1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI VIỆT NAM

16 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 158,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận này tập trung nghiên cứu, phân tích và nhận định về quá trình hình thành và phát triển của Cộng đồng kinh tế ASEAN, từ đó có thể xem xét được những tác động của AEC tới khu

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ NHỮNG TÁC

ĐỘNG TỚI VIỆT NAM

Học viên: Lê Viết Tuấn Minh Lớp: 11QH – Hệ 4 Giáo viên hướng dẫn : Thiếu Tá Nguyễn Tuấn Anh

Hà Nội : 12/2021

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ

KHOA K20

TIỂU LUẬN Môn học: Quan hệ Kinh tế Quốc tế

Lớp: 11QH

Ngày nộp: 23/12/2021

Cán bộ chấm thi

(Ký rõ họ tên) Số phách

CBCT số 1 CBCT số 2

Số phách Điểm

Trang 3

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU

2 3 Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.1 Quá trình hình thành của cộng đồng kinh tế

1.2 Quá trình phát triển của cộng đồng kinh tế ASEAN 5 Chương 2 NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI VIỆT NAM VỚI TƯ

CÁCH LÀ THÀNH VIÊN CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

9

2.1 Vai trò và vị thế của Việt Nam trong Cộng đồng

2.3 Những thách thức đối với Việt Nam 11 2.4 Định hướng tham gia AEC của Việt Nam trong thời

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Quan hệ kinh tế quốc tế là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ về kinh tế giữa hai hoặc nhiều quốc gia trên thế giới với nhau Không một quốc gia nào trên thế giới tồn tại, phát triển có hiệu quả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế Tại khu vực Đông Nam Á, Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community – AEC) được thành lập như một khối kinh tế khu vực của 10 quốc gia thành viên ASEAN chính thức Quá trình hình thành và phát triển của AEC đã có những tác động nhất định tới xu thế hợp tác kinh tế trong khu vực ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng

Bài tiểu luận này tập trung nghiên cứu, phân tích và nhận định về quá trình hình thành và phát triển của Cộng đồng kinh tế ASEAN, từ đó có thể xem xét được những tác động của AEC tới khu vực ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng, đồng thời có thể Đồng thời trên cơ sở đó có thể đưa ra được đánh giá đúng đắn hơn về quan hệ kinh tế của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực

và thế giới

Mặc dù đã dành thời gian nghiên cứu và sưu tầm tài liệu, song vẫn không tránh khỏi việc thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của giảng viên cũng như bạn đọc để hoàn thiện bài tiểu luận

Trang 5

Chương 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

1.1 Quá trình hình thành của cộng đồng kinh tế ASEAN

Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm

2015 như một khối hợp tác kinh tế khu vực với sự tham gia của 10 nước thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN Tuy nhiên, khái niệm khái niệm hội nhập kinh tế ASEAN lần đầu tiên được đưa ra trong Hiệp định khung về Thúc đẩy Hợp tác Kinh tế ASEAN ký tại Singapore vào năm 1992 Từ năm 1992, ASEAN đã thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế khu vực thông qua trọng tâm là hình thành Hiệp định Thương mại tự do giữa các nước trong khối ASEAN (AFTA) AFTA được coi là hiệp định được triển khai rất thành công giữa các nước đang phát triển, đưa ASEAN trở thành một trong những khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới Sau đó, một loạt các Hiệp định hợp tác kinh tế khu vực lần lượt được ký kết như: Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có hiệu lực chung – CEPT (1992), sau đó được thay thế bởi Hiệp định về Thương mại Hàng hoá ASEAN 2010; Hiệp định khung về Dịch vụ ASEAN (1995), Hiệp định khung về Đầu tư ASEAN (1998), sau đó được thay thế bởi Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN 2012

