Việc áp dụng các quy phạm xung đột có nghĩa là thừa nhận rằng pháp luật nước ngoài có thể được áp dụng để điều chỉnh các mốỉ quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong nhữ
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI (CSII)
KHOA LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
TƯ PHÁP QUỐC TẾ Học kỳ: I Năm học: 2021-2022
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thị Thu Trang
Mã số sinh viên : 1953801070491
TP HỒ CHÍ MINH - 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG - XÃ HỘI (CSII)
KHOA LUẬT
BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
TƯ PHÁP QUỐC TẾ Học kỳ: I Năm học : 2021-2022
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM
TP HỒ CHÍ MINH - 2021
Trang 3NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN
- Về hình thức:
- Nội dung:
Tổng:
Cán bộ chấm thi 1
(Kí và ghi rõ họ tên)
Cán bộ chấm thi 2
(Kí và ghi rõ họ tên)
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM 2
1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam 2
1.2 Sự cần thiết áp dụng pháp luật nước ngoài 2
1.3 Các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam 3
Chương 2 THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM 6
2.1 Những khó khăn vướng mắc của áp dụng pháp luật nước ngoài 6
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam 7
2.3 Đề xuất áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam 8
KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TPQT: Tư pháp quốc tế
BLDS: Bộ luật Dân sự
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hội nhập quốc tế đã và đang là một xu thế tất yếu khách quan của quá trình toàn cầu hóa các mối quan hệ dân sự - kinh tế - thương mại, hôn nhân và gia đình, là một vận hội nhưng đồng thời cũng là thách thức gay gắt đối với mọi quốc gia.Việc quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội tất yếu dẫn đến việc phát sinh nhiều ngày càng nhiều mối quan hệ pháp luật có yếu tố nước ngoài thuộc các lĩnh vực dân sự, kinh tế, thương mại, hôn nhân gia đình Để điều chỉnh các mối quan hệ này, ở những mức độ khác nhau, pháp luật cá nước đều thừa nhận và cho phép áp dụng luật nước ngoài Nói cách khác, áp dụng pháp luật nước ngoài là một tất yếu, khách quan trong TPQT Tuy nhiên,
áp dụng pháp luật nước ngoài luôn là một vấn đề phức tạp và khó khăn Tòa án Việt Nam chưa bao giờ áp dụng pháp luật quốc gia khác để giải quyết các vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngoài Vì vậy nên tôi chọn đề tài “Thực trạng áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế Việt Nam“, để tìm hiểu về các trường hợp áp dụng pháp
luật nước ngoài và đưa ra những đề xuất của bản thân góp phần cho tư pháp quốc tế Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận
Tìm hiểu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong TPQT, phân tích từng trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài nêu ra được ví dụ, tìm hiểu về thực trạng để nêu ra
đề xuất của bản thân
Để đạt được mục đích đó, tiểu luận có các nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Tìm hiểu khái quát về áp dụng pháp luật nước ngoài trong TPQT, bao gồm khái niệm, sự cần thiết, các trường hợp, khó khăn, thực tiễn và đề xuất Phân tích và nêu ví dụ các trường hợp
áp dụng pháp luật nước ngoài trong TPQT Đề xuất kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong TPQT Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi của tiểu luận
Đối tượng là: áp dụng pháp luật nước ngoài trong tư pháp quốc tế
Thời gian nghiên cứu: 2010 đến 2021
Địa điểm: Việt Nam
Không gian cụ thể: tư pháp quốc tế Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận, giải quyết vấn đề trong bài tiểu luận tôi sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp thu thập số liệu, Phương pháp phân tích và tổng hợp, Phương pháp so sánh, Phương pháp liệt kê, Phương pháp khảo sát thực tiễn
Trang 7Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI TRONG
TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
Áp dụng pháp luật nước ngoài, giáo trình TPQT của các trường trường đại học không đưa ra khái niệm cụ thể nhưng có thể hiểu áp dụng pháp luật nước ngoài “là việc
cơ quan có thẩm quyền của 1 nước vận dụng các qui định cụ thể của pháp luật 1 nước khác để giải quyết các quan hệ cụ thể”
Pháp luật nước ngoài hay “Pháp luật 1 nước khác” ở đây thực chất chính là pháp luật của một quốc gia Đó là hệ thống văn bản pháp quy (kể cả luật không thành văn) của một quốc gia bao gồm Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật cùng với những tập quán và án lệ, thực tiễn tư pháp Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ dân sự quốc tế, đảm bảo sự ổn định,củng cố và phát triển hợp tác về mọi mặt trong giao lưu dân sự giữa các quốc gia vì sự thịnh vượng chung của cá thế giới
1.2 Sự cần thiết áp dụng pháp luật nước ngoài
