Trong bối cảnh đó trên cơ sở tiếp thu và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và hoàn cảnh nước ta, Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 đã quy định tại Điều 13:
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các quý thầy cô giáo, người
đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội… đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và viết luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Học viên
Phùng Thị Hoài Thương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU
Chương 1 Khái niệm chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải
quyết việc làm ……….……… ………….…11
1.1 Khái niệm chung về giải quyết việc làm ……… …… 11
1.1.1 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm……….… …….11
1.1.2 Vai trò của giải quyết việc làm……….……… …………16
1.2 Pháp luật về giải quyết việc làm……….…… … … 19
1.2.1 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm……… ……… 19
1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm…… ………22
Chương 2 Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn giải quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng……… 28
2.1 Pháp luật về giải quyết việc làm từ năm 1945 đến nay………… …….28
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 ……… ……… 28
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1985 ……….30
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1993……… …….33
2.1.4 Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2012…… ………34
2.1.5 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay………36
2.2 Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm ………36
2.2.1 Về trách nhiệm của các bên trong giải quyết việc làm ……… 36
2.2.2 Giải quyết việc làm cho lao động đặc thù……….43
2.2.3 Tổ chức dịch vụ việc làm……… ……… 47
2.2.4 Quỹ giải quyết việc làm……….48
2.3 Thực tiễn giải quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng… ………53
2.2.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội ……….……… ……… 53
2.2.2 Thực tiễn giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng……….57
Chương 3 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của giải quyết việc làm ở Việt Nam và Thành phố Đà Nẵng……… …63
Trang 53.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về giải quyết việc làm ở Việt Nam…… …63
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.……….… 63
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải phù hợp với xu thế chung toàn cầu và hội nhập quốc tế……… ……….64
3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định về giải quyết việc làm trong của pháp luật lao động Việt Nam……… 65
3.2.1 Xây dựng, ban hành và sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật về giải quyết việc làm……… ……….… 65
3.2.2 Hoàn thiện khung pháp luật về việc làm ……… ……….65
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm tại thành phố Đà Nẵng……… 66
3.3.1 Tăng cường các yếu tố đẩy mạnh phát triển kinh tế tạo việc làm mới.…66 3.3.2 Đẩy mạnh đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực ……… 67
3.3.3 Phát triển nguồn vốn, phát huy hiệu quả sử dụng vốn cho vay giải quyết việc làm, giảm nghèo……… … 68
3.3.4 Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài………69
3.3.5 Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động… ………… ……69
3.3.6 Nâng cao hiệu quả các Trung tâm dịch vụ việc ………70
3.3.7 Tổ chức thực hiện ……….……….………70
KẾT LUẬN ……… …75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 76
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLLĐ Bộ luật lao động TTDVVL Trung tâm dịch vụ việc làm XKLĐ Xuất khẩu lao động
QGQVL Quỹ giải quyết việc làm GDP Tổng sản phẩm nội địa ILO Tổ chức lao động quốc tế WTO Tổ chức Thương mại Thế giới ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á AFTA Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới động vật nói chung và của con người nói riêng Tuy nhiên, đối với con người kiếm sống không chỉ là hoạt động đơn thuần giúp con người thích ứng với thiên nhiên, với điều kiện sống mà qua đó còn cải tạo con người, biến con người từ sinh vật hoang dã thành sinh vật xã hội có ý thức, tham gia vào các quan hệ xã hội Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm hoặc thực hiện việc làm
Trong nền kinh tế thị trường, việc làm và thất nghiệp là vấn đề mang tính tính chất toàn cầu, vấn đề này không loại trừ một quốc gia nào dù đó là nước đang phát triển hay nước có nền kinh tế phát triển Giải quyết việc làm, chống thất nghiệp luôn là vấn đề nan giải Với ý nghĩa của việc làm, Đảng và nhà nước
ta đã đề ra quan điểm đảm bảo việc làm cho người dân là mục tiêu xã hội hàng đầu Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của toàn xã hội Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay thì vấn đề việc làm và giải quyết việc làm lại càng trở nên cấp thiết hơn
Thành phố Đà Nẵng là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của nước
ta nói chung và của khu vực Miền trung nói riêng Đây là nơi có nhiều điều kiện
tự nhiên thuận lợi, lực lượng lao động dồi dào Trong những năm gần đây, sự quy hoạch đất đai tốt đã tạo nên một thành phố Đà Nẵng trẻ, đầy tiềm năng, đã thu hút đông đảo người dân ở các tỉnh lân cận đến sống và làm việc Do đó, vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn thành phố là hết sức quan trọng, góp phần không nhỏ cho sự phát triển bền vững của một Thành phố được
coi là trung tâm của miền trung Chính vì thế tôi chọn đề tài “Giải quyết việc làm theo pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố Đà Nẵng” làm luận văn Thạc sỹ luật học của mình với mong muốn góp phần hoàn
Trang 8thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam nói chung và thực tiễn giải quyết việc làm ở Thành phố Đà Nẵng nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Lao động và việc làm có vai trò rất quan trọng, cho nên đề tài về lĩnh vực này luôn tạo sức hút mạnh mẽ cho các nhà nghiên cứu, những chuyên gia kinh tế pháp lý tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra nhiều đề tài khoa học có giá trị
Cho đến nay, đã có nhiều bài viết, nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này Dưới góc độ kinh tế - xã hội có thể kể tới một số bài
viết trên các tạp chí như: “Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập” của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân (Tạp chí Cộng sản số 23 năm 2007), “Giải quyết việc làm cho lao động Việt Nam: Nghịch lý thiếu, thừa” của tác giả Lan Ngọc (Báo Lao động số 291 ngày 16/12/2008), “Pháp luật lao động trong quá trình toàn cầu hóa” của tác giả Phạm Trọng Nghĩa (Tạp chí nghiên cứu Lập pháp số 11 năm 2008), “Việc làm trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta” của tác giả Nguyễn Tiệp (Tạp chí Lao động – Xã hội số 394 năm 2010), “Cho thuê lại lao động và những yêu cầu đặt ra đối với việc điều chỉnh pháp luật lao động Việt Nam” của tác giả Lê Thị Hoài Thu (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 28
năm 2012)
Bên cạnh đó là các đề tài khoa học: “Đánh giá việc thực hiện chiến lược việc làm giai đoạn 2001-2005 và xây dựng chiến lược việc làm trong kỳ đại hội X” của Viện Khoa học Lao động xã hội năm 2004, “Nghiên cứu, đánh giá tác động về lao động, việc làm và xã hội sau khi Việt Nam gia nhập WTO và đề xuất những giải pháp” của Cục Việc làm năm 2008, “Pháp luật lao động về việc làm – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thắng Lợi năm 2010,
“Pháp luật về quan hệ lao động Việt Nam – Thực trạng và phương pháp hoàn thiện” của ĐHQGHN do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu chủ trì
Một số công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý như: Luận văn Thạc sỹ
luật học: “Việc làm và quy định của pháp luật về việc làm ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Văn Quynh (2003), “Pháp luật
