1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trên trâu, bò của huyện hàm yên, tỉnh tuyên quang, ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò để giảm thiểu ô nhiễm môi trường

72 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀNG VĂN SỸ NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH BỆNH SÁN LÁ GAN TRÊN TRÂU, BÒ CỦA HUYỆN HÀM YÊN - TỈNH TUYÊN QUANG, ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG XỬ LÝ PHÂN TRÂU, BÒ ĐỂ GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TR

Trang 1

HOÀNG VĂN SỸ

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH BỆNH SÁN LÁ GAN TRÊN TRÂU, BÒ CỦA HUYỆN HÀM YÊN - TỈNH TUYÊN QUANG, ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG XỬ LÝ PHÂN TRÂU, BÒ ĐỂ GIẢM THIỂU

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi thú y Khóa học: 2016 - 2021

Thái Nguyên - 2021

Trang 2

HOÀNG VĂN SỸ

NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH BỆNH SÁN LÁ GAN TRÊN TRÂU, BÒ CỦA HUYỆN HÀM YÊN - TỈNH TUYÊN QUANG, ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG XỬ LÝ PHÂN TRÂU, BÒ ĐỂ GIẢM THIỂU

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2016 - 2021 Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Diệu Thùy

Thái Nguyên – 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho

em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua

Em xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm dịch vụ Nông nghiệp huyện Hàm Yên

- tỉnh tuyên Quang đã hỗ trợ và giúp đỡ em để thực hiện và hoàn thành tốt các công việc trong thời gian thực tập tại cơ sở

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Cô giáo GS.TS Nguyễn Thị Kim Lan,

TS Phạm Diệu Thùy và Thầy giáo ThS Trần Nhật Thắng đã tận tình giúp đỡ và

hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Chăn nuôi - Thú

y đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận thực tập tốt nghiệp này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên khóa luận không tránh khỏi sai sót

Em kính mong nhận được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để em có thêm kiến thức hoàn thiện khóa luận và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2021

Sinh viên

Hoàng Văn Sỹ

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh ký sinh trùng cho trâu,

bò ở một số xã thuộc huyện Hàm Yên (10 hộ/xã) 34

Bảng 4.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại huyện Hàm Yên

tỉnh Tuyên Quang 37

Bảng 4.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo các lứa tuổi trâu,

bò tại huyện Hàm Yên 41

Bảng 4.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo mùa tại

huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 44

Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt ở trâu, bò

tại huyện Hàm Yên 46

Bảng 4.6 Kết quả kiểm tra gan trâu, bò thu thập sán lá gan tại huyện Hàm Yên

tỉnh Tuyên Quang 48

Bảng 4.7 Kết quả xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò tại huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 49

Bảng 4.8 Điều tra thực trạng xử lý phân trâu, bò tại các hộ/trại chăn nuôi

tại huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 50

Bảng 4.9 Đánh giá sự ô nhiễm không khí ở khu vực xung quanh các hộ

chăn nuôi trâu, bò trước và sau xử lý phân 51

Bảng 4.10 Tổng số trứng giun sán trong phân trâu, bò trước và sau khi xử lý

bằng chế phẩm sinh học tại huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 53

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Cấu tạo của sán lá gan lớn 4

Hình 2.2 Vòng đời của sán lá gan 7

Hình 2.3 Chế phẩm EMUNIV 19

Hình 2.4 Chế phẩm EMIC 20

Hình 2.5 Chế phẩm EMZEO 21

Hình 3.1 Bản đồ địa chính huyện Hàm Yên – tỉnh Tuyên Quang 27

Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ nhiễm sán lá gan tại 5 xã 38

Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện cường độ nhiễm sán lá gan tại 5 xã 38

Hình 4.3 Đồ thị thể hiện tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo lứa tuổi ở trâu, bò 42

Hình 4.4 Tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò theo mùa tại huyện Hàm Yên

tỉnh Tuyên Quang 45

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Cs Cộng sự Nxb Nhà xuất bản

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

2.1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học 3

2.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola 3

2.1.3 Vòng đời của sán lá Fasciola 5

2.1.4 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola 8

2.1.5 Bệnh lý và lâm sàng bệnh ở trâu, bò 12

2.1.6 Chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra 15

2.1.7 Phòng và trị bệnh 16

2.2 Thông tin về một số loại chế phẩm sinh học xử lý phân trâu, bò 19

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 25

Phần 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 27

3.2 Vật liệu nghiên cứu 28

Trang 8

3.3 Nội dung nghiên cứu 28 3.3.1 Điều tra tình hình chăn nuôi trâu, bò, xử lý phân và công tác phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 28 3.3.2 Nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò của huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 28 3.3.3 Xác định loài sán lá gan gây bệnh trên đàn trâu, bò của huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 29 3.3.4 Điều tra thực trạng xử lý phân trâu, bò ở các xã, sự ô nhiễm không khí và trứng giun sán trong phân trâu, bò trước khi xử lý phân 29 3.3.5 Ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò và đánh giá hiệu quả cải thiện tình trạng ô nhiễm không khí và trứng giun, sán trong phân trâu, bò sau khi

xử lý phân 29 3.4 Phương pháp nghiên cứu 29 3.4.1 Phương pháp nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò tại một

số xã thuộc huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 29 3.4.2 Xác định loài sán lá gan gây bệnh trên đàn trâu, bò của một số xã thuộc huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 31 3.4.3 Phương pháp nghiên cứu tác dụng của chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò 31 3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 33

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Tình hình chăn nuôi trâu, bò và công tác phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu,

bò ở các xã thuộc huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 34 4.2 Nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trâu, bò tại huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 36 4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu và bò ở các xã tại huyện Hàm Yên

- tỉnh Tuyên Quang 36 4.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở các lứa tuổi trâu, bò 41 4.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo mùa vụ 43

Trang 9

4.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt trâu, bò 45

4.3 Kết quả định danh loài sán lá gan ký sinh trên trâu, bò ở một số xã tại huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 47

4.4 Ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò tại huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang 49

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Đề nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI

Trang 10

Đối với trâu, bò thường ra nhiều bệnh và nhiều loài ký sinh trùng gây bệnh cho trâu, bò Trong những bệnh đó thì bệnh sán lá gan ở trâu, bò do hai loài sán lá

ký sinh ở ống dẫn mật và gan gây ra là Fasciola hepatica và Fasciola gigantica

Sán lá gan gây bệnh ở vật chủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt dinh dưỡng và tác động mang trùng Sán trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật bằng các gai cutin trên cơ thể, gây viêm ống mật Số lượng sán nhiều có thể làm tắc ống mật, mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản

Tất cả những tác động kể trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề kháng của

cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác hoặc làm cho bệnh đang có trong cơ thể trâu, bò nặng thêm lên