Khi không có quy phạm thực chất thống nhất, các quốc gia đương nhiên phải giải quyết xung đột pháp luật bằng cách xây dựng và áp dụng các quy phạm xung đột Việc áp dụng các quy phạm xung đột có nghĩa là thừa nhận rằng pháp luật nước ngoài có thể được áp dụng để điều chỉnh các mốỉ quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp nhất định
Thực tiễn tư pháp quốc tế đã chứng tỏ rằng, ở những mức độ và với những điều kiện khác nhau, tất cả các nước đều thừa nhận và cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài, việc áp dụng pháp luật nước ngoài là không tránh khỏi, là đặc thù của tư pháp quốc tế
Để hình dung sự cần thiết phải áp dụng pháp luật nước ngoài trong những trường hợp nhất định, chúng ta thử phân tích ví dụ sau đây: Hai công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, kết hôn với nhau theo những điều kiện và nghi thức do pháp luật nước sở tại quy định Giả sử về điều kiện kết hôn, việc kết hôn này hoàn toàn đáp ứng những yêu cầu của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, còn về nghi thức kết hôn lại trái với Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, vì các đương sự đã kết hôn theo nghi thức tôn giáo theo đúng yêu cầu của pháp luật nưóc sở tại
Vấn đề đặt ra là: Việt Nam có thừa nhận giá trị pháp lý của việc kết hôn trên hay không? Nếu thừa nhận có nghĩa là chúng ta đã áp dụng pháp luật nơi tiến hành kết hôn để giải quyết
Trang 83 vấn đề nghi thức kết hôn Trong việc kết hôn này mọi nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân
và gia đình Việt Nam đều được đảm bảo
Việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vấn đề nghi thức kết hôn không gây hậu quả trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội và của pháp luật Việt Nam, đồng thời lại tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình, góp phần đảm bảo tính ổn định và thúc đẩy các mốỉ quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài phát triển Nói cách khác, việc áp dụng pháp luật nưởc ngoài trong trường hợp cụ thể này là hợp lý, hợp tình, là yêu cầu khách quan của việc điều chỉnh pháp lý các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài
Tóm lại, trong những trường hợp nhất định, việc áp dụng pháp luật nước ngoài để điều chỉnh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài không những có khả năng mà còn là cần thiết khách quan để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự và thúc đẩy giao lưu dân sự quốc tế phát triển Tuy nhiên, phạm vi cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài phải được xác định trên cơ sỏ chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia; đồng thời bảo đảm hậu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội và của pháp luật nước mình
1.3 Các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài trong Tư pháp quốc tế Việt Nam
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, Luật thương mại 2005 , Luật hôn nhận và gia đình…cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp các văn bản pháp luật của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật Việt Nam
Các trường hợp áp dụng pháp luật nước ngoài theo Điều 664 BLDS 2015 quy định về xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài bao gồm 3 trường hợp sau:
1 Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định
theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam.
Quy định này nhấn mạng tới nguyên tắc chung trong việc xác định pháp luật áp dụng đối với những quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là điều ước quốc tế mà nước
ta là thành viên hoặc các điều luật của Việt Nam Như vậy, khoản 1 Điều 664 BLDS
Trang 92015 chỉ rõ nguồn chứa đựng quy phạm pháp luật xung đột là điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các đạo luật của Việt Nam
Điều ước quốc tế là thỏa thuận được kí kết bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều bên chủ thể của luật quốc tế nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quốc tế Áp dụng trực tiếp điều ước quốc tế là việc điều ước quốc tế sau khi được kí kết
sẽ có hiệu lực thi hành trực tiếp trên lãnh thổ của quốc gia kí kết mà không cần bất kì hình thức chuyển hóa nào việc hệ thống pháp luật trong nước Cơ chế này có thể được thực hiện thông qua việc cụ thể hóa quy định của điều ước quốc tế vào văn bản quy phạm pháp luật trong nước hoặc bằng tuyên bố của nguyên thủ quốc gia Hệ quả là quy phạm pháp luật quốc tế được chuyển thành quy phạm pháp luật trong nước
Ví dụ: khoản 1 Điều 673 BLDS năm 2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của
cá nhân được xác định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch” Như vậy,
luật Việt Nam có thể dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài trong một số trường hợp nhất định
2 Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn thì pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định theo lựa chọn của các bên.