Trang 9lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” của tác giả Đinh Thị Nga Phượng (năm 2011), “Những vấn đề pháp lý cơ bản về việc làm và giải quyết việc làm trong bối cảnh suy thoái kinh tế ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Lâm Thị Thu Huyền (2011) Ngoài ra, một số chuyên đề tốt nghiệp như: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng” của Đặng Phước Tuấn (2005),“Giải quyết việc làm cho người lao động thông qua trung tâm dịch vụ việc làm ở Thành phố Đà Nẵng” của Huỳnh Thị Thu
Hiền (2007)
Các công trình nên trên đã đề cập một cách toàn diện các quy định pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm trên cả bình diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, để có cái nhìn đa chiều và góp thêm tiếng nói nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết việc làm trong giai đoạn hiện nay là việc làm hết sức cần thiết, đặc biệt thực tiễn giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng để góp phần làm sáng tỏ thêm kho tàng lý luận về giải quyết việc làm ở nước ta trong điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới
3 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu với mục đích:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về việc làm, giải quyết việc làm; phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết việc làm
- Phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật lao động về giải quyết việc làm và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và
Trang 10Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội, về vấn đề việc làm và giải quyết việc làm Trong quá trình nghiên cứu các tác giả sẽ vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê, điều tra làm cơ sở cho quá trình nghiêm cứu
5 Ý nghĩa luận văn và thực tiễn của luận văn
Với kết quả nghiên cứu nêu trên, luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học chuyên luật và không chuyên luật cũng như cán bộ nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách khi nghiên cứu về lĩnh vực này Bên cạnh đó, các cá nhân quan tâm, tìm hiểu pháp luật về giải quyết việc làm, về thực tiễn thực hiện các chính sách giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng cũng có thể tham khảo
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần thiết thực trong việc giải quyết hiệu quả vấn đề việc làm trong phạm vi cả nước nói chung và tại thành phố Đà Nẵng nói riêng
6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Khái quát chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải quyết việc làm
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn giải quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiểu quả giải quyết việc làm ở Việt Nam và thực tiễn tại Thành phố Đà Nẵng
Trang 11Chương 1: Khái quát chung về giải quyết việc làm và pháp luật về giải
quyết việc làm
1.1 Khái quát chung về giải quyết việc làm
1.1.1 Quan niệm việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1.1 Quan niệm việc làm
Việc làm có thể coi là sự tham gia của một cá thể vào tập hợp các hoạt động có liên quan đến việc sản xuất ra một sản phầm hay dịch vụ nào đó mà người khác có của cải và mong muốn mua được nó Việc làm được coi là một trong những vấn đề sống còn của toàn xã hội Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm
Có thể nhìn nhận việc làm ở hai góc độ khác nhau: dưới góc độ kinh tế -
xã hội và dưới góc độ pháp lý
- Dưới góc độ kinh tế - xã hội:
Với mỗi quốc gia, việc làm là phản ánh quan trọng về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó, nó luôn là vấn đề được xã hội quan tâm hàng đầu không chỉ ở riêng một quốc gia nào mà còn là vấn đề có tính toàn cầu, phản ánh sự phát triển của lao động xã hội Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới động vật nói chung và con người nói riêng Tuy nhiên, đối với con người, kiếm sống không phải là hoạt động sinh vật đơn thuần giúp con người thích ứng với tự nhiên, với điều kiện sống mà qua đó còn cải tạo con người, biến con người từ sinh vật hoang dã thành sinh vật xã hội, có ý thức, tham gia các quan hệ xã hội, hình thành xã hội
Theo Phó cố vấn kinh tế Giăng Mu-tê, Văn phòng lao động quốc tế:
“Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, có một sự tham gia tích cực, có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất” [9, trang 10-11]
Theo Guy Hân-tơ, Viện phát triển hải ngoại Luân-đôn (Anh): “Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả
Trang 12những gì quan hệ đến việc kiếm sống của con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế”
Giáo sư Sô-nin và Phó Tiến sỹ Ê Jit-nốp (Liên Xô cũ) lại cho rằng: “Việc làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có ích trong khu vực xã hội hóa của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ, trong kinh tế phụ của công trang viên”
Đối với Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thuật ngữ “việc làm” được đề cập trong nhiều văn kiện như Tuyên ngôn Philadenphia năm 1944; “Chương trình việc làm thế giới” năm 1969; Tuyên bố tại Hội nghị việc làm thế giới năm 1976; Công ước số 22 năm 1964 nhưng trong các văn kiện này chưa nêu ra khái niệm “việc làm” Đến tận Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1993 của các nhà thống kê lao động, ILO mới đưa ra quan niệm về người có việc làm và người thất nghiệp Theo đó, người có việc làm được hiểu là những người làm một việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật; còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ trở lại việc làm Gần đây nhất, năm 2005, Tổ chức Lao động quốc tế đã đưa vào Từ điển chuyên ngành khái niệm “việc làm” Theo đó,
“Việc làm là một công việc được trả công Việc làm cũng đề cập đến số người tự tạo việc làm và tham gia làm việc để được trả công” [21] Đây là khái niệm ngắn gọn, chỉ chung chung đến những công việc do cá nhân thực hiện cho chính bản thân hoặc cho chủ thể khác để được trả công
Có thể còn có nhiều khái niệm khác nữa về việc làm Nhưng dù ở góc độ
nào, khái niệm đó đều thể hiện các tiêu chí định danh việc làm là những dạng
hoạt động lao động, trong đó có việc người lao động chi phí sức lao động của mình với mục đích giành được lợi ích (thu nhập) nào đó, nhằm thỏa mãn như cầu của bản thân, gia đình và xã hội
Trang 13Hoạt động lao động được coi là việc làm có thể được thể hiện dưới các hình thức khác nhau, đó là: làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó; làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân; làm công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó Như vậy, dù ở hình thức nào, được trả thù lao trực tiếp hay gián tiếp, thù lao đó được thể hiện bằng tiền mặt hay lợi ích vật chất khác thì việc làm cũng luôn thể hiện là các hoạt động tiềm tàng khả năng tạo ra lợi ích hay thu nhập cho người bỏ sức lao động tiến hành hoạt động đó
Như vậy, xét về phương diện kinh tế - xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động lao động, tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập và việc làm là dạng hoạt động của mỗi cá nhân nhưng lại luôn gắn liền với xã hội và được xã hội công nhận
đó, luật pháp cũng không thừa nhận sức lao động là một loại hàng hóa, không thừa nhận có sự tồn tại của các hiện tượng kinh tế - xã hội như thất nghiệp, thị trường lao động, quyền tự do kinh doanh của người dân Nhà nước là chủ sở hữu lớn nhất và cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất của nền kinh tế, có trách nhiệm đảm bảo việc làm cho mọi người lao động theo kế hoạch Từ quan niệm trên, các quy định pháp lý về vấn đề việc làm chủ yếu thể hiện các chế độ như tuyển dụng lao động, cho thôi việc đối với công nhân viên chức Nhà nước Nhà nước lo tất cả mọi vấn đề về việc làm cho lực lượng lao động trong biên chế từ tiền lương, các chế độ bảo hiểm xã hội cũng như các ưu đãi, phúc lợi xã hội
Trang 14khác Do vậy, khi đề cập đến việc làm ở khía cạnh pháp lý, người ta thường cho rằng việc làm trước hết là quyền của người lao động Điều 58 Hiến pháp 1980 khẳng định: “công dân có quyền có việc làm”
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế giải quyết việc làm đã có những thay đổi căn bản Điều 55, Hiến pháp 1992