Thực tế chăn nuôi trâu, bò tại huyện Hàm Yên chưa chú trọng nhiều đến việc

xử lý chất thải chăn nuôi Tại huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang vẫn còn trường hợp các hộ chăn nuôi thả rông trâu, bò không làm chuồng trại, nhiều hộ gia đình không có hố ủ phân trâu bò, buộc trâu bò ngay dưới gầm nhà sàn, hố phân trâu, bò ngay tại cổng ra vào nhà không được xử lý Trong phân trâu, bò còn chứa các vi khuẩn và trứng giun, sán, tình trạng sử dụng phân trâu, bò chưa qua xử lý bón cho cây trồng rất phổ biến, gây mất vệ sinh và gây ô nhiễm môi trường

Trang 11

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sự

lưu hành bệnh sán lá gan trên trâu, bò của huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang,

ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò để giảm thiểu ô nhiễm môi trường”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

- Xác định được tình hình nhiễm sán lá gan trên đàn trâu, bò tại một số xã

của huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang

- Ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu bò, để giảm thiểu ô

nhiễm môi trường

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về sự lưu hành bệnh sán lá

gan trên đàn trâu, bò và tác dụng của chế phẩm sinh học trong việc xử lý phân trâu,

bò, nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi chú ý

đến công tác phòng chống bệnh sán lá gan trâu, bò Góp phần hạn chế tỷ lệ và

cường độ nhiễm sán lá gan, giảm thiệt hại do bệnh sán lá gan gây ra, qua đó làm

nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển

- Ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý phân trâu, bò, góp phần giảm thiểu ô

nhiễm môi trường, tạo ra nguồn phân bón hữu cơ tốt sử dụng cho cây trồng

Trang 12

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học

Theo Skrjabin và cs (1977) [25], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [11] sán lá gan

ký sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:

Ngành Plathelminthes Schneider, 1873

Phân ngành Platodes Leuckart, 1854

Lớp Trematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962

Bộ Fasciolida Skrjabin et Schulz, 1937

Phân bộ Fasciolata Skrjabin et Schulz, 1937

Họ Fasciolidae Railliet, 1895

Phân họ Fasciolinae Stiles et Hassall, 1898

Giống Fasciola Linnaeus, 1758

Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758)

Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)

2.1.2 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola

Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với cơ quan tiêu hoá Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu

có dấu vết sắc tố mắt) Hệ sinh dục rất phát triển với cả bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán Tử cung sán chứa đầy trứng

F gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12 mm, u

lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có “vai” như loài

khác của giống Fasciola Hai rìa bên thân sán song song với nhau, đầu cuối của

thân tù Giác bụng tròn lồi ra Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn

Trang 13

đều phân nhánh Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ Kích thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm

Hình 2.1 Cấu tạo của sán lá gan lớn

Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:

* F gigantica (Linnaeus, 1758): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng,

“vai” không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang

* F hepatica (Linnaeus, 1758): Trái với loài trên, loài này thân rộng, đầu lồi

và nhô ra phía trước làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn

F hepatica (nghĩa là sán lá ở gan) dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần

trước thân nhô ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên Hai rìa bên thân sán không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành phần trước và phần sau thân Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân Tử cung ở phần giữa thân trước tạo nên một mạng lưới rối như tơ vò Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung

Trứng sán có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F gigantica, kích

thước 0,13 - 0,145 x 0,07 - 0,09 mm

Bệnh sán lá gan ở trâu, bò, dê do hai loài sán lá ký sinh ở ống dẫn mật và gan

gây ra (Fasciola hepatica và Fasciola gigantica) Ngoài trâu, bò, dê, hai loài sán

này còn gây bệnh cho các động vật nhai lại khác, đôi khi thấy cả ở người

Trang 14

F hepatica và F giantica là hai loài sán lá phổ biến ở các vùng thuộc châu

Á và châu Phi Theo Stemphenson (1947) và Urquhat (1956), tác hại của sán lá gan đối với gia súc nhai lại rất lớn, biểu hiện rõ nhất là gây thiếu máu, viêm và xơ gan khi gia súc bị nhiễm sán lá gan ở mức độ nặng

2.1.3 Vòng đời của sán lá Fasciola

Trong vòng đời phát triển, sán lá gan cần trải qua 5 giai đoạn Fasciola

trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê Sau khi thụ tinh, mỗi sán

đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân

ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước , nhiệt độ 15 - 30°C, pH = 5 - 7,7, có ánh sáng thích

hợp , sau 10 - 25 ngày trứng nở thành Miracidium bơi tự do trong nước Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ, Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và di chuyển được trong nước Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst) Những Miracidium không

gặp vật chủ trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết

Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng mỏng,

các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi Trong 1 ốc

có thể có 1 - 2 ấu trùng Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều

Redia (lôi ấu) Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu

Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản Có

hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ trung

gian Ở nhiệt độ 16°C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sản sinh Redia I và dừng phát triển

Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30°C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành vĩ ấu (Cercaria) Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria

Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân

hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành hai nhánh

Trang 15

Trong cơ thể Cercaria còn có những hạt Glycogen cung cấp năng lượng cho

hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho sự vận động không ngừng của đuôi Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu Theo một số ác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi trường nước Nhờ sự hoạt động tích cực của đuôi

mà vĩ ấu tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh, tạo thành kén (Adolescaria)

Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng

50 - 80 ngày Sau khi thành thục, Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi trường ngoài, bơi tự

do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều dài và 0,23 mm chiều rộng Sau

vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh Lúc này Cercaria đã biến thành Adolescaria

Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động Phôi có giác

miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết Adolescaria thường ở trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh Nếu trâu, bò, dê nuốt phải Adolescaria, vào đến dạ

dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng 3 con đường:

- Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột, qua tĩnh mạch cửa vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật

- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào xoang bụng, đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật

- Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật

Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán lá gan

trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời là 92 - 117 ngày Fasciola trưởng

thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của súc vật nhai lại 3 - 5 năm, có khi tới

11 năm

Theo Phan Địch Lân (2004) [10], khoa học thú y nước ta đã nghiên cứu thành công vòng đời của sán lá gan Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 - 30°C), có ốc vật

chủ trung gian (Lymnae swinhoei và Lymnae viridis), có vật chủ cuối cùng (trâu, bò,

dê, cừu) thì vòng đời của sán lá gan ở nước ta được xác định với các mức thời gian sau:

Trang 16

- Ở ngoài thiên nhiên: trứng sán lá gan nở thành mao ấu (Miracidium) trong

khoảng 14 - 16 ngày

- Ở trong ốc vật chủ trung gian:

Mao ấu (Miracidium) phát triển thành bào ấu (Sporocyst) cần 7 ngày

Bào ấu (Sporocyst) phát triển thành lôi ấu (Redia) cần 8 - 21 ngày

Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (Cercaria) non cần 7 - 14 ngày, thành vĩ

ấu trưởng thành cần 13 - 14 ngày

- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria)

sau 2 giờ

- Ở trâu, bò: khi trâu bò, bê nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88 ngày trong

ống dẫn mật của trâu bò đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài

Điều kiện nhiệt độ và ẩm độ của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và gây bệnh của sán lá gan (kể cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên) Ở những vùng có mầm bệnh tồn tại, cứ trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong cơ thể trâu, bò, nghĩa là trong trâu bò lại tạo ra một đời sán mới Con vật trong khi đã có sán lá gan ký sinh lại tiếp tục nhiễm thêm mầm bệnh mới, gây tình trạng bội nhiễm sán lá gan, vì vậy cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi trâu, bò

