Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, nhu cầu của xã hội luôn có sự thay đổi và “nâng cấp” không ngừng. chính vì thế phải đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải có sự quan tâm thích đáng tới việc sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Cùng tìm hiểu Hoạt động sản xuất bánh kẹo trong năm của công ty bánh kẹo kinh Đô với các khâu cụ thể là: Dự báo Hoạch định Tổ chức sản xuất Cung ứng nguyên vật liệu Kiểm soát
Trang 1Đề tài : Hoạt động sản xuất bánh kẹo của công ty bánh kẹo kinh Đô
L i m đ u ờ ở ầ
Trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, nhu cầu của xã hội luôn
có sự thay đổi và “nâng cấp” không ngừng chính vì thế phải đòi hỏi các doanh nghiệpsản xuất kinh doanh phải có sự quan tâm thích đáng tới việc sản xuất và cung ứng hànghóa, dịch vụ Trong đó vấn đề cơ bản là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất nhưthế nào? mỗi doanh nghiệp, tùy thuộc vào đạc điểm, lợi thế trong kinh doanh để đápứng được nhu cầu xã hội, đưa doanh nghiệp mình đi lên và góp phần vào sự tăng trưởng,phát triển của nền kinh tế thị trường
Và hiện nay trên thị trường Việt Nam cũng đã xuất hiện rất nhiều các công ty lớn,phát triển không ngừng Một trong số đó phải kể đến công ty bánh kẹo Kinh Đô Tại sao
mà công ty này lại có chỗ đứng vững chắc trên thị trường như hiện tại? tại sao nó lại tăngđược doanh số bán cũng như lợi nhuận thu được vượt mức kế hoạch? Đó là cả một quátrình, là công sức của bao người, đặc biệt là các nhà quản trị cấp cao- họ luôn là nhữngngười tiên phong, phải tìm ra được sách lược, những bước đi đúng đắn và chính xác chocông ty Và cũng để làm rõ hơn cho những câu hỏi này, nhóm chúng tôi đã đi tìm hiểu đềtài: Hoạt động sản xuất bánh kẹo trong năm 2014 của công ty bánh kẹo kinh Đô với cáckhâu cụ thể là:
Trang 2CH ƯƠ NG 1 : T NG QUAN V QU N TR S N XU T Ổ Ề Ả Ị Ả Ấ
1.1 M t s khái ni m ộ ố ệ
1.1.1 Khái niệm về sản xuất
Hiện nay theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất (Production) được hiểu
là một quá trình (Process) tạo ra sản phẩm (Goods) hoặc dịch vụ (Services) Đối vớinhiều người, thuật ngữ sản xuất làm liên tưởng đến những hình ảnh về nhà xưởng, máymóc hay các dây chuyền lắp ráp Ở nước ta lâu nay có một số người thường cho rằng chỉ
có những doanh nghiệp chế tạo, sản xuất các sản phẩm vật chất có hình thái cụ thể như ximăng, TV, tủ lạnh, mới gọi là các đơn vị sản xuất Những đơn vị khác không sản xuấtcác sản phẩm vật chất đều xếp vào loại các đơn vị phi sản xuất
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, quan niệm như vậy không còn phù hợp nữa
1.1.2 Khái niệm về quản trị sản xuất
Quản trị sản xuất bao gồm các hoạt động tổ chức phối hợp sử dụng các yếu tố đầuvào nhằm chuyển hoá thành kết quả ở đầu ra là sản phẩm và dịch vụ với chi phí sản xuấtthấp nhất và hiệu quả cao nhất
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp thì quá trìnhsản xuất có khả năng tạo ra hiệu quả lớn nhất, vì quá trình sản xuất trực tiếp sử dụng cácyếu tố sản xuất, do đó quản trị sản xuất có tầm quan trọng đặc biệt đối với doanh nghiệp.Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và kiểmsoát hệ thống sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuất đã đề ra Hay nói cáchkhác, quản trị sản xuất là tổng hợp các hoạt động xây dựng hệ thống sản xuất và quản trịquá trình sử dụng các yếu tố đầu vào tạo thành các sản phẩm, dịch vụ ở đầu ra theo yêucầu của khách hàng nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định
Trang 31.2 L ch s phát tri n c a qu n tr s n xu t ị ử ể ủ ả ị ả ấ