khẳng định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội
có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động” Trong bối cảnh
đó trên cơ sở tiếp thu và vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế và hoàn cảnh nước ta, Bộ luật Lao động được Quốc hội thông qua ngày 23/6/1994 đã
quy định tại Điều 13: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” và Điều 5, BLLĐ năm 1994 khẳng định quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm: “Mọi người đều có quyền có việc làm, lựa chọn việc làm và nghề nghiệp Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo việc làm, dạy nghê và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ”
Xét về mặt lịch sử pháp lý, đây là lần đầu tiên quan niệm về việc làm được ghi nhận trong một văn bản pháp luật quan trọng của Nhà nước Trước đó, trong các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực lao động, tuy có ít nhiều đề cập đến vấn đề việc làm nhưng chủ yếu là đề cập ở góc độ các cơ chế, chính sách bảo đảm việc làm cho người lao động, chứ chưa đưa ra một quan niệm hay định nghĩa chính thức về việc làm
Khái niệm về việc làm được ghi nhận tại BLLĐ năm 1994 vẫn được giữ nguyên qua các lần sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2007 Đến BLLĐ năm
2012, quan niệm về việc làm mặc dù được diễn đạt một cách ngắn gọn hơn
nhưng về cơ bản vẫn giống như quan niệm tại Điều 13, BLLĐ năm 1994: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” (Điều
9)
Trang 15Như vậy, trên cơ sở những quy định của BLLĐ, ta có thể hiểu một cách
khái quát nhất: Việc làm là một dạng hoạt động lao động, mang lại thu nhập cho người lao động và được xã hội thừa nhận
Từ quan niệm trên cho thấy, việc làm được cấu thành bởi ba yếu tố:
Thứ nhất, là hoạt động lao động, thể hiện sự tác động của sức lao động của con người vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ
Thứ hai, việc làm tạo ra thu nhập, điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm Những hoạt động của con người dù có tiêu tốn sức lực mà không tạo ra thu nhập, tức không vì mục đích kiếm sống thì không được thừa nhận là việc làm
Thứ ba, hoạt động đó không bị pháp luật cấm Điều này chỉ rõ tính chất pháp lý của việc làm Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề
và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước Điều này còn khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức
Quan niệm về việc làm theo quy định tại BLLĐ năm 1994 và BLLĐ năm
2012 đã tiếp thu có chọn lọc các quan điểm, khái niệm về việc làm trên thế giới
Nó mang tính khái quát cao và nêu bật được các yếu tố cấu thành việc làm Quan niệm một cách đúng đắn về việc làm sẽ là cơ sở để ban hành những chính sách đảm bảo việc làm và giải quyết tốt vấn đề việc làm ở nước ta
1.1.1.2 Quan niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các chỗ làm việc
Trang 16chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước
Giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội, các doanh nghiệp và ngay cả bản thân của người lao động Hiện nay, các chính sách của nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến việc tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những yếu tố quan trọng tác động rất mạnh đến việc làm của người lao động, khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh như giảm thuế sử dụng đất, thuê nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ cho các công trình sản xuất Chính sách nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc làm Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nghề, tuyển dụng, bố trí sản xuất phù hợp với nguồn lực và yêu cầu
Giải quyết việc làm còn có một ý nghĩa là tạo thêm được công ăn việc làm mới cho người lao động Ở đây là tạo thêm công ăn việc làm mới cho người lao động mang tính chất là người lao động đang không có việc làm nay có việc làm chứ không phải người lao động đang đi làm có thêm việc làm khác nữa Vậy nên giải quyết việc làm là tạo thêm việc làm mới từ các cơ chế chính sách của nhà nước cũng như việc tuyển dụng thêm lao động của các doanh nghiệp
Ngoài ra, hình thành môi trường cho sự kết hợp các yếu tố sức lao động
và tư liệu sản xuất Ở đó thông qua cơ chế chính sách khuyến khích thu hút của nhà nước, thông qua sự hoạt động đầu tư của nhà sản xuất nhằm tạo thêm nơi làm việc mà người lao động có thể vận dụng sức lao động của mình vào sản xuất của cải cho xã hội
1.1.2 Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm
1.1.2.1 Vai trò của việc làm
Trang 17Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội
Thứ nhất, đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để
nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, ), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp, ) Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có
Ở khía cạnh pháp lý, có việc làm là quyền cơ bản của con người Mỗi cá nhân có khả năng lao động, có nhu cầu lao động đều có quyền được làm việc để tạo ra thu nhập cho bản thân nếu hoạt động đó không trái pháp luật Điều này đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế và pháp luật của nhiều nước Điều 2 Tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 của Liên hợp quốc ghi
nhận: “Mọi người đều có quyền làm việc, tự do chọn nghề, được có những điều kiện làm việc thuận lợi và chính đáng và được bảo vệ chống lại thất nghiệp”
Điều 1 Công ước số 122 của ILO về chính sách việc làm năm 1964 cũng nêu rõ:
“Các nước thành viên phải tuyên bố và áp dụng một chính sách tích cực nhằm xúc tiến toàn dụng lao động, có năng suất và được tự do lựa chọn” cho người
lao động Ngay tại điều 5 BLLĐ năm 1994 của Việt Nam cũng khẳng định:
“Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo” Về mặt pháp lý, những quy
định trên của quốc tế cũng như của quốc gia là cơ sở pháp lý để đảm bảo cho mỗi cá nhân đều có việc làm và thu nhập, có được cuộc sống ổn định và bền vững, đáp ứng nhu cầu tối thiểu của con người
Trang 18Thứ hai, đối với kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan
trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động
Thứ ba, đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu
thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực Khi mọi cá nhân trong xã hội
có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội , không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người Con người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội Ngoài ra khi không có vệc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình chính trị
Vai trò của việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan trọng Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi Nhà nước phải có những chiến lược, kế hoạch cụ thể đáp ứng được nhu cầu này
1.1.2.2 Vai trò của giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội Hội nghị thượng đỉnh Cophenhagen, 3/1995 coi mở rộng việc làm là một trong những nội dung cơ bản nhất của chiến lược phát triển xã hội của các nước trên thế giới năm
Trang 192010 Đối với nước ta, giải quyết việc làm cho người lao động, hạn chế thất nghiệp ở tỷ lệ thấp là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô mà Nhà nước thường xuyên quan tâm thực hiện
Chính sách giải quyết việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính sách kinh tế - xã hội khác, đặc biệt là mối quan hệ chặt chẽ giữa chính sách việc làm với các chính sách như: chính sách dân số, chính sách giáo dục – đào tạo, chính sách cơ cấu kinh tế, chính sách công nghệ
Chính sách giải quyết việc làm kéo theo các chính sách phát triển giáo dục để nhằm đào tạo nguồn lực phù hợp cung cấp cho thị trường lao động Trên
cơ sở về cơ cấu dân số, chính sách giải quyết việc làm cũng được xây dựng phù hợp
Giải quyết việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội Các chính sách về giải quyết việc làm phù hợp sẽ giảm tỉ lệ thất nghiệp, giảm các tệ nạn xã hội Ngược lại, thực hiện không tốt công tác giải quyết việc làm giúp, nhất là trong giai đoạn kinh tế suy thoái, nạn thất nghiệp sẽ tăng và cùng với nó là tình trạng đói nghèo, các tệ nạn sẽ dễ dàng phát sinh Khi