Hình 2.2 Vòng đời của sán lá gan

Trang 17

2.1.4 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola

Bệnh sán lá gan phổ biến ở khắp các châu lục và nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước

Trịnh Văn Thịnh (1978) [20] cho biết, trâu trưởng thành mắc bệnh sán lá gan

do F gigantica, tỷ lệ nhiễm tới 50 - 70% Theo Phan Địch Lân (1980) [8], mổ

khám 1043 trâu ở Thái Nguyên, số trâu nhiễm sán lá gan là 57%, trong đó có nhiều gan phải huỷ bỏ do số lượng sán quá nhiều Kết quả điều tra ở huyện Bình Lục - Nam Hà, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu là 51,2 - 57,5%

Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [16] cho biết, trâu bò thuộc khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan tỷ lệ 53,41%

Kết quả kiểm tra trâu, bò ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 44,53% Trong đó, trâu nhiễm 33,92%, bò nhiễm 54,21% (Lương Tố Thu và cs, 1996) [21]

Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở gia súc nhai lại phụ thuộc vào những yếu tố sau:

- Yếu tố thời tiết, khí hậu và mùa vụ:

Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan Điều kiện ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinh sản thuận lợi

Trịnh Văn Thịnh (1963) [19], Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [20], Phạm Văn Khuê và cs (1996) [2], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [4] , đều cho biết, gia súc nhai lại nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển Những năm mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo

và khô hạn Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu Mùa hè thu, số gia súc

bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác trong năm Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường phát ra

- Yếu tố vùng và địa hình:

Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt chẽ với nhau Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau Địa hình là yếu tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng

Trang 18

Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đều thuộc bốn loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi

Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần đối với đàn gia súc nhai lại ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi Về nguyên nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả (Trịnh Văn Thịnh, 1963 [19]; Phạm Văn Khuê và

cs, 1996 [2]; Kaufmann J, 1996 [31]) đều giải thích: vùng đồng bằng có nhiều hồ,

ao, kênh, có điều kiện cho ốc - vật chủ trung gian sống và sinh sản Các kiểu địa hình khác thì vấn đề này hạn chế hơn so với đồng bằng

- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng:

Súc vật nhai lại đã được thuần hoá như trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán lá

gan Fasciola Ngoài ra, súc vật hoang dã cũng nhiễm sán lá này (hươu, nai, hoẵng ) Cũng có những trường hợp thỏ, ngựa, lợn nhiễm Fasciola, ngay cả người

cũng có thể nhiễm sán

Ở nước ta, theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [20], Phạm Văn Khuê và cs

(1996) [2], loài súc vật nhiễm sán lá Fasciola nhiều nhất là trâu (79,6%), bò ít hơn

(36%), dê ít nhất (20%) Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều là do đặc tính ưa nước của chúng (thích ăn gần chỗ có nước, đằm tắm trong nước và uống nước ở vũng, ao, kênh rạch), trong khi đặc điểm của bò và dê ít ưa nước hơn

Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ, các tác giả đều thống nhất rằng, tuổi súc vật càng cao thì tỷ lệ và cường độ nhiễm càng tăng lên Một điều dễ nhận thấy là, súc vật tuổi càng tăng lên (thời gian sống càng dài) thì

sự tiếp xúc với môi trường ngoại cảnh càng nhiều, cơ hội gặp và nuốt phải nang ấu

(Adolescaria) càng cao Mặt khác, sán Fasciola trưởng thành có thời gian ký sinh ở

súc vật nhai lại tương đối dài (3 - 5 năm, thậm chí tới 11 năm) Đó chính là cơ sở

khoa học giải thích cho quy luật nhiễm theo tuổi vật chủ của sán lá Fasciola spp

Phan Địch Lân (2004) [10] cho biết, trâu dưới 3 năm tuổi chỉ nhiễm sán lá gan 17,2 - 22,0%; trâu 3 - 5 năm tuổi nhiễm sán lá gan 31,2 - 40,2%, trâu 5 - 8 năm tuổi nhiễm 42,4 - 57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm 56,8 - 66,3%, trâu ở độ tuổi phế canh

Trang 19

(loại thải) khi mổ khám thấy tỷ lệ nhiễm cao tới 84,6% (những trâu này bị bệnh rất nặng, gan phải huỷ bỏ toàn bộ do có quá nhiều sán ký sinh) Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2000) [5] tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan cũng tăng lên theo tuổi dê

Nguồn gieo rắc bệnh chủ yếu là súc vật nuôi (trâu, bò, dê, cừu ) và những

dã thú mang Fasciola Trứng sán lá gan theo phân của súc vật ra ngoài tự nhiên

Hàng năm, mỗi sán lá gan ký sinh đẻ khoảng hàng chục vạn trứng Vì vậy, mỗi súc vật mang sán hàng năm thải khối lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ và các bãi chăn thả Những đồng cỏ ẩm thấp, lầy lội là những nơi cần thiết để mầm bệnh phát triển

và xâm nhập vào súc vật, đồng thời thuận lợi cho trứng nở thành Miracidium và thuận lợi cho vật chủ trung gian của Fasciola tồn tại và phát triển

- Vật chủ trung gian của Fasciola spp

Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc vào các vùng địa lý khác nhau Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [2], Kaufmann J (1996)

[31], vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt họ Lymnaea: L

auricularia, L swinhoei, L viridis, Galba truncatula, Radix ovata

Theo Jorgen Hansen và cs (1994) [30], nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của ốc là 15 - 26°C, khi ở nhiệt độ này chúng đẻ số lượng trứng rất lớn Trứng

nở trong vòng 2 tuần và sau 1 tháng thành ốc trưởng thành Một con ốc trong vòng

10 - 12 tuần có thể sinh sản ra hàng ngàn con ốc Ở dưới 10°C, ốc không phát triển

và ngừng hoạt động Tuy nhiên, ốc có thể chui vào bùn và sống trong điều kiện bất lợi nhiều tháng

Phan Địch Lân và cs (1985) [19] đã khảo sát đặc điểm sinh học của ốc - vật

chủ trung gian của F gigantica ở miền Bắc Việt Nam Tác giả cho biết, vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống Lymnae với tên gọi là ốc vành tai (L swinhoei) và ốc chanh (L viridis) Loài L swinhoei có vỏ

mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng xoắn cuối cùng rất lớn,

chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai Loài L viridis cũng có vỏ mỏng,

không có nắp miệng, dài 10 mm, vỏ dễ vỡ, có 4 - 5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn Năm 2009,Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tìm thấy 3 loài ốc sau:

