Cho nên, cùng với sự gia tăng nhu cầu về lượng các sản phẩm thủy sản, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế xã hội không ngừng phát triển, nghề nuôi trồng thủy sản phải giữ
Trang 1CHƯƠNG 1
VAI TRÒ, VỊ TRÍ, ĐẶC ĐIỂM VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở VIỆT NAM
Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển và cũng là nước có lịch sử nuôi trồng thủy sản lâu đời Trải qua hàng ngàn năm lịch sử cho đến nay nuôi trồng thủy sản đã trở thành một bộ phận quan trọng đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân Nuôi trồng thủy sản đã trở thành một hoạt động sản xuất chủ yếu đối với rất nhiều ngư dân ở Việt Nam nuôi trồng thủy sản không những là nhân tố đóng vai trò chính trong ngành thủy sản mà còn đóng một số vai trò nhất định trong nền kinh tế quốc dân, góp phần tăng tích lũy vốn, xuất khẩu thu về ngoại tệ cho nhà nước, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và ngành y, dược, tạo việc làm cho lao động
Với hơn 3.260 km bờ biển, 12 đầm phá và eo vịnh, 112 cửa sông, lạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển, lại thêm hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt cùng với các hồ thuỷ lợi, thuỷ điện, nước ta có một tiềm năng rất lớn về nuôi trồng thủy sản với trên dưới 2 triệu ha diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản Trong 15 năm gần đây 1990-2005 diện tích nuôi trồng thủy sản đã phát triển cả ba vùng nước: lợ, mặn, ngọt, đang mở rộng ở nước lợ và vươn ra biển Với tốc độ nhanh bình quân tăng khoảng 45% năm Năm 1996 diện tích nuôi trồng thủy sản chỉ đạt 585.000 ha trong đó có khoảng 270.000 ha diện tích nuôi nước lợ, mặn nhưng đến năm 2005 đã sử dụng 959.900 ha để nuôi thủy sản.(đối tượng nuôi chủ yếu là tôm với diện tích là 580.465 ha) Trong nuôi trồng thủy sản đối tượng nuôi phong phú, hình thức nuôi đa dạng Nhiều giống loài thủy sản nuôi đã trở thành sản phẩm hàng hóa, xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Nhiều hình thức nuôi như bán thâm canh, thâm canh xuất hiện đã trở thành mô hình sản xuất tiên tiến, đã và đang được mở rộng trong cả nước
Tỉ lệ giữa đánh bắt thủy sản và nuôi trồng thủy sản như sau: Năm 1991 khai thác thủy sản đạt 714.253 tấn chiếm 67,2%; nuôi trồng thủy sản đạt 347.910 tấn chiếm 32,8% Năm 1995 khai thác thủy sản đạt 928.860 tấn chiếm 69,1%; nuôi trồng thủy sản đạt 415.280 tấn chiếm 30,9 % Năm 2000 khai thác thủy sản đạt 1.280.570 tấn chiếm 63,9 %; nuôi trồng thủy sản đạt 723.123 tấn chiếm 36,1% Do
cơ cấu ngành thủy sản chủ yếu phụ thuộc vào khai thác thủy sản nên dẫn đến việc khai thác quá mức nguồn lợi tự nhiên và phá hoại nghiêm trọng đến nguồn sinh vật ven biển cùng như trong nôi địa Hậu quả của những việc làm trên đã dẫn đến sản lượng khai thác giảm sút và các loại thủy sản kinh tế ngày càng cạn kiệt Mặt khác nguồn tài nguyên thích hợp cho việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản như: các vùng nước sông ngòi, hồ ao trong đất liền, các vùng ven biển, bãi bồi, cửa sông, rừng ngập mặn, vũng vịnh và các vùng ven đảo chưa được khai thác một cách có hiệu quả Suốt trong một thời gian dài, giữa cung và cầu các mặt hàng
Trang 2thủy sản ở Việt Nam luôn mâu thuẫn sâu sắc Người dân ở vùng thành thị lẫn nông thôn vẫn trong tình trạng không đủ sản phẩm thủy sản để tiêu dùng
