 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận

Trang 5

được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.”

Trong vụ việc trên, Phạm Lê Tuấn N khởi kiện hành vi hành chính “lập biên bản vi phạm hành chính”, do vậy, thời hiệu khởi kiện sẽ là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, tức

là 01 năm kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2015

Nội dung bản án cũng không cho thấy ông Phạm Lê Tuấn N có thực hiện quyền khiếu nại hay không, hoặc có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác làm cho người khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hiệu khởi kiện, do đó thời hiệu khởi kiện trong vụ việc này sẽ được tính 01 năm kể từ ngày 25 tháng 9 năm 2015

Nội dung bản án cũng chưa cho thấy thời điểm ông Phạm Lê Tuấn N bắt đầu khởi kiện là ngày bao nhiêu mà chỉ thể hiện “Vụ án này được Tòa án nhân dân Quận 1 thụ lý lần đầu vào ngày 6 tháng 10 năm 2016”

3 Bình luận nhận định của Hội đồng xét xử

3.1 Đối tượng bị kiện

Đối tượng bị kiện trong vụ án này là hành vi lập biên bản vi phạm hành chính của ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T Tòa án đưa ra nhận định

“Đây là khiếu kiện hành vi hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống và yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi hành chính bị khiếu kiện gây ra”, như vậy theo nhận định của Tòa án, đối tượng bị kiện trong trường hợp này là hành vi hành chính, cụ thể là hành vi lập biên bản vi phạm hành chính của ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T

là thành viên Tổ Quản lý trật tự đô thị Phường Bến Nghé và Đội Quản lý trật tự

đô thị Quận 1, và theo nhận định của Tòa án thì những người này là những

Trang 6

người “có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống”

Theo quy định tại khoản 3, Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 có nội dung:

“3 Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

4 Hành vi hành chính bị kiện là hành vi quy định tại khoản 3 Điều này

mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.”

Như vậy, trong trường hợp này, nhận định của Tòa án về hành vi hành chính bị kiện là hành vi lập biên bản vi phạm hành chính của ông Nguyễn Văn K

và ông Hoàng Minh T là chính xác

Về nội dung, Tòa án căn cứ quy định tại Điều 56 và khoản 1 Điều 58 Luật

Xử lý vi phạm hành chính và khoản 3, Điều 5 Nghị định 171/2013/NĐ – CP ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt và đưa ra nhận định việc ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T tiến hành lập Biên bản vi phạm hành chính số 1294/BB – VPHC là đúng nhiệm vụ được phân công và đúng với thẩm quyền theo các quy định, như vậy về thẩm quyền thực hiện hành vi Tòa án đã nhận định đúng

Tòa án căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính, dựa trên trình bày của người khởi kiện và thừa nhận của người bị kiện nên Tòa án đưa ra nhận định việc ông K và ông T lập biên bản vi phạm hành chính ngày 25 tháng 9 năm 2015 đối với ông N là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 58 Luật Xử lý vi phạm hành chính là chính xác

Trang 7

3.2 Người bị kiện

Người bị kiện trong vụ án này là ông Nguyễn Văn K – Thành viên Tổ Quản lý trật tự đô thị Phường Bến Nghé và ông Hoàng Minh T – Thành viên Đội Quản lý trật tự đô thị Quận 1 là các cá nhân thuộc UBND phường Bến Nghé

và UBND quận 1 Theo Quy chế (mẫu) Tổ chức và hoạt động của Đội Quản lý trật tự đô thị Quận – Huyện (Ban hành kèm theo Quyết định số 55/2013/QĐ – UBND ngày 6 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh thì “thành viên của Đội quản lý trật tự đô thị quận – huyện có nhiệm vụ “ Kiểm tra, kịp thời phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định trong lĩnh vực phụ trách (công chức đang thi hành công vụ) chuyển đội trưởng

xử lý theo quy định và tham gia tổ chức thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính”; “ Tổ Quản lý trật tự đô thị địa bàn phường là một bộ phận của Đội Quản lý trật tự đô thị quận…Tổ Quản lý trật tự đô thị địa bàn phường do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường (kinh tế - đô thị) phụ trách và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường ”, do đó Tòa án đưa ra nhận

định ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T là người được phân công và có thẩm quyền theo quy định đã viện dẫn

Theo quy định về hành vi hành chính bị kiện thì hành vi này phải là hành

vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước, ngoài ra khoản 9, Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm

2015 còn quy định: “Người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bị khởi kiện.”,

trong vụ việc này, ông Phạm Lê Tuấn N khởi kiện ông Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T về việc Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T lập biên bản xử lý

vi phạm với ông Phạm Lê Tuấn N, theo các quy định trên, Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T là chủ thể có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính,

Trang 8

do đó Tòa án xác định Nguyễn Văn K và ông Hoàng Minh T là người bị kiện là chính xác

4 Bình luận việc phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Theo quy định tại khoản 4, Điều 43 Luật Tố tụng hành chính năm 2015

thì Kiểm sát viên có nhiệm vụ, quyền hạn “Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này;”

Ngoài ra, Điều 190 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định về phát biểu của Kiểm sát viên có nội dung:

“Sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị

án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.”

Như vậy, theo quy định trên, Kiểm sát viên có quyền phát biểu quan điểm tại phiên tòa bao gồm ý kiến về việc tuân theo pháp luật và ý kiến về việc giải quyết vụ việc Tại vụ án trên, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 phát biểu

ý kiến về thụ lý vụ án, xác minh thu thập tài liệu chứng cứ, nhận định: “Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định từ Điều 148 đến Điều 189 Luật Tố tụng Hành chính; Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định tại Điều

41, 167, 169 Luật Tố tụng Hành chính; Người khởi kiện, Người bị kiện đã thực hiện đầy đủ quyền và Nghĩa vụ theo quy định tại Điều 9, Điều 10, Điều 55, Điều

56, Điều 78, Điều 83, Điều115 đến Điều 119, Điều 153, Điều 157 Luật Tố tụng Hành chính.”, tuy nhiên lại không đưa ra những nhận định cụ thể về một số vấn

đề khác như thẩm quyền giải quyết của Tòa án và đặc biệt là thời hiệu khởi kiện

Về định hướng giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đưa ra quan điểm “yêu cầu của ông N về việc tuyên bố hành vi lập biên bản của ông K và ông T là trái

Trang 9

pháp luật là có cơ sở chấp nhận” là chính xác, đối với việc yêu cầu bồi thường

và yêu cầu xin lỗi công khai, Kiểm sát viên cho rằng không chấp nhận yêu cầu của ông N là chưa thực sự thỏa đáng, vì mặc đù chưa có quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với ông N nhưng việc lập biên bản vi phạm hành chính không đúng pháp luật hoàn toàn có thể gây thiệt hại cho ông N, hơn nữa Kiểm sát viên căn cứ vào Điều 12 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm

2017 cũng không chính xác vì quy định này điều chỉnh về “Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự” không liên quan đến vụ việc này, ngoài ra, theo quy định tại điểm b, khoản 6 Điều 17 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 thì việc không áp dụng hoặc áp dụng không đúng quy định của Luật Tố cáo biện pháp đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo; khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo đã bị xâm phạm tại nơi cư trú, do đó căn cứ mà Kiểm sát viên đưa

ra trong ý kiến của mình là chưa toàn diện, kĩ lưỡng và chưa làm nổi bật được căn cứ không chấp nhận yêu cầu bồi thường của người khởi kiện

KẾT LUẬN

Quá trình giải quyết vụ án hành chính là rất phức tạp, được quy định chặt chẽ theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hành chính, tuy nhiên việc hiểu và áp dụng những quy định này trên thực tiễn còn chưa được nhất quán và chính xác, ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án và việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi bị xâm phạm từ hành vi hành chính, quyết định hành chính Việc phân tích bản án nêu trên đã phần nào thấy được thực trạng giải quyết vụ án hành chính trên thực tế

Trang 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật Tố tụng hành chính năm 2015

2. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012

3. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

Ngày đăng: 17/02/2022, 10:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w