Trang 20

Phan Địch Lân (2004) [10] cho biết: ốc L swinhoei phân bố nhiều hơn ở vùng đồng bằng, trong khi ốc L viridis phân bố nhiều hơn ở vùng núi, trung du và

ven biển Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì hai loài ốc này đều xuất hiện trong

cả 12 tháng của năm, nhưng mật độ (tính trên 1 m2) khác nhau theo vùng: vùng đồng

bằng, mật độ ốc L swinhoei cao hơn và phân bố đều trong năm, còn ốc L viridis

thì xuất hiện với mật độ cao hơn ở các vùng núi, trung du, ven biển Từ đó, tác giả

nhận xét rằng, L swinhoei chịu nước hơn, còn L viridis chịu cạn hơn

Sự tồn tại và phát triển quanh năm ở tất cả các vùng của ốc - vật chủ trung gian là điều kiện quan trọng nhất làm cho tỷ lệ nhiễm sán lá gan của súc vật nhai lại

ở nước ta cao và phổ biến ở tất cả các vùng Phan Địch Lân (2004) [9] đã tổng hợp

và cho biết, nước ta được xếp vào một trong 5 nước ở châu Á trồng lúa nước có đàn trâu, bò nhiễm bệnh sán lá gan với tỷ lệ cao nhất

Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [3], giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của

ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò có mối tương quan thuận, nghĩa là, nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọt cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò ở khu vực đó cũng cao

- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan:

Trứng sán lá gan được thải theo phân súc vật nhai lại ra môi trường ngoại cảnh Trứng sán rất nhậy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bị chết sau 8 - 9 ngày

Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng,

Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 - 1,5 ngày Ở môi trường ẩm ướt, trứng có

khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng) Dưới ánh nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh Phôi bị chết sau 2 ngày ở nhiệt độ thấp (-5°C

 - 15°C) Nhiệt độ 10 - 20°C, trứng ngừng phát triển Nhiệt độ 40 – 50°C, phôi chết sau vài phút (Phạm Văn Khuê và cs, 1996) [2]

Trang 21

2.1.5 Bệnh lý và lâm sàng bệnh ở trâu, bò

* Bệnh lý của bệnh sán lá gan trâu, bò:

Theo các nhà ký sinh trùng học, sán lá gan gây bệnh ở vật chủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt dinh dưỡng và tác động mang trùng Khi súc vật mới nhiễm bệnh, sán non di hành trong cơ thể làm tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan Một số ấu trùng có thể theo máu di chuyển “lạc chỗ” đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến tuỵ , gây tổn thương và xuất huyết nặng hoặc nhẹ Sán non xuyên qua các nhu mô gan, làm tổ chức gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy máu và mảnh tổ chức gan bị phá huỷ Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tuỳ theo số lượng ấu trùng nhiễm vào cơ thể Súc vật bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu

Tác động cơ giới của sán còn tiếp tục khi sán đã vào ống dẫn mật, tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán trưởng thành Sán trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống mật bằng các gai cutin trên cơ thể, gây viêm ống mật Số lượng sán nhiều có thể làm tắc ống mật, mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đảm

Trong quá trình ký sinh, sán thường xuyên tiết độc tố Độc tố tác động vào thành ống mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá trình viêm Đồng thời, độc tố của sán còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm Albumin giảm, Globulin tăng Độc tố của sán còn làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan) Độc tố của sán còn tác động vào thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo )

Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm của thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thấm nhiễm huyết thanh và tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc theo các vách ngăn của tiểu thùy gan

và quanh ống mật, vì vậy những ống mật này cũng dày lên Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào tổ chức tăng sinh, thay thế những tế bào nhu mô gan, gây hiện

Trang 22

tượng xơ gan và teo gan Khi súc vật nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của gan, làm cho chức năng của gan bị phá huỷ Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ chướng, xoang phúc mạc tích nước

Một tác động quan trọng của Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là chiếm đoạt

dinh dưỡng Dinh dưỡng của sán lá gan là máu súc vật mà nó ký sinh

Bằng phương pháp phóng xạ, người ta đã thấy mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2 ml máu mỗi ngày Như vậy, nếu súc vật nhiễm ít sán thì vai trò chiếm đoạt dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu mỗi súc vật có hàng trăm, hàng nghìn sán ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều

Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán non còn mang theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây những bọc

mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm khác

Tất cả những tác động kể trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề kháng của

cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làm cho các bệnh đang có trong cơ thể súc vật nặng thêm lên

* Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò:

Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây bệnh

của sán Fasciola Triệu chứng ở trâu, bò biểu hiện nặng hay nhẹ còn phụ thuộc

vào cường độ nhiễm sán, tình trạng sức khoẻ và tuổi súc vật, tình trạng chăm sóc quản lý

- Thể cấp tính thường gặp ở trâu, bò 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê và cs, 1996) [2]) , trong giai đoạn sán non di hành hoặc khi nuôi dưỡng, chăm sóc kém

Súc vật biểu hiện: ăn uống sút kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy, miệng hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng thần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo) Súc vật có thể chết do xuất huyết nặng, trúng độc và suy nhược

cơ thể

- Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bò trưởng thành, khi súc vật được nuôi dưỡng tốt và sán đã ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật với số lượng ít Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng

Trang 23

Súc vật biểu hiện: ăn uống kém, suy nhược, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù và

dễ rụng (nhất là lông ở vùng dọc hai bên sườn và dọc xương ức) Xuất hiện thuỷ thũng ở mí mắt, yếm, ngực, bộ phận sinh dục Thuỷ thũng ban đầu lúc thấy, lúc không, về sau thấy liên tục Con vật nhai lại yếu, khát nước, ỉa chảy xen kẽ táo bón, gày yếu dần Giai đoạn sau đi tháo nhiều hơn và gày rất nhanh Kiểm tra lâm sàng thấy gan sưng to và đau Có thể thấy hiện tượng sảy thai ở bò cái bị bệnh, lượng sữa

có thể giảm 30 - 50% Triệu chứng thần kinh cũng có thể gặp song rất hiếm Bệnh kéo dài nhiều tháng, con vật có thể chết do suy nhược toàn thân

Phan Địch Lân (2004) [10] đã theo dõi 37 trâu bị bệnh sán lá gan nặng, thấy các triệu chứng thường lặp đi lặp lại như: gày rạc, suy nhược cơ thể (37/37); phân nhão không thành khuôn, có lúc ỉa lỏng (32/37); niêm mạc mắt nhợt nhạt, thiếu máu kéo dài (27/37); lông xù, da mốc, lông dễ rụng (26/37); phân đen, thối khắm (22/37); mắt sâu, có dử (18/37); bụng ỏng, ỉa chảy kéo dài (13/37); thuỷ thũng ở nách, hai chân trước, gan to (11/37); thuỷ thũng ở ngực, ức liên tục (9/37)

Nhìn chung, khi súc vật bị bệnh sán lá gan kéo dài, cơ thể suy nhược nặng, nếu không được điều trị kịp thời thì súc vật thường chết

* Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan:

Tuỳ theo mức độ nhiễm sán mà bệnh tích có sự khác nhau

Đối với trâu bò nhiễm sán nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp tính, gan sưng to, màu nâu sẫm, sung huyết Trên mặt gan có thể thấy những đường di hành của sán non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4 mm, trong có sán non với số lượng nhiều Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắt nhợt nhạt