Từ năm 1987 trở lại đây, do tình hình xã hội Việt Nam đang tiến hành cải cách mở cửa mà ngành thủy sản Việt Nam đã áp dụng hàng loạt các phương án và chính sách mới nhằm khích lệ phát triển nghề nuôi trồng thủy sản dựa trên cơ sở
đã tổng kết và học tập những kinh nghiệm trong công tác thủy sản Ngành thủy sản
đã lấy việc phát triển mạnh nghề nuôi trồng thủy sản làm chiến lược trọng điểm để phát triển ngành thủy sản và làm giàu kinh tế nông thôn Nghề nuôi trồng thủy sản qua đó đã có được những sự phát triển vượt bậc và bước sang một thời kỳ lịch sử phát triển mới Cụ thể là năm 2005, tổng sản lượng sản phẩm thủy sản ở Việt Nam đạt 3.432.800 tấn, trong đó sản lượng sản phẩm khai thác thủy sản đạt 1.995.411 tấn (so với năm 2004 tăng 2,86%) và sản lượng sản phẩm nuôi trồng đạt 1.437.355 tấn (so với năm 2004 tăng 19,53%) Tỉ lệ giữa khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản là 58,1 % và 41,9 % Hơn nữa nghề nuôi trồng thủy sản phát triển với mức độ tăng bình quân hàng năm khoảng 90.000 -100.000 tấn Tỉ xuất tăng trưởng hàng năm của ngành khai thác thủy sản rõ ràng đã thấp hơn so với tỉ xuất tăng trưởng hàng năm của ngành nuôi trồng thủy sản Việc này đánh dấu ngành thủy Việt Nam đã bước vào một thời kỳ phát triển tốt
lượng
Sản lượng Tỷ lệ % Sản lượng Tỷ lệ %
2006
2007
Thực tiễn đã chứng minh, nghề cá muốn có sự phát triển tốt phải dựa trên tiền đề của nghề nuôi Cho nên, cùng với sự gia tăng nhu cầu về lượng các sản phẩm thủy sản, sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế xã hội không ngừng phát triển, nghề nuôi trồng thủy sản phải giữ vai trò chủ đạo đối với ngành thủy sản
Căn cứ vào mục tiêu chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam thì đến năm 2010 tổng sản lượng các sản phẩm thủy sản nuôi trồng thủy sản sẽ lên đến 2 triệu tấn, tăng tỉ trọng sản lượng ngành nuôi chiếm giữ trong tổng sản lượng các mặt hàng thủy sản lên đến 50-60% Ngành nuôi trồng thủy sản sẽ phát huy được vai trò to lớn của mình trong ngành thủy sản nói riêng và nông nghiệp nói chung
Trang 3I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Ngành nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất vật chất sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai diện tích mặt nước, thời tiết khí hậu…để sản xuất
ra các loại sản phẩm thủy sản phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người Căn
cứ vào độ mặn của vùng nước người ta phân ngành nuôi trồng thủy sản thành nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nuôi trồng thủy sản nước lợ và nuôi trồng thủy sản nước mặn; căn cứ vào đối tượng nuôi trồng mà người ta chia thành các ngành: Nuôi cá, nuôi giáp xác, nuôi nhuyễn thể và trồng các loại rong biển Ngành nuôi trồng thủy sản có khả năng sản xuất nhiều loại thực phẩm giàu dinh dưỡng cho nhân loại, cung cấp nhiều loại nguyên liệu, dược liệu cho các ngành công nghiệp, làm thức
ăn cho chăn nuôi gia súc Trong lịch sử phát triển của nghề cá, sự xuất hiện và phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản đã đánh dấu khả năng khai thác và chinh phục rất nhiều vùng nước tự nhiên của nhân loại Cùng với sự bùng nổ dân số trên thế giới một cách nhanh chóng, nhu cầu về các loại động vật thuỷ sản ngày càng tăng mạnh và chỉ có phát triển mạnh ngành nuôi trồng thủy sản thì mới đáp ứng được nhu cầu tăng cao về các loại sản phẩm thủy sản
II VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
1 Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân
1.1 Nuôi trồng thủy sản cung cấp sản phẩm giầu chất đạm cho nhân dân
Sản phẩm thuỷ sản là thực phẩm giàu dinh dưỡng rất được mọi người yêu thích Từ xưa tới nay, con người luôn coi sản phẩm thuỷ sản là thực phẩm lý tưởng nhất Trong nó có các đặc điểm như hàm lượng protein cao, lượng mỡ và colexteron thấp, có rất nhiều loại vitamin, dễ tiêu hoá và hấp thụ đối với con người, đẩy mạnh quá trình trao đổi chất Đây là đặc điểm khiến cho các loại thịt không thể so sánh được với sản phẩm thuỷ sản
Hơn nữa, sản phẩm thuỷ sản còn là nguồn cung cấp protein thích hợp nhất cho sức khoẻ của con người Rất nhiều nước trên thế giới luôn coi việc sử dụng mặt nước biển là khởi nguồn quan trọng để cung cấp protein cho con người Theo tính toán khoa học, trong các loại chất protein của động vật mà con người dễ hấp thu nhất, khoảng gần một nửa có nguồn gốc từ sản phẩm thuỷ sản Theo kết quả phân tích, cứ mỗi cân cá trắm đen chứa 195 gram hàm lượng protein, trong khi 1
kg thịt lợn chỉ chứa 95 gram hàm lượng protein; 1 kg thịt gà có chứa 136 gram hàm lượng protein; 1 kg thịt vịt có chứa 147 gram hàm lượng protein Các loại tôm
và sinh vật nhuyễn thể, tảo cũng đều là những loại thực phẩm thủy sản hàm lượng protein cao và hàm lượng chất béo thấp Trong các loại sinh vật nhuyễn thể thì loài
Hàu được coi là “ sữa bò biển” Hàm lượng protein có trong thịt của loài Hàu lên
đến 45%-57% Một số động vật thủy sản kinh tế khác như: ba ba, rùa, tôm, cua, ếch…là những thực phẩm bổ dưỡng
Việt Nam là một nước đang phát triển, đất chật, người đông, tài nguyên ít Lương thực vẫn là thức ăn chính cho người dân Việt Nam, Tỷ lệ chất protein và
Trang 4lipid động vật trong thức ăn vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân trên thế giới
Hiện nay mức tiêu dùng của người Việt Nam đối với các loại thủy sản ước tính chiếm khoảng 50% về tiêu dùng thực phẩm chứa Prôtêin Riêng về cá đã cung cấp khỏang 8kg/người /năm, trong đó nuôi trồng chiếm khoảng 30% Những năm tới xu thế đời sống nhân dân ngày một khá lên, mức tiêu dùng thực phẩm sẽ tăng Điều đáng quan tâm là ngày nay nhân dân có su thế thiên về sử dụng thực phẩm ít béo Do đó tôm, cá và các sản phẩm có nguồn gốc thủy sản được dùng làm thực phẩm chiếm phần quan trọng Trong đó các sản phẩm cá nuôi cung cấp tại chỗ, chi phí vận chuyển ít, đảm bảo được tươi sống lại càng có vai trò quan trọng hơn Theo chiến lược phát triển kinh tế –xã hội của ngành thủy sản, đến năm 2010 tổng sản lượng thủy sản Việt Nam sẽ đạt khoảng trên 3,5 triệu tấn Trong đó ưu tiên cho xuất khẩu khoảng 40% và theo số liệu của FAO sản phẩm thủy sản dành cho chăn nuôi 30%, thì sản lượng còn lại dành cung cấp thực phẩm cho người Nếu so với lượng tiêu dùng thủy sản bình quân đầu người trên thế giới theo ước tính của FAO là 19,1 kg/người vào năm 1994 và so với mức 27 kg/người /năm của các nước đang phát triển hiện nay thì ở nước ta chưa đáp ứng được
1.2 Cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, phân bón cho nông nghiệp