Tại Tuyên bố Tầm nhìn ASEAN 2020 thông qua tháng 12/1997, các nhà lãnh đạo ASEAN đã định hướng phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN Ý tưởng này đã được tái khẳng định tại Hội nghị cấp cao ASEAN 9 tháng 10/2003, thể hiện trong Tuyên bố Hoà hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Bali II) Theo đó, ASEAN nhất trí hướng đến mục tiêu hình thành một cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với 3 trụ cột chính là hợp tác chính trị - an ninh (Cộng đồng an ninh ASEAN – ASC), hợp tác kinh tế (Cộng đồng Kinh tế ASEAN – AEC) và hợp tác văn hoá xã hội (Cộng đồng Văn hoá Xã hội ASEAN – ASCC) Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 12 tháng 1/2007 các nước ASEAN đã quyết định rút ngắn thời hạn hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN

từ 2020 xuống 2015 Vào ngày 31 tháng 12 năm 2015, Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập đáp ứng các nhu cầu của khu vực, được trông đợi sẽ giúp ASEAN vượt qua những thách thức nêu trên, từng bước xây dựng một khu vực năng động, có tính cạnh tranh cao trên thế giới

Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập với bốn mục tiêu, cũng là bốn yếu tố cấu thành bao gồm :

Một là: Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng

thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hoá; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề;

Hai là: Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các

khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử;

Trang 6

Ba là: Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch

phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN;

Bốn là: Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc

tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu (WTO)

Về bản chất, mặc dù được gọi với cái tên “Cộng đồng kinh tế”, AEC thực chất chưa thể được coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng Kinh tế châu Âu bởi AEC không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và những cam kết ràng buộc với lộ trình thực hiện cụ thể AEC thực chất là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện thực hóa dần dần 4 mục tiêu kể trên (trong đó chỉ mục tiêu thứ nhất là được thực hiện tương đối toàn diện và đầy đủ thông qua các hiệp định và thỏa thuận ràng buộc, các mục tiêu còn lại mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng lộ trình và thực hiện một số sáng kiến khu vực) Bên cạnh đó, AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một Thỏa thuận hay Hiệp định với các cam kết ràng buộc thực chất Tham gia vào các mục tiêu của AEC là hàng loạt các Hiệp định, Thỏa thuận, Tuyên bố… giữa các nước ASEAN có liên quan tới các mục tiêu này Những văn bản này có thể bao gồm những cam kết có tính ràng buộc thực thi, cũng có những văn bản mang tính tuyên bố, mục tiêu hướng tới không bắt buộc của các nước ASEAN Việc hiện thực hóa AEC đã được triển khai trong cả quá trình dài trước đây (thông qua việc thực hiện các cam kết tại các Hiệp định cụ thể về thương mại đã ký kết giữa các nước ASEAN) và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới (tiếp tục thực hiện theo lộ trình các Hiệp định, Thỏa thuận đã có và các vấn đề mới, nếu có)

1.2 Quá trình phát triển của cộng đồng kinh tế ASEAN

1.2.1 Hội nhập kinh tế trong khu vực ASEAN

Với mục tiêu đưa ASEAN trở thành một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất, AEC tập trung vào các biện pháp tạo thuận lợi hóa thương mại, dịch vụ, đầu tư, hoàn chỉnh các quy tắc về xuất xứ, tăng cường phát triển thị trường vốn ASEAN và tự do lưu chuyển hơn của dòng vốn, thuận lợi hóa di chuyển thể nhân , song song với việc củng cố mạng lưới sản xuất khu vực thông qua đẩy mạnh kết nối về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng, giao thông vận tải, công nghệ thông tin và viễn thông,…

Để hiện thực hóa AEC, rất nhiều Hiệp định, Thỏa thuận, Sáng kiến đã được các thành viên đàm phán, ký kết và thực hiện Trong đó các Hiệp định quan trọng và đưa thực thi tương đối đầy đủ là:

a Hiệp định Thương mại Hàng hoá ASEAN (ATIGA)

Hiệp định ATIGA 2010 có tiền thân là Hiệp định Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT/AFTA) được thực hiện từ năm 1992