Ở những súc vật nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những chỗ mô gan bị phá huỷ có sẹo mầu vàng xám Gan xơ cứng, niêm mạc ống dẫn mật dầy, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống Lòng ống dẫn mật giãn rộng, chứa đầy

dịch màu nâu và sán Fasciola Khi ống mật bị canxi hoá nhiều, sán ở chỗ đó thường

bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn

Trang 24

Ngoài gan và ống mật, đôi khi còn thấy sán ở phổi trâu, bò Trường hợp này sán ở trong những bọc bằng quả trứng gà hoặc nhỏ hơn, trong chứa dịch màu nâu

Quan sát biến đổi vi thể dưới kính hiển vi thấy: nhu mô gan mất màu, liên bào ống mật thoái hoá, niêm mạc tăng sinh thành những u, trong u chứa nhiều bạch cầu, lâm ba cầu, bạch cầu ái toan, đại thực bào chứa đầy sắc tố mật và máu Quá trình viêm tăng sinh lan xuống lớp sâu hơn của ống mật: tổ chức liên kết tăng sinh, lan vào các thuỳ gan làm tan biến tổ chức gan (Phạm Văn Khuê và cs, 1996) [2]

Nguyễn Thị Kim Thành và cs (1996) [18] đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh

lý máu của trâu bị bệnh sán lá gan, kết quả thấy: số lượng hồng cầu giảm, hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, công thức bạch cầu thay đổi nghiêng về bạch cầu ái toan

2.1.6 Chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra

Việc chẩn đoán có thể tiến hành trên súc vật còn sống hoặc đã chết Tuỳ điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp

* Đối với súc vật còn sống:

Để chẩn đoán bệnh do Fasciola gây ra, thường áp dụng các biện pháp như:

chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch tễ học, xét nghiệm phân con vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học

Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường thấy nhất là: kiệt sức, suy nhược, rụng lông, phù thũng ở ngực, ức tuy nhiên, các biểu hiện trên không chỉ

thấy ở bệnh do Fasciola gây nên Vì vậy, triệu chứng lâm sàng không phải là căn cứ

duy nhất để kết luận bệnh

Những dẫn liệu dịch tễ học của bệnh cần xem xét là: yếu tố mùa vụ, vùng và tuổi súc vật bệnh Song, những dẫn liệu này chỉ là những thông tin cần xem xét trong chẩn đoán chứ không phải là sở cứ quan trọng nhất trong chẩn đoán

Việc xét nghiệm phân tìm trứng Fasciola là biện pháp có tính quyết định

trong chẩn đoán Thường dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [2] phương pháp này phổ biến nhưng chưa phát hiện được tất cả

Trang 25

mọi gia súc nhiễm sán Fasciola, nhất là ở những súc vật nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán còn non Khi xét nghiệm phân, cần phân biệt trứng Fasciola với trứng

Paramphistomum ký sinh ở dạ cỏ (phân biệt về màu sắc, hình dạng, tế bào noãn

hoàng và kích thước)

Phương pháp miễn dịch học để phát hiện súc vật nhiễm Fasciola đã được sử

dụng là: dùng kháng nguyên tiêm nội bì, căn cứ vào phản ứng ở nơi tiêm để kết luận Các phương pháp khác như: phương pháp miễn dịch men ELISA, phương pháp miễn dịch huỳnh quang Tuy nhiên, do khó khăn về phương tiện và việc chế kháng nguyên chuẩn nên các phương pháp này còn ít được dùng trong bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán lá gan nói riêng

* Đối với súc vật chết:

Khi súc vật chết, mổ khám tìm sán Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và trưởng

thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng phương pháp này chính xác hơn cả, vì

tìm thấy cả sán non ở giai đoạn di hành

2.1.7 Phòng và trị bệnh

* Điều trị bệnh:

Hiện nay, có thể tẩy sán lá gan cho súc vật nhai lại bằng một trong các loại

thuốc sau:

- Thuốc Dertil: Dertil là thuốc có tác dụng đặc hiệu với sán lá gan Fasciola

Tên khác: Menichlofolan, Bayer ME 3625, Bayer 9015ª

Dertil có tác dụng diệt sán lá gan trưởng thành ở gia súc nhai lại, với liều cao còn diệt được cả sán non đang di hành trong nhu mô gan Thuốc chỉ cần dùng một lần, không cần điều trị lặp lại Được chỉ định điều trị bệnh sán lá gan cấp tính và mãn tính cho gia súc nhai lại

- Thuốc Fasciolid (tên khác: Fasciolidum):

Thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch màu vàng nâu, chứa 25% hoạt chất

là Nitroxynil

Trang 26

Fasciolid có tác dụng tẩy sán lá gan Fasciola dạng trưởng thành và các giun

tròn đường tiêu hoá loài nhai lại, được chỉ định tẩy sán lá gan cho gia súc nhai lại

Liều lượng: 0,04 ml/kgTT (1 ml/25 kg TT, tương đương 1 mg hoạt chất/kg TT) Tiêm dưới da

Để tẩy sán lá gan, nên dùng thuốc 2 - 3 lần, cách nhau 25 - 30 ngày

- Thuốc Tolzan - F (chế phẩm của Oxyclozanid), được bào chế dưới dạng dung dịch hoặc viên nén, dùng với liều 10 - 11 mg/kg TT Thuốc có tác dụng đặc

hiệu với sán Fasciola trưởng thành và sán non ở trâu, bò, dê, cừu

Hiện nay, trên thị trường thuốc thú y thấy phổ biến thuốc Tolzan - F dạng

viên nén, cho uống tẩy sán Fasciola với liều 1 viên (1000 mg)/90 - 100 kg TT

Tolzan - F đã được sử dụng cho trâu, bò ở nước ta, song chưa có kết quả nghiên cứu thử nghiệm tẩy sán lá gan cho dê, vì vậy cần thử nghiệm trước khi dùng đại trà

- Thuốc Fasinex (chế phẩm của Triclabendazol): thuốc có tác dụng diệt cả sán non và sán trưởng thành ở ống dẫn mật hoặc đang di hành trong các nhu mô gan Fasinex được chỉ định dùng điều trị bệnh sán lá gan cho súc vật nhai lại Liều lượng: 10 - 12 mg/kg TT Cho uống một lần duy nhất Thuốc có hiệu lực cao và an toàn cho gia súc dùng thuốc

Ngoài các thuốc trên, Albendazol, Bithionol, Closantel cũng có tác dụng

tẩy sán lá Fasciola ở súc vật nhai lại

Lương Tố Thu và cs (1997) [22] đã nhận định về các thuốc trị sán lá gan và kết quả thử nghiệm ở trâu, bò Việt Nam Các tác giả khuyến cáo rằng, trên thị trường Việt Nam hiện nay nên sử dụng Fasinex - 900 dạng viên (1 viên/75 - 100 kg TT) hoặc Fasinex - 900 dạng sữa (10 ml/100 kg TT), cho hiệu lực cao

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2000) [5] đã thử nghiệm một số thuốc tẩy sán lá gan cho dê địa phương ở tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, kết quả thấy: thuốc Dertil (liều 5 - 8 mg/kg TT) có tác dụng tẩy sạch 100% và an toàn đối với dê; thuốc Fasciolid (liều 0,04 ml/kg TT) có hiệu lực tẩy sạch là 95% và tương đối an toàn cho dê; thuốc Vermitan (chứa 20% Albendazol, liều 35 mg/kg TT) đạt hiệu lực tẩy sạch