Sản phẩm phụ của ngành nuôi trồng thủy sản (các loại tôm cá tạp ), các phụ, phế phẩm của các nhà máy chế biến thủy sản làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn gia súc, gia cầm và một số loại thức ăn cho tôm cá và theo số liệu của FAO sản phẩm thủy sản dành cho chăn nuôi chiếm khoảng 30% Hàng năm ở Việt Nam đã sản xuất ra khoảng 40.000-50.000 tấn bột cá làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm và thức ăn cho tôm cá
1.3 Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, mỹ nghệ
Phát triển nghề nuôi trồng thủy sản có thể cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành khác như công nghiệp, nông nghiệp, y dược và công nghiệp quốc phòng, thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan
Các sản phẩm của ngành nuôi trồng thủy sản ngoài chức năng làm thực phẩm cho con người còn được sử dụng nhiều trong lĩnh vực khác Rất nhiều mặt hàng thủy sản là nguyên liêu cho các nhà máy chế biến đông lạnh như: tôm, cá, nhuyễn thể v v…, nguyên liệu cho các xí nghiệp dược phẩm như: Rong mơ, rong câu rong thuốc giun v v… sản xuất keo alginate, Aga aga, Iod, cồn, thuốc tẩy giun sán Hải mã, hải long, vỏ bào ngư là nguồn dược liệu quý và nổi tiếng, rất nhiều loại vỏ sinh vật nhuyễn thể có thể làm nguyên liệu để sản xuất đồ mỹ nghệ xuất khẩu như: sản phẩm khảm trai, Ngọc trai, đồi mồi Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao thì các sản phẩm nuôi trồng thủy sản ngày càng có su hướng được sử dụng rộng rãi hơn Đồng thời, sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản cũng kéo theo sự phát triển của các ngành
Trang 5liên quan Phát triển nghề nuôi trồng thủy sản không chỉ hoàn thiện được cơ cấu sản xuất nông nghiệp, duy trì cân bằng hệ sinh thái mà còn hình thành lên chiến lược khai thác, sử dụng tổng hợp tài nguyên trên lãnh thổ Việt Nam
Phát triển nghề nuôi trồng thủy sản khuyến khích các vùng nông thôn ven biển thực hiện việc kinh doanh tổng hợp như: nông-lâm-chăn nuôi-nuôi trồng thủy sản tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
Đồng thời, sự phát triển của ngành nuôi trồng thuỷ sản cũng kéo theo sự phát triển của các ngành liên quan như công nghiệp chế biến thức ăn, công nghiệp cơ khí, chế biến thực phẩm, tiêu thụ sản phẩm, du lịch chữa bệnh, và các hoạt động dịch vụ v v…
1.4 Tạo nguồn hàng xuất khẩu quan trọng, tăng nguồn thu nhập ngoại tệ cho đất nước
Sản phẩm thuỷ sản thương phẩm là sản phẩm xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, có tỉ xuất thu đổi ngoại tệ cao Theo dự tính của các ngành hữu quan, nếu thu đổi được 1 USD đối với các sản phẩm công nông nghiệp bình thường giá thành bình quân thu đổi từ 0,7-0,9 USD, trong khi đó giá thành thu đổi các mặt hàng nuôi trồng thủy sản tương đối thấp từ 0,3-0,5 USD Cùng với các chính sách cải cách và mở cứa của nền kinh tế, mối quan hệ giữa sự phát triển ngành thủy sản Việt Nam và thị trường quốc tế ngày càng trở nên mật thiết Các ngành nuôi trồng thủy sản địa phương đã chủ trương phát triển kinh tế hướng ngoại để tham gia vào thị trường cạnh tranh quốc tế, đẩy mạnh ngành nuôi trồng thủy sản phát triển nhằm tạo ra ngoại tệ mạnh cho đất nước
Hiện nay hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam ngày càng được ưa chuộng
ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực Năm 1997 đã xuất khẩu sang 46 nước, năm 1998 là 50 nước, năm 2004 là 60 nước, năm 2005 là 105 nước, năm