Quản trị sản xuất trong thực tế đã xuất hiện từ thời cổ đại nhưng chúng chỉ được coi
là "các dự án sản xuất công cộng" chứ chưa phải là quản trị sản xuất trong nền kinh tế thịtrường
Quản trị sản xuất trong các doanh nghiệp với tư cách là đơn vị sản xuất hàng hóatham gia kinh doanh trên thị trường mới chỉ xuất hiện gần đây Bắt đầu từ cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ nhất vào những năm 1770 ở Anh Thời kỳ đầu trình độ pháttriển sản xuất còn thấp, công cụ sản xuất đơn giản, chủ yếu lao động thủ công và nửa cơkhí Hàng hóa được sản xuất trong những xưởng nhỏ Các chi tiết bộ phận chưa tiêuchuẩn hoá, không lắp lẫn được Sản xuất diễn ra chậm, chu kỳ sản xuất kéo dài, năng suấtrất thấp Khối lượng hàng hoá sản xuất được còn ít Khả năng cung cấp hàng hoá nhỏ hơnnhu cầu trên thị trường
Từ sau những năm 70 của thế kỷ XVIII, những phát minh khoa học mới liên tục rađời, trong giai đoạn này đã tạo ra những thay đổi có tính cách mạng trong phương phápsản xuất và công cụ lao động tạo điều kiện chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơkhí Những phát minh cơ bản là phát minh máy hơi nước của James Watt năm 1764; cuộccách mạng kỹ thuật trong ngành dệt năm 1885; sau đó là hàng loạt những phát hiện vàkhai thác than, sắt cung cấp nguồn nguyên liệu, năng lượng, máy móc mới cho sản xuấtcủa các doanh nghiệp
Cùng với những phát minh khoa học kỹ thuật là những khám phá mới trong khoahọc quản lý, tạo điều kiện hoàn thiện tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp, đẩy nhanhquá trình ứng dụng, khai thác kỹ thuật mới một cách có hiệu quả hơn Năm 1776, AdamSmith trong cuốn "Của cải của các quốc gia" lần đầu tiên nhắc đến lợi ích của phân cônglao động Quá trình chuyên môn hoá dần dần được tổ chức, ứng dụng trong hoạt động sảnxuất, đưa năng suất lao động tăng lên đáng kể Quá trình sản xuất được phân chia thànhcác khâu khác nhau giao cho các bộ phận riêng lẻ đảm nhận
Trang 41.3 N i dung c a qu n tr s n xu t ộ ủ ả ị ả ấ
1.3.1 Mục tiêu của quản trị sản xuất
Sản xuất là một trong những chức năng chính của doanh nghiệp, cho nên quản trị sản xuất bị chi phối bởi mục đích của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp kinh doanh mục đích là lợi nhuận, đối với doanh nghiệp công ích mục đích là phục vụ
Quản trị sản xuất với tư cách là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố đầu vào và cungcấp đầu ra phục vụ nhu cầu của thị trường, mục tiêu tổng quát đặt ra là đảm bảo thỏa mãntối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố sản xuất.Nhằm thực hiện mục tiêu này, quản trị sản xuất có các mục tiêu cụ thể sau:
- Bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng;
- Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra;
- Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ;
- Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao
Cần chú ý rằng các mục tiêu trên thường mâu thuẫn với nhau Vấn đề đặt ra là phảibiết xác định thứ tự ưu tiên của các mục tiêu tạo ra thế cân bằng động, đó là sự cân bằngtối ưu giữa chất lượng, tính linh hoạt của sản xuất, tốc độ cung cấp và hiệu quả phù hợpvới hoàncảnh môi trường trong từng thời kỳ cụ thể để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng caokhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
1.3.2 Các kỹ năng cần thiết ở nhà quản trị sản xuất