Có thể thấy, đây là quy định bổ sung mới, có tính nguyên tắc , được ghi nhận rõ ràng tại Bộ Luật Quy định tại Phần 7 của Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ cho phép các bên có quyền lựa chọn luật áp dụng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng dân
sự có yếu tố nước ngoài và quyền sở hữu đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển, “trong khi đó, Điều 678, 683, 686, 687, của Bộ Luật Dân sự năm 2015 đã mở rộng hơn quyền lựa chọn pháp luật khi cho phép các bên có quyền lựa chọn pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển, hình thức, nội dung hợp đồng, thực hiện công việc không có ủy quyền, cũng như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (trừ trường hợp ngoại lệ) Khoản 2 Điều 664 BLDS năm 2015 đã
cụ thể hóa được yêu cầu xây dựng Phần 5 BLDS năm 2015 đó là ” thể hiện rõ nguyên tắc đặc thù của quan hệ dân sự trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật xung đột
đó là bình đẳng, tự thỏa thuận, tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của các bên tham gia quan hệ dân sự bao gồm cả quyền được tự do thỏa thuận chọn luật áp dụng Tuy nhiên, nếu áp dụng khoản 2 điều luật này trên thực tế thì khoản này không quy định rõ pháp luật mà các bên được lựa chọn bao gồm những nguồn luật nào Theo cách hiểu thông thường, chắc chắn pháp luật các bên được lựa chọn là pháp luật quốc gia, đồng thời
Trang 105 theo quy định tại Điều 666 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì nó còn bao gồm cả tập quán quốc tế, nên pháp luật cần quy định chi tiết hơn về điều khoản này
Ví dụ: theo khoản 1 Điều 769 BLDS, "quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng
được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thoả thuận khác” Với quy định này, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng được
điều chỉnh bởi pháp luật do các bên lựa chọn và chỉ khi nào không có sự lựa chọn hợp pháp của các bên thì hệ thống pháp luật của nơi thực hiện hợp đồng mới được sử dụng
3 Trường hợp không xác định được pháp luật áp dụng theo quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó.”
Theo quy định này thì trường hợp các bên không chọn luật áp dụng, điều ước quốc
tế không quy định xác định pháp luật áp và pháp luật quốc gia cũng không quy định vấn đề này thì cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào khoản này để xác định pháp luật được áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Đây là quy định bổ sung mới hết sức linh hoạt, hiện đại chưa được quy định trong Phần 7 Bộ luật Dân sự năm 2005, nhằm giúp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, cũng như các bên đương sự có cơ sở pháp lý giải quyết vụ việc khi không xác định được pháp luật áp dụng theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật Việt Nam Thực tế, khó có thể xây dựng được một hệ thống quy phạm pháp luật xung đột đầy đủ giải quyết mọi quan hệ phát sinh, trong trường hợp không có quy phạm pháp luật xung đột hoặc các bên không lựa chong pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh thì giải pháp áp dụng pháp luật của nước có mối quan hệ gắn bó nhất với quan hệ dân sự đó là phù hợp
Ví dụ: theo khoản 1 điều 672 “pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm
phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối liên hệ gắn bó nhất” như vậy nếu không xác định được nơi cư trú áp dụng pháp luật nơi người đó gắn
bó nhất thay vì trực tiếp áp dụng pháp luật Việt Nam như luật cũ
Trang 11Chương 2 THỰC TIỄN VÀ ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI
TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ VIỆT NAM
2.1 Những vướng mắc, khó khăn trong áp dụng pháp luật nước ngoài
Tại Việt Nam, vấn đề áp dụng pháp luật nước ngoài hiện nay được quy định tại các Điều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 5 Luật Thương mại năm 2005, Điều 4 Bộ luật hàng hải năm 2005, Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 5 Luật Đầu tư năm 2005 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác Theo các quy định trên thì việc áp dụng pháp luật nước ngoài sẽ được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng trong các trường hợp các văn bản của Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc trong các trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận đó không trái với pháp luật Việt Nam
Để áp dụng pháp luật nước ngoài theo đúng cách thức đòi hỏi các cơ quan xét sử có trách nhiệm tìm hiểu nội dung Thực tế của pháp luật Việt Nam chưa có một qui định
cụ thể nào về nghĩa vụ tìm hiểu nội dung pháp luật nước ngoài thuộc về cơ quan xét xử hay của các bên đương sự Đây là một vấn đề phức tạp và trên thực tế gây không ít khó khăn cho thẩm phán
Pháp luật không có quy định cụ thể về cách thức áp dụng pháp luật nước ngoài
mà chỉ dựa trên các nguyên tắc xuất phát từ mục đích bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự và lợi ích quốc gia Khi Tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết những vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, phần nhiều liên quan đến một bên chủ thể là công dân Việt Nam nên việc ưu tiện chọn luật Việt Nam để giải quyết thường được áp dụng nhằm thuận tiện cho việc nghiên cứu Luật và theo hướng có lợi hơn cho công dân Việt Nam
Tình trạng “luật khung”: là loại văn bản chứa đựng những quy định mang tính
nguyên tắc làm cơ sở cho việc đề ra những quy định cụ thể trong quá trình điều chỉnh một hoặc một số quan hệ xã hội Ví dụ, Luật Hôn nhân và gia đình có quy định: “Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam
do Chính phủ quy định” Việc chỉ dừng lại ở những quy định có tính chất “khung” cho thấy, các nhà lập pháp luôn cần đến sự tham gia của các nhà quản lý trong việc đưa ra