Trang 7

ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan

Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA là các nước ASEAN phải dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại tự do (FTA) mà ASEAN

là một bên của thỏa thuận

Ngoài mục tiêu xóa bỏ hàng rào thuế quan, ATIGA hướng nỗ lực chung của ASEAN để xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải quan và vệ sinh, kiểm dịch đồng thời xác lập mục tiêu hài hòa chính sách giữa các thành viên ASEAN trong bối cảnh xây dựng AEC

Việt Nam gia nhập ASEAN từ năm 1995 nhưng đến năm 1999 mới bắt đầu thực thi CEPT và sau này là ATIGA

Theo ATIGA, đến năm 2010 các nước ASEAN-6 phải xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 100% dòng thuế thuộc Danh mục thông thường; chỉ giữ lại một số dòng thuế thuộc Danh mục loại trừ chung gồm những sản phẩm được miễn trừ vĩnh viễn vì lý do an ninh quốc gia, đạo đức và sức khỏe) Các nước nhóm CLMV (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) có lộ trình dài hơn xóa

bỏ thuế cho hàng hóa từ các nước ASEAN muộn hơn, đến năm 2015 mới phải xóa bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu trong Danh mục thông thường nhưng được linh hoạt giữ lại thuế suất đối với 7% số dòng thuế đến năm 2018

Như vậy, từ khi thực hiện cắt giảm thuế năm 1999 đến 2015, Việt Nam đã cắt giảm/xóa bỏ thuế nhập khẩu xuống còn 0-5% đối với khoảng 90% dòng thuế, chỉ còn giữ linh hoạt đối với 7% dòng thuế còn lại tính đến năm 2018, 3%

số dòng thuế thuộc Danh mục loại trừ không phải xóa bỏ thuế quan nhưng thuế quan phải giảm xuống dưới 5% 7% số dòng thuế được linh hoạt giữ tới 2018 này bao gồm các mặt hàng ô tô và linh kiện, sắt thép, linh kiện và phụ tùng xe máy, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, xe đạp và phụ tùng, rượu bia, sản phẩm chất dẻo, giấy các loại Từ năm 2018 Việt Nam chỉ còn được duy trì thuế nhập khẩu với mức thuế suất tối đa là 5% đối với khoảng 3% số dòng thuế, bao gồm phần lớn là các mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm (gia cầm sống, thịt già, trứng gia cầm, quả có múi, thóc, gạo lứt, thịt chế biến, đường) Hai nhóm mặt hàng có lộ tình cam kết dài và chưa có lộ trình là xăng dầu (đến năm 2024) và thuốc lá (sẽ phải đưa ra lộ trình cắt giảm trong tương lai gần)

b Hiệp định Khung về Dịch vụ ASEAN (AFAS)

Hiệp định Khung về Dịch vụ của ASEAN (ASEAN Framework Agreement on Services - AFAS) được ký năm 1995 và Nghị định thư sửa đổi AFAS ký năm 2003 nhằm điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ giữa các nước

Trang 8

ASEAN Nội dung của AFAS tương tự Hiệp định Chung về Thương mại Dịch

vụ của WTO

Trên cơ sở AFAS, các nước ASEAN đến nay đã hoàn thành 8 Gói cam kết về dịch vụ (cam kết cho 80 phân ngành), và đang đàm phán Gói thứ 9 (cam kết cho 104 phân ngành) và sau đó sẽ đàm phán Gói cuối cùng (cam kết cho 124 phân ngành) nhằm hướng tới mục tiêu tự do hóa dịch vụ đến năm 2015

Trong các Gói cam kết trên, các Gói cam kết 1-7 của Việt Nam có mức độ

mở cửa dịch vụ chỉ thấp hơn hoặc bằng so với mức độ mở cửa dịch vụ của Việt Nam trong WTO Nhưng bắt đầu từ Gói thứ 8 trở đi, một số cam kết của Việt Nam trong một số phân ngành đã bắt đầu cao hơn mức độ mở cửa trong WTO

và bổ sung thêm cam kết cho một số phân ngành mới

Hiệu lực của các Gói cam kết này phụ thuộc vào thông báo hoàn thành thủ tục phê chuẩn nội bộ của các nước thành viên ASEAN Tuy nhiên, hiện không có thông tin chính xác về số lượng các nước ASEAN đã hoàn thành thủ tục phê chuẩn nội địa cho từng Gói cam kết cũng như tình trạng hiệu lực của các Gói cam kết này