Các nhà quản trị sản xuất trong doanh nghiệp có thể khiến một doanh nghiệp thànhcông hay thất bại thông qua những quyết định đúng sai của họ Các nhà quản trị, nhất làquản trị sản xuất quan tâm rất nhiều đến hiệu quả công việc, thể hiện khi chúng ta so sánhnhững kết quả đạt được với những chi phí đã bỏ ra Hiệu quả cao khi kết quả đạt đượcnhiều hơn so với chi phí và ngược lại, hiệu quả thấp khi chi phí nhiều hơn so với kết quả
Trang 5đạt được Không biết cách quản trị cũng có thể đạt được kết quả cần có nhưng có thể chiphí quá cao, không chấp nhận được Trong thực tế, hoạt động quản trị có hiệu quả khi:
- Giảm thiểu chi phí đầu vào mà vẫn giữ nguyên sản lượng ở đầu ra;
- Hoặc giữ nguyên các yếu tố đầu vào trong khi sản lượng đầu ra nhiều hơn;
- Hoặc vừa giảm được các chi phí đầu vào, vừa tăng sản lượng ở đầu ra
Hiệu quả tỉ lệ thuận với kết quả đạt được nhưng lại tỉ lệ nghịch với chi phí bỏ ra.Càng ít tốn kém các nguồn lực thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao Cũng giốngnhư các nhà quản trị nói chung, các nhà quản trị sản xuất cũng thực hiện các chức năng
cơ bản của quản trị như: Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo, Kiểm tra Để có thể đảm đươngtốt các chức năng này, theo Robert Katz, 3 loại kỹ năng mà mỗi nhà quản trị cần phải cógồm:
a) Kỹ năng kỹ thuật hoặc chuyên môn nghiệp vụ:
Là khả năng cần thiết để thực hiện một công việc cụ thể, nói cách khác là trình độchuyên môn nghiệp vụ của nhà quản trị Thí dụ: thảo chương trình điện toán, soạn thảohợp đồng pháp lý kinh doanh, thiết kế cơ khí v.v Đây là kỹ năng rất cần cho quản trịviên cấp cơ sở hơn là cho cấp quản trị viên trung gian hoặc cao cấp
b) Kỹ năng nhân sự:
là những kiến thức liên quan đến khả năng cùng làm việc, động viên và điều khiểnnhân sự Kỹ năng nhân sự là tài năng đặc biệt của nhà quản trị trong việc quan hệ vớinhững người khác nhằm tạo sự thuận lợi và thúc đẩy sự hoàn thành công việc chung.Một vài kỹ năng nhân sự cần thiết cho bất cứ quản trị viên nào là biết cách thông đạt hữuhiệu, có thái độ quan tâm tích cực đến người khác, xây dựng không khí hợp tác trong laođộng, biết cách tác động và hướng dẫn nhân sự trong tổ chức để hoàn thành các côngviệc Kỹ năng nhân sự đối với mọi cấp quản trị viên đều cần thiết như nhau trong bất kỳ
tổ chức nào, dù là phạm vi kinh doanh hoặc phi kinh doanh
Trang 6c) Kỹ năng nhận thức hay tư duy:
Là cái khó hình thành và khó nhất, nhưng nó lại có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất
là đối với các nhà quản trị cao cấp Họ cần có tư duy chiến lược tốt để đề ra đúng đườnglối chính sách đối phó có hiệu quả với những bất trắc, đe dọa, kìm hãm sự phát triển đốivới tổ chức Nhà quản trị cần phải có phương pháp tổng hợp tư duy hệ thống, biết phântích mối liên hệ giữa các bộ phận, các vấn đề
Các nhà quản trị cần có 3 kỹ năng trên nhưng tầm quan trọng của chúng tùy thuộcvào các cấp quản trị khác nhau trong tổ chức
1.3.3 Các hoạt động của nhà quản trị sản xuất
Nhà quản trị trong chức năng sản xuất thực hiện các hoạt động chủ yếu và các quyếtđịnh cơ bản sau:
a) Chức năng hoạch định
- Quyết định về tập hợp sản phẩm hoặc dịch vụ;
- Xây dựng kế hoạch tiến độ, kế hoạch năng lực sản xuất;
- Thiết lập các dự án cải tiến và các dự án khác;
- Quyết định phương pháp sản xuất cho mỗi mặt hàng;
- Lập kế hoạch trang bị máy móc và bố trí nhà xưởng, thiết bị
b) Chức năng tổ chức
- Ra quyết định cơ cấu tổ chức của hệ thống sản xuất như: sản xuất tập trung hayphân tán, tổ chức theo sản phẩm;
- Thiết kế nơi làm việc, phân công trách nhiệm cho mỗi hoạt động;
- Sắp xếp mạng lưới nhân viên phân phối hàng hoá và tiếp nhận yếu tố đầu vào cho
Trang 7- Thiết lập các chính sách để bảo đảm sự hoạt động bình thường của máy móc thiếtbị.