Trang 27

và an toàn đều là 100%, ngoài ra Vermitan còn có tác dụng tẩy cả sán dây và giun tròn ở dê

* Phòng bệnh: Cơ sở khoa học đề ra quy trình phòng ngừa tổng hợp bệnh

sán lá gan cho súc vật nhai lại là: phải nắm được cụ thể chu kỳ sinh học của sán

Fasciola, sinh học của ốc - vật chủ trung gian và tình hình dịch tễ của bệnh

Biện pháp phòng ngừa tổng hợp gồm:

- Định kỳ tẩy sán lá gan cho súc vật nhai lại để ngăn chặn mầm bệnh phát tán rộng rãi, đồng thời phòng ngừa cho súc vật không bị tái nhiễm Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [2], hàng năm nên tẩy sán cho toàn đàn ít nhất 2 lần, lần đầu vào mùa xuân (trước mùa vật chủ trung gian phát triển), lần thứ hai vào cuối mùa thu nhằm diệt những sán đã nhiễm trong vụ Xuân - Hè, ngăn ngừa bệnh phát ra ở mùa đông Trên những đồng cỏ có căn bệnh tiềm tàng, có thể tiến hành chăn dắt luân phiên giữa súc vật mẫn cảm (trâu, bò, dê, cừu) với những súc vật ít khả năng cảm nhiễm (ngựa)

- Ủ phân theo phương pháp sinh học, lợi dụng quá trình lên men sinh nhiệt các chất hữu cơ trong phân của hệ vi sinh vật để tiêu diệt trứng sán lá gan trong phân súc vật nhai lại Biện pháp này có hiệu quả và đơn giản nhất để phòng bệnh do

sán Fasciola gây ra

- Xử lý các cơ quan có sán ký sinh: nếu gan nhiễm nhiều sán phải huỷ bỏ (chôn, rắc vôi bột, đốt) hoặc không huỷ bỏ mà để lại chế biến chín làm thức ăn gia súc

- Diệt vật chủ trung gian của sán lá Fasciola: tháo cạn nước, làm khô những

đồng cỏ, bãi chăn lầy lội, ẩm ướt Dùng một số chất hoá học có khả năng diệt ốc (vôi bột, sulfat đồng ), đẩy mạnh chăn nuôi thuỷ cầm (vịt, ngan, ngỗng) và cá trắm đen

- Tăng cường vệ sinh thức ăn, nước uống Không chăn thả súc vật nhai lại ở những bãi chăn lầy lội, ẩm thấp Nếu khó khăn về bãi chăn thả thì chỉ chăn ở bãi chăn lầy lội, ẩm ướt 1,5 - 2 tháng, rồi phải chuyển sang chăn ở bãi khác Nếu lấy cỏ

ở những chỗ ẩm ướt thì phải cắt cao hơn mặt nước để tránh Adolescaria, sau đó

Trang 28

phơi khô, bảo quản trong 6 tháng rồi cho gia súc ăn Nguồn nước uống phải sạch,

không có vật chủ trung gian và Adolescaria

2.2 Thông tin về một số loại chế phẩm sinh học xử lý phân trâu, bò

Trâu, bò là gia súc ăn cỏ, hàng ngày chúng thải một lượng phân khá lớn ra môi trường (15 - 20 kg phân/con/ngày) Chúng tôi đã khảo sát và thấy rằng, trong quá trình chăn nuôi, việc quản lý và sử dụng phân trâu, bò ở các địa phương trong tỉnh còn nhiều bất cập Tình trạng phân trâu, bò vương vãi ở xung quanh chuồng và trên khu vực chăn thả rất phổ biến, từ đó tạo ra nhiều khí độc, đồng thời phân trâu, bò còn mang nhiều loại vi khuẩn và trứng giun, sán, trong đó có trứng sán lá gan Khi trứng sán lá gan ô nhiễm ở môi trường chăn nuôi và môi trường sống của con người sẽ phát triển thành ấu trùng có sức gây bệnh, từ đó dễ nhiễm vào trâu, bò, người và gây bệnh

Trong những năm gần đây, các loại chế phẩm sinh học đã được sản xuất và sử dụng trong việc xử lý phân gia súc, gia cầm, rác thải, phế thải nông nghiệp làm phân bón hữu cơ và làm giảm ô nhiễm môi trường Trong đó có 3 loại chế phẩm là: EMUNIV, EMIC và EMZEO

* Chế phẩm EMUNIV:

Xuất xứ: Công ty cổ phần VI SINH ỨNG DỤNG

Quy cách: Gói 200 gram

Hình 2.3 Chế phẩm EMUNIV

Thành phần:

+ Bacillus subtillis: 108CFU/g

+ Bacillus licheniformis: 107CFU/g

+ Bacillus megaterium: 107CFU/g

Trang 29

+ Lactobacillus acidopphilus: 108CFU/g

+ Lactobacillus plantarum: 108CFU/g

+ Streptomyces sp: 107CFU/g

+ Saccharomyces cereviseae: 107CFU/g

* Chế phẩm EMIC:

Hình 2.4 Chế phẩm EMIC

Thành phần: EMIC là tập hợp đa chủng vi sinh vật hữu ích thuộc các giống

Bacillus, Lactobacillus, Streptomyces, Saccharomyces… Có khả năng phân giải

mạnh các chất hữu cơ, sinh chất kháng sinh, ức chế và tiêu diệt các vi sinh vật có hại, được dùng xử lý phân gia súc gia cầm, rác thải, phế thải nông nghiệp làm phân bón hữu cơ và xử lý ô nhiễm môi trường

Tác dụng:

- Phân giải nhanh chóng phân gia súc, gia cầm, phế thải nông nghiệp thành các chất dinh dưỡng cho cây trồng

- Chuyển hóa phân chuồng khó tiêu thành dạng dễ tiêu

- Tạo chất kháng sinh để tiêu diệt một số vi sinh vật có trong phân và vi sinh vật gây bệnh cho cây trồng

- Làm mất mùi hôi thối của phân chuồng do ức chế sinh trưởng của các vi sinh vật gây thối

- Hình thành các chất kích thích sinh trưởng thực vật, giúp cây phát triển tốt

Trang 30

* Chế phẩm EMZEO:

Chế phẩm vi sinh EMZEO còn được gọi là loại chế phẩm EM dạng bột - chế phẩm vi sinh xử lý chất thải hữu cơ: phân trâu bò, lợn, gà; rác, rơm rạ,… Trong chế phẩm sinh học EMZEO chứa rất nhiều loại vi sinh vật có khả năng phân giải các hợp chất hữu cơ như: Protein, lipit, glucid, xenluloz, tinh bột, pectin…

Hình 2.5 Chế phẩm EMZEO

Chế phẩm vi sinh EMZEO là sản phẩm được nghiên cứu, sản xuất và phân phối độc quyền bởi Trung tâm phân phối chế phẩm sinh học trực thuộc Công ty TNHH Công nghệ sinh học Đức Bình Sản phẩm đã được cấp giấy chứng nhận và thẩm định chất lượng của cơ quan có thẩm quyền