đó gánh nặng sẽ đè lên các chính sách về bảo trợ xã hội, an ninh xã hội Tình trạng bất ổn trong công tác giải quyết việc làm kéo dài có thể gây ra bất ổn về chính trị, xã hội
1.2 Pháp luật về giải quyết việc làm
1.2.1 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm
Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do việc làm của công dân Khoản 1, điều 5 BLLĐ quy định quyền của người lao động: “a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử; b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể; c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của
Trang 20pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy chế dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động; d) Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; đ) Đình công” Đây là sự khẳng định quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm
của người lao động, cũng nhằm khẳng định và cụ thể một nguyên tắc hiến định rất tiến bộ tại Điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 “Lao động là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, điều đó cũng phù
hợp với nguyên tắc tự do việc làm của pháp luật quốc tế
Nguyên tắc cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động Theo khoản 2 và
3 điều 8 BLLĐ quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “2) Ngược đãi người lao động, quấy rối tình dục tại nơi làm việc; 3) Cưỡng bức người lao động”
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động Theo đó, trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động vốn có lợi thế hơn so với người lao động, nên người sử dụng lao động không bị ép buộc người lao động tiến hành những việc làm trái với ý muốn của họ hoặc ngược đãi họ Ở khía cạnh nào đó, nguyên tắc này như là sự bổ sung cho nguyên tắc bảo đảm quyền tự do việc làm Tuy nhiên, xét ở bình diện rộng hơn, nguyên tắc này bảo vệ nhân quyền và chống lại ách nô dịch việc làm
Nguyên tắc bảo đảm sự bình đẳng trong lĩnh vực việc làm: Đây là nguyên tắc thể hiện nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”(Điều 52,
Hiến pháp), được quy định tại các Điều 7và 8 BLLĐ Theo đó mọi công dân đều
có quyền bình đẳng về cơ hội có việc làm, được đối xử bình đẳng đối với mọi việc làm và được trả công ngang nhau khi làm những công việc như nhau, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo Nguyên tắc này, xa hơn là bảo vệ quyền bình đẳng cơ hội việc làm của người lao động
Nguyên tắc thực hiện một số ưu đãi đối với một số đối tượng đặc thù
Nguyên tắc này xuất phát từ thực tế không phải ai cũng có khả năng làm việc, có
Trang 21được cơ hội việc làm như nhau do có sự khác nhau trong những vấn đề như: giới tính, mức độ trưởng thành hay những đặc điểm đặc thù khác nhau như là người tàn tật, người có hoàn cảnh đặc biệt, yếu thế, nhất là trong điều kiện cạnh tranh lao động ngày càng gay gắt Do vậy, chính sách giải quyết việc làm đã dành cho các đối tượng cụ thể như: Tại chương X, BLLĐ có những quy định riêng đối với
lao động nữ như chính sách của Nhà nước đối với lao động nữ; Nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với lao động nữ; Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ; Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai; Nghỉ thai sản; Bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản; Trợ cấp nghỉ để chăm sóc con ốm, khám thai, thực hiện các biện pháp tránh thai; Quy định một số công việc không được sử dụng lao động nữ Chương XI, BLLĐ quy định lao động chưa thành niên và một số lao động khác như lao động là người cao tuổi; lao động là người khuyết tật; lao động là người giúp việc gia đình; người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, lao động cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, người lao động làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, thể dục thể thao, người lao động nhận công việc về làm tại nhà
Chính sách pháp luật có những ưu đãi nhất định nhằm hỗ trợ họ có được những
cơ hội việc làm, hòa nhập với cộng đồng, khắc phục những yếu thế đặc thù của
họ Đây cũng là một nội dung trong chính sách xã hội của Nhà nước
Nguyên tắc khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo ra việc làm Khoản 2, 3, 4 và 5, điều 12 BLLĐ quy định về chính sách hỗ trợ phát triển việc làm của Nhà nước, cụ thể: “2) Có chính sách bảo hiểm thất nghiệp, các chính sách khuyến khích để người lao động tự tạo việc làm; hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động nữ, lao động là người khuyết tật, lao động là người dân tộc ít người để giải quyết việc làm.3) Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động 4) Hỗ trợ người
sử dụng lao động, người lao động tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động ở nước ngoài 5) Thành lập Quỹ quốc gia về việc làm để hỗ trợ cho vay ưu đãi tạo việc làm và thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật ” Ngoài
Trang 22ra, Nhà nước có biện pháp bảo đảm việc làm, chống sa thải người lao động nhưng đào tạo, đào tạo lại nghề, chính sách đối với lao động dôi dư, quy định chỉ tiêu tạo việc làm mới bắt buộc trong chương trình dự án phát triển kinh tế -
xã hội, ưu đãi đối với các dự án sử dụng lao động tại chỗ, sử dụng lao động Việt Nam Nguyên tắc này vừa thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và thể hiện trách nhiệm của xã hội, của người sử dụng lao động và của bản thân người lao động trong vấn đề giải quyết việc làm
Nguyên tắc bảo vệ người lao động Nguyên tắc này nhằm bảo vệ quyền
lợi của người lao động Trước hết là bảo vệ việc làm cho người lao động như: Quy định về thời gian thử việc, về ký kết hợp đồng lao động, về điều chuyển công tác phải tuân theo những quy trình chặt chẽ Trong quá trình làm việc, pháp luật cũng quy định thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi phù hợp Người lao động còn được tham gia Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để được chăm sóc sức khỏe, được bảo hiểm khi ốm đau và được nhận lương hưu khi hết tuổi lao động Trong trường hợp bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp người lao động được đảm bảo điều kiện cấp cứu, điều trị, điều dưỡng để phục hồi sức khỏe Nếu còn tiếp tục làm việc thì được sắp xếp công việc phù hợp Khi người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm do điều kiện kinh tế khó khăn thì người sử dụng lao động phải trả tiền trợ cấp mất việc làm
1.2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia có tác động không chỉ đối với sự phát triển kinh tế mà còn đối với đời sống xã hội của mỗi quốc gia
Giải quyết việc làm, đảm bảo việc làm cho người lao động được quy định
tại Điều 13 BLLĐ năm 1994 như sau: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các Doanh nghiệp và toàn xã hội” Điều 9 BLLĐ năm 2012 cũng khẳng định: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ
Trang 23hội có việc làm” Đây là những khẳng định có tính chất tuyên ngôn của Nhà
nước về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động Theo đó, giải quyết việc làm còn bao gồm phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế nhằm tự tạo việc làm cho mình và cho xã hội Điều này có nghĩa là, vấn đề tự tạo việc làm cho bản thân chịu tác động của việc thực hiện hàng loạt cơ chế pháp lý khác như quyền tự do kinh doanh, tự do cư trú, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh
tế, khuyến khích đầu tư Còn việc làm cho người lao động trong quan hệ với người sử dụng lao động chịu sự tác động của các chế độ pháp lý như quyền được lao động, tự do tìm kiếm việc làm, tự do cư trú hợp đồng lao động, dạy nghề, bảo đảm việc làm, thất nghiệp
Do vậy, có thể khẳng định, giải quyết việc làm là một chính sách lớn của Nhà nước thông qua hàng loạt cơ chế, biện pháp pháp lý và kinh tế - xã hội và bảo đảm các vấn đề xã hội Đó cũng là nội dung điều chỉnh của pháp luật về vấn
đề việc làm
1.2.2.1 Hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động:
Trong những năm đổi mới, nhất là từ giai đoạn 2001 đến nay, hệ thống pháp luật kinh tế tiếp tục được hoàn thiện đã góp phần tạo nên thị trường lao động phát triển Bộ luật lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung năm 2002 và 2006,
Bộ luật lao động năm 2012, Luật bảo hiểm xã hội, Luật dạy nghề, Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, các nghị định, thông tư liên quan tới lao động, thị trường lao động và việc làm đã hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường lao động phát triển, tăng cường cơ hội việc làm và hoàn thiện quan hệ lao động Các chế độ về tiền lương, thu nhập, trợ cấp ngày càng hoàn thiện, góp phần nâng cao năng suất lao động và cải thiện thu nhập của người lao động
Mặc dù vậy, nhiều ý kiến cho rằng, chính sách pháp luật về việc làm của nhà nước ta hiện nay không phù hợp và khó thực hiện Các quy định chủ yếu điều chỉnh đối với lao động có quan hệ lao động, còn các đối tượng khác như việc làm ở khu vực phi chính thức, khu vực nông thôn chưa được quy định cụ
Trang 24thể Nhiều quy định mới chỉ được thể hiện bằng các văn bản dưới luật, tính pháp
lý chưa cao, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn Các chính sách còn mang tính chung chung, chưa rõ ràng, cụ thể Còn thiếu các chính sách về bình đẳng việc làm, việc làm an toàn, các quy định về việc làm đầy đủ, việc làm bán thời gian; các khái niệm, định nghĩa về thị trường lao động chưa được xác định rõ; các giải pháp hỗ trợ của Nhà nước chưa đầy đủ, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn gây khó khăn trong hoạt động quản lý và tổ chức thực hiện trong lĩnh vực việc làm
Việc triển khai tại một số địa phương gặp nhiều lúng túng, vướng mắc do
cơ chế chồng chéo, không phân rõ trách nhiệm giữa các cơ quan thực hiện Một
số địa phương, doanh nghiệp không thực hiện đầy đủ các chính sách đã được ban hành, ví dụ như: quy định về việc thành lập Quỹ Giải quyết việc làm địa phương; đảm bảo tỷ lệ lao động là người tàn tật; việc thực hiện các chế độ đối với người lao động; triển khai chương trình, dự án gắn với quy hoạch nguồn nhân lực cũng như kế hoạch tạo việc làm cho người lao động
Các dự án cho vay giải quyết việc làm từ Quỹ Quốc gia về việc làm chủ yếu là dự án trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm trên 60% Đối tượng vay là các
cơ sở sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ thấp - dưới 10% nên chưa tạo thêm nhiều việc làm mới Một số dự án cho vay sai mục đích, không đúng đối tượng; nhu cầu vay vốn lớn nhưng nguồn vốn chỉ đáp ứng được 30-35% nhu cầu của nhân dân Cơ chế quản lý, sử dụng nguồn vốn chưa hợp lý gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của quỹ…
1.2.2.2 Kết nối cung cầu lao động
Hệ thống dịch vụ việc làm được phát triển từ năm 1992 qua Chương trình việc làm quốc gia theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992, đã tạo môi trường pháp lý phát triển dịch vụ kết nối cung-cầu về lao động, tăng cường cơ hội để người lao động tiếp cận thông tin về việc làm, lựa chọn công việc Đặc biệt, với việc sửa Điều 18 của Bộ luật lao động năm 1995, Nghị định
số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/5/2005 và Nghị định số 71/2008/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ-CP đã từng
Trang 25bước hoàn thiện khung pháp lý cho dịch vụ việc làm Cùng với các trung tâm giới thiệu việc làm công lập, các doanh nghiệp cũng được phép hoạt động giới thiệu việc làm, kể cả sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1.2.2.3 Hỗ trợ lao động di chuyển
Chính phủ đã thực hiện các chương trình hỗ trợ di cư đến các vùng kinh tế mới; hỗ trợ di dân thực hiện định canh định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số (Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg); Chương trình di dân gắn với xóa đói giảm nghèo (thuộc nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006- 2010) Các chương trình di dân đã đáp ứng một phần về tái phân bổ nguồn lao động, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế vùng, góp phần ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và bảo vệ an ninh quốc phòng
Các quy định về cư trú, đăng ký hộ khẩu tại các khu đô thị, các thành phố lớn ngày càng thông thoáng Luật Cư trú (năm 2007) đã mở rộng quyền cư trú của công dân, giúp cho việc di chuyển lao động dễ dàng hơn Các chính sách phát triển đô thị, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các vùng kinh tế trọng điểm cũng có tác động kích thích di chuyển lao động, nhất là di chuyển nông thôn - đô thị, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao điều kiện về việc làm và thu nhập cho lao động nông thôn
1.2.2.4 Tín dụng ưu đãi cho sản xuất, kinh doanh
Thông qua việc ban hành gần 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử dụng cơ chế cho vay tín dụng thông qua các chương trình, tổ chức, hội đoàn thể, Nhà nước hỗ trợ vốn sản xuất, kinh doanh cho các nhóm yếu thế như lao động nghèo, lao động nông thôn, lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, lao động vùng chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp, các tổ chức kinh doanh thu hút nhiều lao động
- Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh: Chương trình Việc làm quốc gia được thành lập theo Nghị quyết số 120/1992/NQ-HĐBT ngày 11/4/1992 có
Trang 26nội dung cung cấp các khoản vay với lãi suất ưu đãi để doanh nghiệp và hộ gia đình tạo việc làm và xuất khẩu lao động
- Đối với người lao động: Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, thanh niên: hỗ trợ hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo; Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; Quyết định số 126/2008/QĐ-TTg ngày 15/9/2008 về vay vốn phát triển sản xuất cho hộ dân tộc; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020
- Bên cạnh đó, nhiều chương trình hỗ trợ khác được triển khai trong thời
kỳ suy giảm kinh tế từ 2007 đến nay nhằm giúp cho nhiều doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh vượt qua giai đoạn khó khăn, duy trì sản xuất, trả lương và đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg ngày 23/02/2009 về việc hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế; Quyết định số 92/2009/QĐ-TTg ngày 08/7/2009 về tín dụng đối với thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn Một số biện pháp hỗ trợ khác như: miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp, giãn thời gian nộp một số loại thuế (Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011
về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; Nghị quyết số 08/2011/QH13 về ban hành bổ sung một
số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân; Quyết định số 21/2011/QĐ-TTg ngày 06/4/2011 về gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ) Ngoài ra, còn có các biện pháp hỗ trợ như khuyến khích xuất khẩu, ứng trước kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước của các năm sau đã tác động trực tiếp tới vấn đề duy trì việc làm và thu nhập cho người lao động trong bối cảnh suy giảm kinh tế, người mất việc làm gia tăng
Trang 271.2.2.5 Đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Nhà nước đã hình thành một hệ thống chính sách thúc đẩy việc làm ngoài nước, xây dựng các chương trình trọn gói từ đào tạo, cho vay vốn để
hỗ trợ người lao động khi về nước, đặc biệt là người lao động thuộc hộ nghèo: Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN về việc cho vay vốn đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Quyết định số 143/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 về việc thành lập, quản lý Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền
vững giai đoạn 2009 - 2020
1.2.2.6 Cho phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO, Chính phủ đã thực hiện mở cửa thị trường lao động Việt Nam đối với lao động có kỹ thuật Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngóài làm việc tại Việt Nam; Nghị định số 46/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 sửa đổi bổ sung Nghị định số 34/2008/NĐ-CP đã góp phần đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước đối với những vị trí làm việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao
Trang 28Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm và thực tiễn giải
quyết việc làm tại Thành phố Đà Nẵng
2.1 Pháp luật về giải quyết việc làm ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Pháp luật về giải quyết việc làm luôn gắn liền với pháp luật lao động và các văn bản pháp luật liên quan
Khi đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật lao động nói riêng, có thể có nhiều cách phân chia khác nhau.Trong khuôn khổ luận văn này, căn cứ theo từng thời kỳ đổi mới của đất nước có thể chia thành năm giai đoạn như sau:
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954
Đây là thời kỳ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Chính phủ đã bắt tay ngay vào việc quản lý điều hành đất nước trong điều kiện các văn bản pháp luật hầu như chưa có Để điều chỉnh các quan hệ xã hội phức tạp lúc giao thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh tạm thời giữ lại các luật lệ của đế chế cũ ở các miền cho đến khi ban hành những đạo luật mới chung cho cả nước Mặt khác, Chính phủ đã giao cho các Bộ trong phạm vi chức năng của mình, khẩn trương nghiên cứu ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ lao động
Để bảo vệ người lao động trong quan hệ lao động, ngày 01/10/1945 Bộ Lao động ra Nghị định buộc các xưởng kỹ nghệ, các nhà thương mại phải báo trước 1 tháng cho người lao động khi sa thải họ Đồng thời, Bộ Lao động cũng ban hành nghị định ấn định tiền phụ cấp cho công nhân bị sa thải Theo Sắc lệnh
số 55/SL ngày 20/11/1945 Chính phủ đã quy định về việc hưởng lương của người lao động khi nghỉ ngày Quốc tế lao động 01/5, ấn định ngày nghỉ tết, ngày
lễ kỷ niệm những ngày lịch sử và ngày lễ tôn giáo
Năm 1947, Chính phủ ra tiếp Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 quy định
về các chế độ lao động khi làm công cho các chủ người Việt Nam tại các xưởng
kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do trong toàn quốc Trên
Trang 29Sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, trong tháng 5/1950 Chính phủ đã ban hành hàng loạt sắc lệnh quan trọng như Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 về việc ban hành quy chế công chức; Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định chế độ công nhân giúp việc Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến và các sắc lệnh như Sắc lệnh 81/SL về việc ấn định thang lương chung cho công chức làm việc trong các cơ quan Chính phủ; Sắc lệnh 91/SL về việc ấn định phí cấp hằng tháng (được tính bằng giá gạo) của các vị trong Uỷ ban hành chính và Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp (khu, liên khu và khu Hà Nội, tỉnh và thành phố, huyện, thị xã lớn và quận thuộc Hà Nội, thị xã nhỏ và khu phố); Sắc lệnh 92/SL
về việc ấn định lương và phụ cấp cho các cấp điều khiển ở Văn phòng Chủ tịch phủ, Quốc hội, các Bộ và Nha do Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ban hành; Sắc lệnh 94/SL về việc ấn định mức lương chính hằng tháng (được tính bằng giá gạo), thi hành từ ngày 1-5-1950, của các vị giữ chức Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng tại Văn phòng Chủ tịch phủ, Văn phòng Quốc hội và Thủ tướng phủ, Văn phòng các Bộ, các Nha hay Cục; Giám đốc, Phó Giám đốc Liên khu, Chánh văn phòng Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu, Trưởng phòng Uỷ ban kháng chiến hành chính và chuyên môn của Liên khu; Trưởng, Phó ty, Chánh văn phòng và Trưởng phòng Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh hay thành phố; Sắc lệnh số 95/SL, ấn định mức lương chính hằng tháng (được tính bằng giá gạo) của các vị trong Ban Thanh tra Chính phủ và các phái viên thanh tra, thi hành từ ngày 1-5-1950
Đây là những văn bản quan trọng nhất trong thời kỳ này, đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong việc xây dựng hệ thống các văn bản pháp luật về lao động của Nhà nước dân chủ nhân dân vừa mới thành lập Điều dễ nhận biết trong việc xây dựng các văn bản pháp luật thời kỳ này là: tiến độ xây dựng các văn bản pháp luật rất nhanh, khối lượng văn bản rất lớn, hiệu lực pháp lý cao; đã
kế thừa những ưu điểm của các văn bản cũ và được nâng lên một bước về chất lượng cho phù hợp với những chuyển biến mới của mối quan hệ lao động – xã hội Một đặc điểm nổi bật của các văn bản pháp luật lao động thời kỳ này là đã bao quát được hầu hết các chế định của pháp luật lao động; có sự phân biệt rạch
Trang 30ròi về đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động trên cơ sở phân định rõ các nhóm quan hệ lao động xã hội mà giữa chúng có những tính chất hết sức đặc biệt
Tuy vậy, do hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp cho nên những văn bản
kể trên chỉ mới được thi hành trong một phạm vi hẹp hoặc trong một thời gian rất ngắn, nhưng chúng đã đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp lao động của nước ta
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1985
Đây là thời kỳ mà pháp luật lao động tập trung vào việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước Trong giai đoạn này Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về lao động cụ thể hóa Điều 21, 24, 30, 31, 32 của Hiến pháp 1959 Trong
đó có các văn bản: Luật Công đoàn tháng 11/1957; Nghị định 181/CP tháng 12/1960 ban hành Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động; Nghị định 218/CP tháng 12/1961 ban hành điều lệ tạm thời về Bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức; Nghị định 24/CP tháng 3/1963 ban hành điều lệ tuyển dụng, cho thôi việc đối với công nhân viên chức; Nghị định 172/CP tháng 11/1963 ban hành điều lệ tạm thời về việc ký hợp đồng tập thể ở các xí nghiệp quốc doanh Nghị định 195/CP tháng 12/1964 ban hành điều lệ kỷ luật lao động trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước; Nghị định 49/CP tháng 4/1968 quy định trách nhiệm vật chất của công nhân viên chức đối với tài sản Nhà nước; Quyết định 199/CP tháng 7/1969 về một số biện pháp bảo đảm thời gian lao động của công nhân viên chức
Do đặc điểm của giai đoạn lịch sử này, nên pháp luật lao động chủ yếu tập trung điều chỉnh mối quan hệ lao động trong khu vực kinh tế quốc doanh với nội dung mang nặng tính tập trung bao cấp Để điều tiết các quan hệ lao động Nhà nước sử dụng biện pháp hành chính là chủ yếu nhằm xác lập, điều chỉnh các quan hệ kinh tế lao động; ít chú ý đến nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng của
Trang 31người lao động và người sử dụng lao động và cả quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở
Về hình thức thì chủ yếu là các văn bản dưới luật, dưới dạng Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị của Chính phủ và của cấp Bộ Đáng chú ý là nhiều văn bản có tính chất thử nghiệm, tạm thời, song tồn tại hàng chục năm vẫn chưa được thay thế
Mặc dù vậy các văn bản pháp luật lao động được ban hành thời kỳ này đã bao quát hầu hết các chế định cơ bản của pháp luật lao động từ khâu tuyển dụng,
sử dụng lao động, bảo hộ lao động, kỷ luật lao động đến bảo hiểm xã hội
Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, cả nước thống nhất, trên
cơ sở chủ trương cải tiến quản lý kinh tế của Đảng, Hội đồng Chính phủ ra
Quyết định 19/CP ngày 29/01/1976 trong đó quy định: “Ban hành ngay trong năm 1976 quy chế tuyển dụng, sử dụng và cho thôi việc trong các xí nghiệp quốc doanh theo hướng đòi hỏi người lao động làm nghề gì phải hiểu biết lý thuyết và thực hành cần thiết của nghề ấy” Vì vậy, những văn bản pháp luật ban hành
sau thời gian đó đều cố gắng thể hiện tinh thần này
Thể chế hóa quan điểm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, ngày 26/4/1979, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 182/CP “Quy định về quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của công nhân viên chức tại các đơn vị sản xuất, kinh doanh của Nhà nước” Nhiều quy phạm trong quy định này điều chỉnh các quan hệ lao động trong xí nghiệp, cơ quan Nhà nước