c) Chức năng kiểm soát
- Theo dõi và kích thích sự nhiệt tình của nhân viên trong việc thực hiện các mụctiêu;
- So sánh chi phí với ngân sách; so sánh việc thực hiện định mức lao động; so sánhtồn kho với mức hợp lý;
- Kiểm tra chất lượng
d) Chức năng lãnh đạo
- Thiết lập các điều khoản hợp đồng thống nhất;
- Thiết lập các chính sách nhân sự; các hợp đồng lao động;
- Thiết lập các chỉ dẫn và phân công công việc;
- Chỉ ra các công việc cần làm gấp
e) Chức năng động viên
- Thực hiện những yêu cầu qua các quan hệ lãnh đạo như mục tiêu, mong muốn;
- Khuyến khích thông qua khen ngợi, công nhận, khen tinh thần và thưởng vật chất;
- Động viên qua các công việc phong phú và sự đổi mới trong công việc
Trang 8- Báo cáo, cung cấp tài liệu và truyền thông;
- Phối hợp các hoạt động mua sắm, giao hàng, thay đổi thiết kế ;
- Chịu trách nhiệm trước khách hàng về trạng thái đơn hàng;
- Chức năng giáo dục phát triển nhân sự, giúp đỡ đào tạo công nhân
Tóm lại, chức năng quản trị sản xuất thực hiện bởi một nhóm người chịu tráchnhiệm sản
xuất hàng hoá và dịch vụ cho xã hội Chức năng sản xuất là một chức năng cơ bảncủa doanh nghiệp, nó có ảnh hưởng tới sự thành công và phát triển của doanh nghiệp vì
nó tác động trực tiếp đến các sản phẩm và dịch vụ cung cấp, ảnh hưởng đến chi phí vàchất lượng
CH ƯƠ NG 2 : TH C TR NG QUÁ TRÌNH S N XU T BÁNH K O T I CÔNG TY Ự Ạ Ả Ấ Ẹ Ạ KINH ĐÔ
Trang 9Nhóm chủ động nghiên cứu nhóm hàng bánh kẹo mang thương hiệu Kinh Đô vớidòng sản phẩm là Cosy – trong những thời gian gần về cuối năm để gọn và dễ dàng tínhtoán
2.1 Gi i thi u v công ty Kinh Đô và s n ph m nghiên c u ớ ệ ề ả ẩ ứ
2.1.1 Giới thiệu về công ty
Được thành lập từ năm 1993, công ty Kinh Đô khởi đầu là phân xưởng sản xuất nhỏtại Phú Lâm, Quận 06 với tổng số vốn đầu tư là 1,4 tỉ VNĐ và lượng công nhân viênkhoảng 70 người Lúc bấy giờ, công ty có chức năng sản xuất và kinh doanh các mặthàngbánh Snack, một sản phẩm mới đối với người tiêu dùng trong nước
Năm 1996, Công ty tiến hành đầu tư xây dựng nhà xưởng mới tại số 6/134 Quốc lộ
13, phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh với diện tích 14.000m2.Kinh Đô đầu tư thêm các dây chuyền sản xuất kẹo, chocolate, bánh Cookies, bánhCrackers
Năm 2001 được xác định là năm xuất khẩu của Công ty Kinh Đô Công ty quyếttâm đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu ra các thị trường Mỹ, Pháp, Canada, Đức, ĐàiLoan, Singapore, Campuchia, Lào, Nhật, Malaysia, Thái Lan, … Tìm thêm thị trườngmới thông qua việc phát huy nội lực, nghiên cứu thị trường nước ngoài, tham gia các hộichợ quốc tế về thực phẩm tại Singapore, Mỹ, … Cải tiến chất lượng, khẩu vị, bao bì mẫu
mã phù hợp với từng thị trường cũng như yêu cầu của từng đối tượng khách hàng nướcngoài, …
Với mục tiêu chiếm lĩnh thị trường trong nước, công ty Kinh Đô phát triển hệ thốngcác nhà phân phối và đại lý phủ khắp 61 tỉnh thành, luôn luôn đảm bảo việc kinh doanhphân phối được thông suốt và kịp thời Với năng lực, kinh nghiệm và nhiều năm gắn bó,
hệ thống các nhà phân phối và đại lý của Công ty đã góp phần đáng kể cho sự trưởngthành và phát triển của mình