Thành phần: EMZEO là chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu, chế phẩm vi sinh xử

lý phế thải hữu cơ Vì vậy trong sản phẩm chứa nhiều vi sinh vật hữu ích, chia ra làm các nhóm chính sau: nhóm vi sinh vật phân giải protein; nhóm vi sinh vật phân giải tinh bột; nhóm vi sinh vật phân giải cellulose, hemicellulose, lichenin (lignin, linhin); nhóm vi sinh vật phân giải lipit; nhóm vi sinh vật sinh ra các kích thích tố sinh học, kích thích sinh trưởng thực vật, kích thích cây trồng phát triển nhanh, khỏe mạnh, kháng sâu bệnh tốt; nhóm vi sinh vật sinh ra các chất kháng sinh, ức chế và tiêu diệt vi sinh vật

Như vậy, chế phẩm sinh học EMUNIV, EMIC và EMZEO đều được sản xuất từ những nhóm vi sinh vật hữu ích, song hiệu quả của chúng trong xử lý phân trâu, bò như thế nào? loại nào có tác dụng tốt hơn? Để trả lời câu hỏi này, từ đó có khuyến cáo cho người chăn nuôi trâu, bò loại chế phẩm có tác dụng tốt nên lựa chọn

sử dụng thì cần nghiên cứu và so sánh về tác dụng của 3 loại chế phẩm nói trên

Trang 31

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Bệnh sán lá gan ở trâu, bò (Fasciolosis) là bệnh ký sinh trùng phổ biến và gây

thiệt hại rất lớn về kinh tế cho ngành chăn nuôi trâu, bò trên toàn thế giới Trong những năm gần đây, bệnh sán lá gan ở trâu, bò đang trở nên phổ biến và gia tăng do

sự thay đổi khí hậu và sự di cư của động vật từ vùng này sang vùng khác

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2] vật chủ trung gian của sán lá

Fasciola là các loài ốc nước ngọt họ Lymnaea như L auricularia, L swinhoei, L viridis, L truncatula, Radix ovata

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2] phương pháp xét nghiệm phân

không phát hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm sán Fasciola, nhất là ở những súc vật

nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán còn non Khi xét nghiệm phân, cần phân biệt trứng

Fasciola với trứng Paramphistomum ký sinh ở dạ cỏ để có kết quả chẩn đoán

chính xác

Về lâm sàng, dê bị bệnh sán lá gan thể hiện hai thể: thể cấp tính, diễn ra chủ yếu ở giai đoạn sán non di hành; thể mãn tính thường ở dê trưởng thành Con vật ăn kém, cơ thể suy nhược, không theo kịp đàn Con vật thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, lông xù và dễ nhổ Triệu chứng ỉa chảy thấy ở 100% dê bệnh với các mức độ khác nhau Thuỷ thũng ở ngực, bụng và 4 chân (Nguyễn Thị Kim Lan và cs., (1999) [4]

Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), ấu trùng Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst) Theo Phan Địch Lân (2004) [10], ký chủ trung gian của sán lá F gigantica ở Việt Nam là hai loài ốc

Lymnaea swinhoei (ốc vành tai) và Lymnaea viridis (ốc hạt chanh) Hai loài ốc này

thường sống trong các ao, hồ, mương, rãnh, các chân ruộng mạ có nước xâm xấp, các thửa ruộng cấy lúa nước, các vũng trên đồng cỏ, các khe lạch, các chân ruộng bậc thang, khe suối ở miền núi

Nguy hiểm hơn, bệnh sán lá gan ở trâu, bò còn truyền lây sang người gây viêm gan, xơ gan, thậm chí biến chứng ung thư gan ở người Theo Mas - Coma S

Trang 32

và cs (2009) [33], ước tính có khoảng 2,4 - 17 triệu người trên thế giới bị nhiễm

một hoặc cả hai loài sán F hepatica và F gigantica

Võ Thị Hải Lê (2010) [12] đã xét nghiệm 269 mẫu phân trâu, bò (150 trâu,

119 bò) tại 2 huyện thuộc tỉnh Nghệ An, thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 61,6% ở trâu

và 26,86% ở bò Mổ khám 150 trâu và 131 bò, kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm ở trâu

là 67,76%, ở bò là 30,68% Gia súc càng già tỷ lệ nhiễm sán lá Fasciola spp

càng cao

Vấn đề nghiên cứu chế tạo vắc xin phòng bệnh sán lá Fasciola đã được

nghiên cứu nhằm phục vụ công tác phòng bệnh cho súc vật nhai lại Đã có một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề vắcxin phòng bệnh Tuy nhiên, hiệu quả phòng bệnh của vắc xin chưa cao Mặc dù vậy, việc nghiên cứu về vắc xin

phòng bệnh sán lá Fasciola vẫn có nhiều hứa hẹn trong tương lai (Nguyễn Khắc

Lực, 2010) [14]

Nguyễn Hữu Hưng (2011) [1] cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan qua kiểm tra phân của đàn bò tại 3 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) khá cao (51,91%), trong đó bò ở tỉnh Sóc Trăng có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (49,45%), kế tiếp là Đồng Tháp (53,31%) và cao nhất là ở bò tỉnh An Giang (53,45%) Bò địa phương (58,68%) có tỷ lệ nhiễm cao hơn bò lai Sind (51,01%) và nhiễm thấp nhất ở bò sữa (37,11%) Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi bò, thấp nhất ở lứa tuổi < 1 năm tuổi (30,43%) và nhiễm cao nhất ở bò trên 2 năm tuối (62,81%) Có trứng của 2 loài sán

lá gan: Fasciola spp và Paramphistomum Nghiên cứu bệnh tích vi thể của gan nhiễm sán lá Fasciola và cho biết: có nhiều sán non cư trú trong nhu mô gan, số

lượng ống dẫn mật tăng sinh; nhu mô gan xuất huyết, ứ huyết; gan vàng, một số vùng trên nhu mô gan bị hoại tử; xuất hiện các ổ mủ trong nhu mô gan, các hạt mỡ

to nhỏ chứa đầy trong tế bào gan; trong nhu mô gan xuất hiện các tổ chức xơ

Nguyễn Thị Kim Lan (2014) [8] đã mổ khám 450 con trâu và 60 con bò ở 3 tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn thu được 4.158 sán lá gan, tỷ lệ nhiễm ở trâu là 58,67% và 36,67% ở bò Đã sử dụng phương pháp định loại thường quy kết

Trang 33

hợp với phương pháp sinh học phân tử để nhận biết và phân loại sán lá Kết quả là

4.158 sán lá gan tìm thấy đều là loài Fasciola gigantica

Hà Huỳnh Hồng Vũ và cs (2015) [24] 476 mẫu sán lá gan lớn đã được thu thập từ 88 con bò nhiễm sán tại các lò mổ của tỉnh Đồng Tháp Các mẫu sán này được giám định thành phần loài dựa vào hình thái học và kỹ thuật sinh học phân tử