Hiện tại các nước ASEAN đang đàm phán Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ASEAN Trade in Services Agreement - ATISA) nhằm nâng cấp Hiệp định AFAS và tổng hợp các cam kết dịch vụ trong các FTA ASEAN với các đối tác bên ngoài ASEAN

c Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA)

Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ASEAN Comprehensive Investment Agreement - ACIA) được ký kết tháng 2/2009 và có hiệu lực từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư ASEAN (Agreement for the Promotion and Protection of Investments - IGA) 1987 và Hiệp định Khu vực đầu tư ASEAN (ASEAN Investment Area - AIA) 1998)

ACIA bao gồm 4 nội dung chính: Tự do hóa đầu tư, Bảo hộ đầu tư, Thuận lợi hóa đầu tư và Xúc tiến đầu tư

Phạm vi điều chỉnh của ACIA bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp Phạm vi tự do hóa bao gồm các ngành phi dịch vụ (các ngành dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của AFAS về dịch vụ như giới thiệu ở trên): sản xuất, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khai khoáng và các dịch vụ liên quan đến các ngành trên

Một số đặc điểm nổi bật của ACIA:

- ACIA mở rộng về phạm vi định nghĩa nhà đầu tư (ví dụ doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài khối tại một nước ASEAN khi đầu tư sang một nước ASEAN khác được coi là nhà đầu tư ASEAN)

Trang 9

- ACIA quy định về các biện pháp/yêu cầu đối với đầu tư bị cấm mà các nước thành viên không được phép sử dụng (ví dụ yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa, cân bằng cán cân thanh toán)

- ACIA quy định cơ chế giải quyết tranh chấp trực tiếp giữa Nhà nước và nhà đầu tư

ACIA bao gồm:

- 49 Điều;

- 02 phụ lục:

+ Phụ lục 1 quy định về các yêu cầu bắt buộc về thủ tục mà Cơ quan nước thành viên phải tuân thủ đối với các trường hợp mà pháp luật nội địa của từng nước quy định phải có chấp thuận bằng văn bản đối với khoản đầu tư (ví dụ đối với Việt Nam là đầu tư trong các lĩnh vực nhạy cảm như dầu khí, khai thác khoáng sản quý hiếm…)

+ Phụ lục 2 về trường hợp tịch biên và bồi thường

- 01 Danh mục bảo lưu: Danh mục này của Việt Nam bao gồm các trường hợp loại lệ không áp dung nghĩa vụ đối xử quốc gia và nghĩa vụ đối với quản lý cấp cao và ban giám đốc

1.2.1 Hội nhập kinh tế toàn cầu

Nhằm mở rộng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, ASEAN đã và đang đẩy mạnh triển khai các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với các nước đối tác bao gồm FTA ASEAN - Trung Quốc, FTA ASEAN - Nhật Bản, FTA ASEAN - Hàn Quốc, FTA ASEAN - Ấn Độ, FTA ASEAN - Australia – New Zealand, FTA ASEAN – Hồng Kông (Trung Quốc)

ASEAN với mục tiêu mở rộng liên kết khu vực, sau 8 năm, đã kết thúc đàm phán và thành công ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) với 5 nước đối tác: Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia và New Zealand vào ngày 15 tháng 11 năm 2020 bên lề Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 do Việt Nam làm Chủ tịch, thể hiện vai trò trung tâm của ASEAN trong quá trình hội nhập sâu rộng hơn trong khu vực Hiệp định RCEP, một hiệp định hiện đại, toàn diện, chất lượng cao và cân bằng về lợi ích, khi được 15 nước thực thi, sẽ tạo nên khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới với quy mô 2,2 tỉ người tiêu dùng, chiếm 30% dân số thế giới và GDP 26,2 nghìn tỉ USD