Trang 10Nói đến công ty Kinh Đô phải nói đến Bánh Trung Thu Kinh Đô Năm 2002 là nămthứ tư công ty tham gia vào thị trường bánh Trung Thu, nhưng công ty đã hoàn toànkhẳng định được thương hiệu và uy tín của mình
Bắt đầu từ ngày 01/10/2002, Công Ty Kinh Đô chính thức chuyển thể từ Công tyTNHH Xây dựng và Chế Biến Thực Phẩm Kinh Đô sang hình thức Công ty Cổ PhầnKinh Đô
Bên cạnh đó, hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002 được thay thếbằng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000, nhằm tăng hiệu quảtrong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhanh chóng hội nhập với quá trình phát triển củacác nước trong khu vực, chuẩn bị cho tiến trình gia nhập AFTA vào năm 2003
Việc đầu tư đổi mới công nghệ nhằm tạo ra những sản phẩm mới mang tính ưu việt,chất lượng cao luôn được Ban Lãnh Đạo Công Ty chú trọng Đây cũng chính là tiềm lực
và xu hướng phát triển trong tương lai
Kinh Đô kinh doanh nhiều sản phẩm khác nhau, những sản phẩm chính của Kinh
- Kẹo cứng và kẹo mềm các loại
- Bánh mì và bánh bông lan công nghiệp
Năm 2005, Công ty Cổ Phần Kinh Đô đã chính thức lên sàn giao dịch chứng khóanThành Phố Hồ Chí Minh với mã giao dịch là KDC
2.1.2 Giới thiệu sản phẩm nghiên cứu
Có rất nhiều loại bánh kẹo chúng ta cùng theo dõi bởi hình vẽ sau đây
Trang 112.2 D báo nhu c u s n ph m ự ầ ả ẩ
Với các thức sử dụng các loại phương pháp dự báo khác nhau chúng tôi đưa ra cách
dự báo theo cả hai phương pháp là định tính và định lượng
Đồng thời thời gian dự báo vào trong khoảng 6 tháng cuối năm thuộc dự báo ngắnhạn và sau đây là các chỉ só và thông tin dự báo của nhóm nghiên cứu với coogn ty Kinh
Đô
2.2.1 Dự báo định tính
- Lấy ý kiến từ ban điều hành :
Cho thấy nhu cầu sản phẩm trong năm nay 2015 ( sắp tới ) sẽ cao hơn các nămtrước đó bởi nhiều yếu tố thị trường mà ông giám đốc này cho rằng điều mình nói là đúng
và có khả năng cao , Với kinh nghiệm ngồi vị trí này nhiều năm liền và cũng là ngườinắm bắt thị trường kỹ ông khẳng khắn cho rằng năm nay số sản phẩm bán sẽ tăng lênkhoảng 12-20%/mùa
- Lấy ý kiến từ lực lượng bán hàng
Trang 12Họ cho rằng năm nay sẽ tăng chậm hơn mọt chút bởi giai đoạn nửa đầu năm vừa rồihầu khắp sản phẩm bán chưa được chạy hàng nên họ cho rằng năm nay sản phẩm cosy sẽbán chậm hơn – nhưng nếu có chính sách mới thì cũng là dấu hỏi cho thị trường này
Số liệu về mức tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo Cosy trong giai đoạn 5 năm (2010 –2014) của công ty bánh kẹo Kinh Đô Dự báo nhu cầu
Trang 13- Máy vào liệu:dùng để cán liệu sau khi trộn thành lớp cung cấp cho máy cán xếp lớn
- Máy thành hình lô in:dùng tạo hình bánh quy giòn
- Băng tải
- Bộ phận thu hồi nguyên liệu dư
- Máy rắc mè
- Lò nướng:dung để nướng chín bánh quy
- Bộ phận truyền động và điều chỉnh độ căng của lò:bộ phận này dùng để truyền động cho lưới lò
- Máy phun dầu
- Băng tải làm mát:làm mát bánh sau khi ra khỏi lò nướng
- Máy sắp xếp:sắp xếp bánh để thuận tiện cho việc đóng gói bánh
- Bàn đóng gói
Trang 14Sơ đồ quy trình công nghệ