Hiến pháp năm 1980 ra đời là một bước phát triển mới trong lịch sử lập hiến của nước ta So với Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 quy định các vấn đề về quan hệ lao động một cách toàn diện và có nhiều điều kiện đảm bảo hơn, đặt ra những nguyên tắc nền tảng để xây dựng pháp luật lao động trong thời kỳ mới Pháp luật lao động thời gian này thể hiện cuộc đấu tranh nhằm khắc phục cơ chế hành chính bao cấp trong việc tuyển dụng, tiền lương, kỷ luật lao động, bảo hiểm xã hội bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân trong quan hệ lao động Cũng trong thời gian này, một số cải cách về lao động, tiền lương
Trang 32được đưa vào làm thử để tiến tới xây dựng các chế độ chính thức như: đưa hình thức hợp đồng lao động thay cho hình thức tuyển dụng, thực hiện việc bù giá vào lương để chuẩn bị việc cải tiến chế độ tiền lương
Ngoài các văn bản kể trên, còn có 03 công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) (Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho mô ̣t công viê ̣c ngang nhau năm 1959, Công ước số 111 về Phân biê ̣t đối xử trong viê ̣c làm và nghề nghiê ̣p năm 1958, Công ước số 122 về chính sách việc làm) mà nước ta phê chuẩn, gia nhập là các nguồn pháp luật quan trọng cho việc
tổ chức thực hiện pháp luật việc làm
Tóm lại, với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường, nhiều văn bản pháp luật về lao động được ban hành, hiệu quả kinh tế đạt được trong thời gian
đó chứng minh tính đúng đắn của chủ trương đó Tuy nhiên, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, pháp luật về lao động, giải quyết việc làm chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động của cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước bởi một cơ chế xơ cứng, làm cho quan hệ lao động bộc lộ những khuyết điểm như:
Thứ nhất: Trong các văn bản pháp luật, đã gần như đồng nhất hai quan niệm có việc làm và trong biên chế Nhà nước Chưa tìm được chỗ đứng trong biên chế Nhà nước coi như chưa có việc làm Quan niệm đó đã cản trở và hạn chế một cách ghê gớm sự giải phóng sức lao động xã hội
Thứ hai: Người trong biên chế Nhà nước được bảo đảm về nguyên tắc quyền lợi vật chất theo chế độ bao cấp Như vậy, quyền lợi và nghĩa vụ bị tách nhau trong quan hệ lao động, dẫn đến tình trạng ỷ lại vào Nhà nước, không kích thích tính tích cực về năng lực lao động và tính sáng tạo của người lao động
Thứ ba: Chế độ tiền lương được tính theo biên chế hiện có trong xí nghiệp
đã làm tăng biên chế Nhà nước rất nhanh trong lúc hiệu quả kinh tế ngày càng bị
hạ thấp
Một hệ thống pháp luật lao động điển hình của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp như vậy đã trở thành một sự trở ngại lớn đối với sự hình thành và phát
Trang 33triển của cơ chế mới – cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Do vậy, yêu cầu đổi mới hệ thống pháp luật lao động đó là cấp bách
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1993
Từ năm 1986, Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986, công cuộc đổi mới được khởi xướng, một trong những nội dung cốt lõi là đổi mới kinh tế, xây dựng chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường Do đó, một số vấn
đề quan trọng và cấp bách được đặt ra là phải xây dựng và thực hiện một cơ chế
tổ chức và quản lý lao động thích hợp mà các mục tiêu cơ bản của nó là đề cao trách nhiệm của các chủ doanh nghiệp đối với lao động và tiền lương, phát huy tiềm năng lao động trong xí nghiệp, khuyến khích người lao động đề cao quyền
và nghĩa vụ lao động
Quyết định 217/CP ngày 14/11/1987 đã phần nào thể hiện quan điểm đổi mới, trao quyền tuyển dụng lao động cho các doanh nghiệp và bảo đảm quyền lợi của người lao động bằng chế độ hợp đồng lao động Điều 45 của Quyết định
217/CP quy đinh: “Xí nghiệp có quyền trực tiếp chọn lao động theo hướng dẫn
về địa bàn của cơ quan lao động” Nghĩa là, xí nghiệp có quyền trực tiếp quyết
định việc tuyển dụng và chịu trách nhiệm về việc xét chọn người làm việc theo yêu cầu của sản xuất và công tác
Đồng thời Quyết định 217/CP cũng quy định rõ hình thức tuyển lao động Các hình thức hợp đồng lao động khác nhau (hợp đồng lao động ngắn hạn, hợp đồng lao động theo vụ việc, hợp đồng lao động dài hạn), vừa tạo điều kiện cho
xí nghiệp chủ động trong sử dụng lao động đáp ứng yêu cầu của sản xuất, vừa tạo điều kiện cho người lao động thực hiện quyền dân chủ của mình trong việc thiết lập quan hệ lao động, nâng cao trách nhiệm đối với nhau của cả hai bên Với hợp đồng lao động, người lao động không bị áp đặt một cách theo quan hệ hành chính bất chấp năng lực và nguyện vọng của họ Đối với người lao động,
xí nghiệp không chỉ có quyền mà còn phải có trách nhiệm bảo đảm quyền lợi của họ
Trang 34Cơ chế thị trường càng được khẳng định, vai trò của hợp đồng lao động càng lớn Vì vậy, ngày 30/8/1990 Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh về hợp đồng lao động Đây là văn bản pháp luật lao động đầu tiên có giá trị pháp lý cao, quy định khá đầy đủ về mục đích, phạm vi, đối tượng áp dụng, các nguyên tắc, trình tự giao kết hợp đồng lao động, khẳng định xu hướng sử dụng hợp đồng lao động trong quan hệ lao động, đồng thời Nhà nước cũng đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật lao động nhằm khẳng định và thực hiện quan điểm mới của Đảng ta về vấn đề lao động, chẳng hạn như Pháp lệnh bảo hộ lao động ngày 10/9/1991
Sự ra đời của Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận chủ trương phát triển cơ chế thị trường thành một nguyên tác nhất định Sau Hiến pháp 1992, một loạt văn bản pháp luật mới đã được ban hành như: Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp
tư nhân, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Phá sản Những văn bản pháp luật đó đã thúc đẩy sự ra đời của hàng loạt các loại hình kinh doanh khác nhau, tạo môi trường hình thành và phát triển các quan hệ lao động đa dạng và mới về chất trong nền kinh tế thị trường Vì vậy, ngoài Pháp lệnh về hợp đồng lao động ngày 30/8/1990 và Pháp lệnh bảo hộ lao động ngày 10/9/1991, Chính phủ còn ban hành hàng loạt văn bản pháp luật mới như: Nghị định 165/HĐBT ngày 12/5/1992 về việc Hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh lao động; Nghị định 120/HĐBT ngày 11/4/1992 về vấn đề việc làm; Nghị định 18/CP ngày 26/12/1992 về thỏa ước lao động tập thể; Nghị định 25/CP và 26/CP ngày 23/5/1993 về chế độ tiền lương mới; Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993 về bảo hiểm xã hội những nội dung và nguyên tắc được quy định trong các văn bản này thực sự là bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, tạo được những tiền đề
về pháp lý nhất định cho sự phát triển của quan hệ lao động theo hướng mới Tuy nhiên so với yêu cầu thì pháp luật lao động vẫn còn nhiều nhược điểm lớn
mà trước hết là thiếu tính đồng bộ, bất cập với yêu cầu đổi mới, chưa thật sự phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta
2.1.4 Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2012
Trang 35Kế thừa và phát triển pháp luật lao động của nước ta từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, Bộ Luật Lao động thể chế hoá đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam và cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 về lao động, về sử dụng và quản
lý lao động
Bộ luật Lao động năm 1994, có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 đã dành riêng Chương II quy định những vấn đề cơ bản về việc làm như: quyền tự do việc làm của người lao động, quyền tuyển chọn và sử dụng lao động của người lao động, trách nhiệm tạo việc làm của nhà nước, chỉ tiêu tạo việc làm, chương trình và quỹ quốc gia về việc làm, tổ chức giới thiệu việc làm Ngoài ra, Bộ luật Lao động còn có những quy định về chính sách việc làm đối với một số đối tượng đặc thù như lao động nữ (Chương X), lao động là người tàn tật, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, lao động Việt Nam làm việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài (chương XI) Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất điều chỉnh các quan hệ việc làm