Hiện nay, ASEAN đang tiến hành đàm phán nâng cấp 03 FTA với các đối tác ngoại khối bao gồm: FTA ASEAN – Trung Quốc, FTA ASEAN – Hàn Quốc

và FTA ASEAN - Australia – New Zealand Ngoài ra, ASEAN cũng đang cân nhắc về khả năng đàm phán FTA ASEAN – Canada và FTA ASEAN – Liên minh châu Âu (EU)

Trang 10

Trước tình hình vai trò của hệ thống thương mại đa phương trong thương mại quốc tế đang bị lung lay, chiến tranh thương mại kéo dài, kinh tế thế giới bị suy giảm nghiêm trọng do tác động của đại dịch Covid-19, các nước ASEAN đang đối mặt với những thách thức mới trong hợp tác kinh tế

Sự suy yếu của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dẫn đến khó khăn trong việc phát triển khuôn khổ hợp tác kinh tế đa phương minh bạch, bình đẳng, dựa theo luật lệ Các nền kinh tế nhỏ, đang phát triển phải chịu sức ép từ chủ nghĩa bảo hộ ở các nước lớn Việc gián đoạn chuỗi cung ứng khu vực do tác động của đại dịch Covid-19 cho thấy việc phụ thuộc vào một nguồn cung ứng nguyên vật liệu trong thời gian dài là một trở ngại mà ASEAN cần khắc phục

Trong bối cảnh này, ASEAN càng cần tăng cường hợp tác, củng cố liên kết, xác định định hướng phát triển đúng đắn để cùng nhau vượt qua khó khăn, duy trì tăng trưởng kinh tế

Tóm lại, việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ tiếp tục mang lại

nhiều lợi ích thiết thực cho người dân và các nước thành viên, như tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận thị trường, giảm giá thành hàng hóa, dịch vụ nhờ việc xóa

bỏ thuế quan, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo thuận lợi đi lại Theo đó, các quốc gia tham gia AEC đặt ra mục tiêu là hài hòa chiến lược kinh tế, công nhận trình độ chuyên môn của nhau, và tham vấn chặt chẽ hơn về các chính sách kinh tế vĩ mô

và tài chính Bên cạnh đó, môi trường mới tạo điều kiện tốt hơn cho giao dịch điện tử, kết hợp các ngành công nghiệp để thúc đẩy nguồn cung ứng khu vực và tăng cường sự tham gia của tư nhân trong nền kinh tế

Xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN là một giai đoạn của tiến trình phát triển, do đó mốc 31/12/2015 khi Cộng đồng kinh tế ASEAN hình thành không phải là đích cuối cùng của liên kết ASEAN, mà là sự khởi đầu của một giai đoạn phát triển mới của Hiệp hội Với AEC, ASEAN sẽ trở thành một khu vực kinh tế

có sức cạnh tranh cao; hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu và là một thị trường duy nhất và một cơ sở sản xuất thống nhất, trong đó có sự lưu chuyển tự

do của hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn và lao động có tay nghề nhất là thực hiện

có hiệu quả Trong đó xác định 12 lĩnh vực ưu tiên đẩy nhanh liên kết, đó là: hàng nông sản; ô tô; điện tử; nghề cá; các sản phẩm từ cao su; dệt may; gỗ; vận tải hàng không; thương mại điện tử; y tế, du lịch và logistics Và, AEC đang tiến triển theo lộ trình khá thuận lợi, trong tương lai thuế quan sẽ được dỡ bỏ; các thoả thuận thương mại tự do với các đối tác thương mại lớn được triển khai

Chương 2: NHỮNG TÁC ĐỘNG TỚI VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ THÀNH VIÊN CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN

2.1 Vai trò và vị thế của Việt Nam trong Cộng đồng kinh tế ASEAN

a Đối với quan hệ nội khối

Ngày đăng: 17/02/2022, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w