2.3.2 Hoạch định công suất
* Các nhân tố ảnh hưởng đến công suất của tập đoàn kinh đô
Để lựa chọn và hoạch định công suất sản xuất của tập đoàn kinh đô cần phải phântích và làm rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau bao gồm:
a) Nhóm các nhân tố thuộc về năng lực sản xuất của tập đoàn
- Công nghệ sản xuất và hệ thống máy móc thiết bị :được thành lập từ năm 1993cho đến nay Kinh Đô đã phát triển trên 20 năm hệ thống công nghệ sản xuất càng ngàycàng được nâng cao cụ thể:
-Năm 1993 và 1994 công ty tăng vốn pháp định lên 14 tỉ VNĐ, nhập dây chuyềnsản xuất bánh Snack với công nghệ của Nhật bản trị giá trên 750.000 USD
-Năm 1996, Công ty tiến hành đầu tư xây dựng nhà xưởng mới tại số 6/134 Quốc
lộ 13, phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh với diện tích14.000m² Đồng thời công ty cũng đầu tư dây chuyền sản xuất bánh Cookies với côngnghệ và thiết bị hiện đại của Đan Mạch trị giá 5 triệu USD
-Năm 1997 & 1998, Công ty tiếp tục đầu tư dây chuyền thiết bị sản xuất bánh mì,bánh bông lan công nghiệp với tổng trị giá đầu tư trên 1,2 triệu USD
Trang 15-Cuối năm 1998, dây chuyền sản xuất kẹo Chocolate được đưa vào khai thác sửdụng với tổng đầu tư khoảng 800.000 USD.
-Sang năm 1999, Công ty tiếp tục tăng vốn pháp định lên 40 tỉ VNĐ, cùng với sự rađời của Trung tâm thương mại Savico – Kinh Đô, tại quận 1 thành phố Hồ Chí Minh
-Cùng thời gian đó hệ thống Kinh Đô Bakery - kênh bán hàng trực tiếp của Công tyKinh Đô - ra đời
-Năm 2000, Công ty Kinh Đô tiếp tục tăng vốn pháp định lên 51 tỉ VNĐ, mở rộngnhà xưởng lên gần 60.000 m2, trong đó diện tích nhà xưởng là 40.000m² Để đa dạng hóasản phẩm, công ty đầu tư một dây chuyền sản xuất Bánh mặn Cracker từ Châu Âu trị giátrên 2 triệu USD
-Bên cạnh đó, một nhà máy sản xuất bánh kẹo Kinh Đô cũng được xây dựng tại thịtrấn Bần Yên Nhân tỉnh Hưng Yên trên diện tích 28.000m², tổng vốn đầu tư là 30 tỉ VNĐ
-Tháng 04/2001, Công ty đầu tư thêm một dây chuyền sản xuất Kẹo cứng và mộtdây chuyền sản xuất Kẹo mềm hiện đại với tổng trị giá 2 triệu USD, công suất 40tấn/ngày, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước
-Đến tháng 06/2001, tổng vốn đầu tư của Công ty Kinh Đô lên đến 30 triệu USD.Công ty đưa vào khai thác thêm một dây chuyền sản xuất bánh mặn Cracker trị giá 3 triệuUSD và công suất 1.5 tấn/giờ Nhà máy Kinh Đô tại Hưng Yên cũng được đưa vào hoạtđộng nhằm phục vụ cho thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc
-Năm 2001 công ty đẩy mạnh việc xuất khẩu ra các thị trường Mỹ, Pháp, Canada,Đức, Đài Loan, Singapore, Campuchia, Lào, Nhật, Malaysia, Thái Lan
-Năm 2002, sản phẩm và dây chuyền sản xuất của công ty được BVQI chứng nhậnISO 9002 và sau đó là ISO 9002:2000 Nâng vốn điều lệ lên 150 tỉ VNĐ, công ty bắt đầugia nhập thị trường bánh Trung Thu và đổi tên thành Công ty cổ phần Kinh Đô
Trang 16-Sản lượng tiêu thụ năm sau luôn tăng gấp đôi so với năm trước Kinh Đô hiện cómột mạng lưới 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp cả nước Tốc độphát triển kênh phân phối hàng năm tăng từ 15% đến 20%.