Tiếp đó cùng với sự phát triển của các quan hệ xã hội về việc làm, Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung chương Việc làm (Bộ luật Lao động) 1 lần vào năm 2002; ban hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 (Chương V-Bảo hiểm thất nghiệp), Luật Người khuyết tật năm 2010 (ChươngV-Dạy nghề và Việc làm),
Bộ Luật Lao động năm 2012 nhằm điều chỉnh đầy đủ và toàn diện hơn quan
hệ việc làm của một số đối tượng đặc thù và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quan hệ việc làm như: lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, bảo hiểm thất nghiệp, việc làm với người khuyết tật
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 8 Nghị định, 7 Quyết định; sửa đổi, bổ sung 5 Nghị định,1 Quyết định; hủy bỏ, thay thế 2 Nghị định để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động, Luật
Trang 36Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Bảo hiểm xã hội (chương V-Bảo hiểm thất nghiệp);
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Lao động – Thương binh và Xã hội, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành 29 Thông tư và Thông tư liên tịch, 5 Quyết định; sửa đổi, bổ sung 4 Thông tư; hủy bỏ, thay thế 5 Thông tư để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội (ChươngV-Bảo hiểm thất nghiệp), các Nghị định Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ (danh mục các văn bản quy phạm pháp luật kèm theo)
2.1.5 Giai đoạn từ năm 2013 đến nay
Tiếp tục cụ thể hoá Hiến pháp năm 1992, phù hợp với định hướng sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 và thể chế hoá chủ trương, đường lối, quan điểm và định hướng xây dựng đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện qua: các văn kiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, lần thứ XI; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: Phát triển đa dạng các ngành, nghề để tạo nhiều việc làm và thu nhập; khuyến khích, tạo thuận lợi để người lao động học tập, nâng cao trình độ, tay nghề, đồng thời có cơ chế, chính sách phát hiện, trọng dụng nhân tài Đẩy mạnh phát triển thị trường lao động là một trong những yêu cầu trong nội dung Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường
và các loại thị trường của định hướng “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Ngày 12 tháng 6 năm 2012, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 23/2012/QH13 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013 và điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012, trong
Trang 37đó giao Chính phủ chủ trì soạn thảo Luật việc làm Trên cơ sở tờ trình của Chính phủ, ngày 16 tháng 11 năm 2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật việc làm (Luật số 38/2013/QH13) Trên cơ sở tinh thần của Hiến pháp năm 1992 về quyền lao động, Luật việc làm khẳng định rõ các nguyên tắc về việc làm của người lao động: bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm
và nơi làm việc; bình đẳng về cơ h ội viê ̣c làm và thu nhập; bảo đảm làm viê ̣c trong điều kiê ̣n an toàn lao đ ộng, vệ sinh lao động Luật việc làm tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán của Nhà nước trong việc xác định mục tiêu giải quyết việc làm trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia tạo và tự tạo việc làm song song với việc ban hành các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển thị trường lao động, bảo hiểm thất nghiệp, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gắn với việc nâng cao trình độ kỹ năng nghề; hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật, lao động nữ, lao động là người dân tộc thiểu số
Việc Quốc hội thông qua Luật việc làm là một hoạt động lập pháp quan trọng nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực việc làm Lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản luật quy định đầy đủ, điều chỉnh toàn diện các quan hệ
về việc làm và thị trường lao động Đây là cơ sở pháp lí quan trọng nhằm tạo cơ hội việc làm theo hướng bền vững cho mọi lao động trong xã hội, đồng thời, thể hiện trách nhiệm của Việt Nam với tư cách là một thành viên trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước số 122 của Tổ chức lao động quốc tế về chính sách việc làm, quyết tâm phấn đấu giải quyết các vấn đề xã hội ngay trong quá trình đổi mới, phát triển và hội nhập
2.2 Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm
2.2.1 Về trách nhiệm của các bên trong giải quyết việc làm
2.2.1.1 Trách nhiệm của Nhà nước trong việc giải quyết việc làm
Pháp luật lao động quy định trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ và các cơ quan hành chính Nhà nước, trách nhiệm trước hết thuộc về Quốc hội và
Trang 38hệ thống các cơ quan quyền lực (Hội đồng nhân dân các cấp) Nội dung của việc giải quyết việc làm cho người lao động bao gồm:
- Nhà nước định chỉ tiêu việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và hằng năm Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính, cho vay vốn, giảm, miễn thuế và các biện pháp khuyến kích để người có khả năng lao động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh
tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động
- Nhà nước có chính sách ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số
- Nhà nước có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân trong và ngoài nước, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư phát triển kinh doanh nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động Sử dụng nhiều nhân công Việt Nam cũng là một trong những điều kiện giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật pháp hiện hành
Nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho người lao động được quy định như sau:
- Chính phủ: Chính phủ lập chương trình quốc gia về việc làm, dự án đầu
tư phát triển kinh tế xã hội, di dân phát triển vùng kinh tế mới gắn với chương trình giải quyết việc làm
+ Chương trình việc làm bao gồm mục tiêu, chỉ tiêu tạo việc làm mới, các chính sách, nguồn lực, hệ thống tổ chức và các biện pháp bảo đảm thực hiện chương trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chương trình việc làm quốc gia do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đệ trình Chính phủ quyết định Chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch hằng năm và 5 năm do Bộ kế hoaüch và đầu tư chủ trì cùng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các ngành có liên quan xây dựng đệ trình Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có trách nhiệm hướng dẫn kiểm tra và báo cáo chính phủ kết quả Chỉ tiêu thực hiện tạo việc làm mới (hằng năm và 5 năm) và Chương trình việc làm quốc gia
Trang 39+ Lập quỹ quốc gia về việc làm từ ngân sách Nhà nước và các nguồn khác (trợ giúp của các nước, các tổ chức quốc tế và cá nhân nước ngoài; của các đơn
vị và cá nhân trong nước hỗ trợ giải quyết việc làm) Quỹ quốc gia về việc làm được sử dụng vào các mục đích sau:
xã hội (mại dâm, nghiện hút…)
+ Phát triển hệ thống tổ chức dịch vụ việc làm : Nhà nước có chính sách triển khai thành lập và kiểm tra giám sát hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm
+ Hằng năm Chính phủ trình Quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về vệc làm
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình
và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó, đồng thời có trách nhiệm báo cáo
về Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính
Định hướng, hỗ trợ và kiểm tra chương trình việc làm của cấp huyện và cấp xã
Lập quỹ giải quyết việc làm (từ các nguồn ngân sách địa phương, khoản
hỗ trợ từ quỹ quốc gia về giải quyết việc làm do trung ương chuyển xuống và các nguồn khác) để giải quyết việc làm cho người lao động