Về hình thái học: Tuy được phân chia thành 5 nhóm kiểu hình khác nhau, nhưng dựa vào đặc điểm hình thái cho thấy các mẫu trên đều thuộc loài Fasciola gigantica Bằng kỹ thuật sinh học phân tử PCR-RFLP (PCR đoạn gene ITS1, và sử dụng enzyme cắt giới hạn RSaI) cho thấy 40/40 mẫu đại diện cho 5 nhóm kiểu hình đều

là loài Fasciola gigantica Kết quả giải trình tự đoạn ITS1 cho kết quả hoàn toàn trùng khớp với kết quả phân tích PCR-RFLP Chính vì vậy, PCR-RFLP là kỹ thuật sinh học phân tử có hiệu quả trong việc định danh loài Fasciola Đây cũng là lần đầu tiên Fasciola sp ký sinh trên bò ở Đồng bằng sông Cửu Long được giám định loài bằng kỹ thuật sinh học phân tử này

Đàm Văn Phải và cs (2019) [15] bệnh sán lá gan ở trâu, bò do loài sán lá có

tên là Fasciola hepatica và F gigantica ký sinh trong ông dân mật ở gan gây ra,

đây không chỉ là một bệnh nội ký sinh trùng gây nhiều thiệt hại cho ngành chăn nuôi trâu, bò do làm giảm năng suất thịt và sữa mà còn là bệnh truyền lây nguy hiểm giữa gia súc và người, đe dọa đến sức khoẻ cộng đồng Trong khoảng thời gian từ tháng 1/2017 đến tháng 3/2018, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu điều tra cắt ngang trên đàn trâu được chăn thả tại bãi bồi ven sông Hồng thuộc địa bàn quận Long Biên, Hà Nội Tổng số 130 cá thể trâu được xét nghiệm phân để xác định tỷ lệ

và cường độ nhiễm sán lá gan trên trâu theo lứa tuổi và giới tính Kết quả xét nghiệm đã xác định được 86 cá thể trâu bị nhiễm sán gan lớn (chiếm 66,2%), tỷ lệ nhiếm và cường độ nhiêm sán lá gan tăng dẫn theo độ tuổi của trâu, giới tính của trâu không ảnh hưởng đên tỷ lệ nhiêm, song có ảnh hưởng rõ rệt đến cường độ nhiễm sán lá gan giữa trâu đực và trâu cái

Phan Thị Hồng Phúc và cs (2020) [17] đã nghiên cứu một số đăc điểm dịch

tễ bệnh sán lá gan trên đàn bò nuôi tại tỉnh Hà Giang, kết quả cho thấy bò nuôi tại 3

Trang 34

huyện của tỉnh Hà Giang nhiễm sán lá gan thuộc loài F gigantica Tỷ lệ nhiễm sán

lá gan ở bò qua mô khám là 38,44%, cường độ nhiễm tính chung là 3 - 61 sán/bò

Tỷ lệ nhiễm qua xét nghiệm phân là 43,88%, tỷ lệ nhiễm biến động từ 42,82 - 45,21%, bò chủ yếu nhiễm ở cường độ nhẹ và trung bình Tỷ lệ nhiễm sán lá gan cao nhất vào mùa hè (57,09%), sau đó đến mùa thu (45,81%) và thấp nhất vào mùa xuân (31,79%) Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan tăng dần theo tuổi bò Bò dưới

2 năm tuổi nhiễm sán lá gan với tỷ lệ thấp nhất 31,65%; tỷ lệ nhiễm cao nhất ở bò trên 8 năm tuổi (64,29%) Bò dưới 5 tuổi có cường độ nhiễm nhẹ và trung bình là chủ yếu, cường độ nhiễm cao hơn ở bò trên 5 tuổi Tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm sán lá gan ở bò theo hình thức chăn nuôi khác nhau cũng khác nhau Ở hình thức nuôi nhốt, tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 22,89%, sau đó đến hình thức bán chăn thả (46,27%), cao nhất là hình thức chăn thả tư do (52,18%)

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Đối với khu vực Đông Nam Á, đặc biệt ở Việt Nam, tình hình nhiễm

Fasciola ở động vật nhai lại và người đang có chiều hướng gia tăng (Tran V H và

cs., 2001 [35]

Theo Boray J C (2011) [26], tỷ lệ nhiễm sán lá Fasciola thay đổi theo mùa

và phụ thuộc vào tình trạng quản lý gia súc, sự thiếu hụt dinh dưỡng của gia súc, vấn đề quản lý đồng cỏ và sự phát triển của ốc nước ngọt - vật chủ trung gian của

sán lá Fasciola

Theo Schweizer G và cs (2007) [34], Kozak M và Wedrychowicz H

(2010) [32], tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá F hepatica của ốc L truncatula ở Thụy Sĩ,

Tusinia và Ba Lan lần lượt là 7%, 19,2%, và 26,6%

Caron Y và cs (2014) [27] cho biết, tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá Fasciola spp.ở các loài ốc G truncatula và Radix spp ở Bỉ lần lượt là 1,31% và 0,16% Việc xét nghiệm phân của súc vật nhai lại tìm trứng sán lá Fasciola là biện pháp chẩn

đoán quan trọng nhất để xác định con vật có bị bệnh sán lá gan hay không Thường dùng phương pháp lắng cặn Benedek (1943)

Trang 35

Edith R và cs (2012) [28] đã thí nghiệm gây nhiễm với liều 800 Adolescaria của sán lá F gigantica/trâu cho 4 trâu Murrah 12 - 15 tháng tuổi tại Ấn Độ, sau đó

theo dõi sự biến đổi các chỉ tiêu sinh lý máu của trâu gây nhiễm Kết quả cho thấy, trâu thí nghiệm có hàm lượng bạch cầu và bạch cầu ái toan tăng, số lượng hồng cầu giảm, tốc độ lắng hồng cầu tăng lên rõ rệt so với nhóm trâu đối chứng

Foreyt W J và Drew M L (2010) [29] đã sử dụng thuốc triclabendazole

liều 40 mg/kg TT tẩy sán lá F hepatica cho 3 bò rừng Mỹ Quan sát sau điều trị

thấy bò đều an toàn, không có phản ứng sau dùng thuốc, hiệu quả tẩy sán cao

Trang 36

Phần 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Trâu, bò các lứa tuổi nuôi tại hộ/trại, hợp tác xã của 5 xã thuộc huyện Hàm

Yên - tỉnh Tuyên Quang: Bạch Xa, Thành Long, Minh Hương, Hùng Đức và

Tân Thành

- Bệnh sán lá gan ở trâu, bò

* Thời gian nghiên cứu: Từ 28/5/2020 đến 29/11/2020

* Địa điểm nghiên cứu:

- Địa điểm thu thập mẫu tại 5 xã: Bạch Xa, Thành Long, Minh Hương, Hùng Đức và Tân Thành, thuộc huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

Hình 3.1 Bản đồ địa chính huyện Hàm Yên – tỉnh Tuyên Quang

- Địa điểm xét nghiệm mẫu: Phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y - Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Ngày đăng: 16/02/2022, 16:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w