-Năm 2003, Kinh Đô chính thức mua lại công ty kem đá Wall's Việt Nam của tậpđoàn Unilever từ Anh Quốc và thay thế bằng nhãn hiệu kem Kido's
-Giai đoạn 2012_2014 tập trung vào tối đa hóa các dây chuyền sản xuất được muavào cuối năm 2012 Dự kiến sẽ đầu tư một số dây chuyền trong năm 2015 và những năm
kế tiếp
Hiện giờ Kinh Đô đã có trong tay những dây truyền hiện đại nhất được nhập từChâu Âu và nhiều nươc khác nhằm tạo ra những sản phẩm đặc biệt chinh phục các kháchhàng khó tính nhất như Nhật, Mỹ, Pháp, Đức…
b) Nhóm các nhân tố thuộc về sản phẩm và dịch vụ:
- Hiện tại các sản phẩm của kinh đô rất đa dạng: bánh cookie, bánh snack, bánhcracker AFC – Cosy, kẹo sôcôla, kẹo cứng và kẹo mềm, bánh mì mặn_ ngọt, bánh bônglan, bánh kem, kem đá Kido's, bánh Trung thu Kinh Đô, Sôcôla… đáp ứng nhu cầu dadạng của người tiêu dùng
- Các sản phẩm của Kinh Đô trải khắp cả nước: chúng ta sẽ dễ dàng tìm kiếm trêntất cả các siêu thị, đại lý bán lẻ, hệ thống kinh đô bakery
- Kinh đô đã tạo được thương hiệu trong người tiêu dùng từ rất lâu nắm
c) Nhóm các nhân tố thuộc về con người: Kinh Đô có nguồn nhân lực dồi dào giàu kinh nghiệm.
*Tiến hành hoạch định
Trang 17bước 1:công suất hiện tại của doanh nghiệp khoảng 200.000 tấn bánh kẹo các loạimỗi năm.Riêng dịp tết có thể có mức công suất từ 4000-4500 tấn
Bước 2:dự báo nhu cầu dịp tết 2015 là 4810 tấn
Bước 3:so sánh công suất dự báo và công suất hiện có ta thấy công suất hiện cókhông thể đáp ứng được
Bước 4:
Sử dụng phương pháp điểm hòa vốn
-với chi phí cố định hàng năm là :200 tỷ đồng
-giá bán 1 tấn sản phẩm là:100 triệu đồng
-chi phí biến đổi cho 1 tấn sản phẩm là:50 triệu
Ta có công thức tính điểm hòa vốn
Q=FC/(P-V)
=> Q=200000/(100-50)=4000
TH1: sản xuất với hết mức công suất hiện có của công ty
LN=P×Q-FC-Q×V=100×4500-200000-4500×50=25000(triệu)
TH2: sản xuất với mức nhu cầu dự báo :
Cần thuê thêm chi phí cố định (máy móc) là 2000 triệu
Cần thuê thêm biến phí (công nhân) là 5 triệu/tấn
LN=P×Q-FC-Q×V=100×4810-202000-4810×55=14450(triệu)
=> Công ty nên sản xuất với mức sản lượng 4500 tấn để có mức lợi nhuận cao nhất