2007 là 150 nước Kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào các thị trường lớn cũng ngày một tăng Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản đạt 761,5 triệu USD, năm 2005 đạt 2.650 triệu USD và năm 2006 đạt 3.400 triệu USD
Đáng quan tâm trong cơ cấu hàng thủy sản xuất khẩu, nhóm sản phẩm tôm vẫn là mặt hàng chủ lực chiếm tỷ lệ ngày càng cao, trong đó tôm nuôi chiếm tỷ trọng tương đối cao Năm 2004 tỷ lệ tôm chiếm 27,5% về khối lượng và 53% về giá trị kim ngạch xuất khẩu
Các đối tượng khác như: nhuyễn thể, cá song, cá hồng, cá ba sa, cá sặc rằn,
cá quả, lươn, ba ba, ếch v v… xuất sống, phi lê đông lạnh cũng được các thị trường ưa chuộng
Ở Nhật xu thế tiêu dùng hàng thủy sản thay cho thịt bình quân 71,5 kg/người và còn tiếp tục tăng Thị trường Mỹ và EU cũng có su thế như vậy
Trang 6Bảng 1- 1: Sản lượng và giá trị sản phẩm thủy sản xuất khẩu chính ngạch
Năm 1997-2005
2007
Dự kiến năm 2005-2010 cơ cấu sản phẩm thủy sản của Việt Nam xuất sang Nhật sẽ là 3234%, châu Á (kể cả Trung Quốc) là 2022%, Bắc Mỹ 2022%,
EU 1618%, thị trường khác là 810%
Dưới góc độ biến động về giá hàng thủy sản trên thế giới cho thấy giá tôm
và các loài cá đáy dự kiến tiếp tục tăng vào năm 2005 và 2010
1 5 phát triển nuôi trồng thủy sản góp phần phát triển kinh tế–xã hội
Nghề nuôi trồng thuỷ sản tạo công ăn việc làm cho nhiều người lao động, giúp bà con nông dân và ngư dân xoá đói giảm nghèo và tiến lên làm giàu cho bản thân và cho quê hương Nguồn lao động ở các vùng nông thôn hết sức phong phú nhưng do chịu sự hạn chế về thực lực cũng như quy mô và tốc độ phát triển công nghiệp Việt Nam khiến cho một loạt lao động trẻ mới rất khó được tiếp nhận Hiện nay, ở nông thôn Việt Nam cùng với sự nâng cao về năng xuất lao động và trình
độ thâm canh hoá sản xuất, hàng loạt lao động nông thôn đã chuyển hướng sang sản xuất phi nông nghiệp Ngoài việc phát triển công nghiệp cho huyện thị nông thôn và làm nghề phụ tay trái thì nghề nuôi trồng thủy sản với ưu thế diện tích sản xuất lớn, đầu tư ít, đạt hiệu quả kinh tế cao đã kích thích những người nông dân
“rời đất chứ không xa quê” đã mở ra cánh cửa vươn lên làm giầu ngay trên chính
mảnh đất quê hương mình
Với đặc thù nông thôn, ven biển mật độ dân số cao, trình độ dân trí thấp, hàng năm dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng lao động dư thừa Bên cạnh đó một bộ phận lớn ngư dân làm nghề khai thác ven bờ do nguồn lợi cạn kiệt, khai thác kém hiệu quả, từng bước chuyển sang nuôi trồng thủy sản Ngoài ra còn một
bộ phận nông dân vừa sản xuất nông nghiệp, vừa nuôi trồng thủy sản, làm phong phú thêm cho nền văn minh lúa nước, đưa nền văn minh lúa nước lên cao hơn, hiện đại hơn
Trang 7Phát triển nuôi trồng thủy sản làm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống cho nông ngư dân Góp phần xây dựng trật tự xã hội, an ninh nông thôn, vùng biển, biên giới, vùng sâu, vùng xa
2 Vị trí của ngành nuôi trồng thủy sản
Những năm gần đây, do việc khai thác quá mức ngư trường truyền thống và việc khu đặc quyền kinh tế cách bờ 200 hải lý của các nước được mở rộng khiến cho ngành khai thác thủy sản của rất nhiều quốc gia phải giảm năng lực khai thác Đánh bắt xa bờ đã không còn đáp ứng đủ nhu cầu về sản phẩm thủy sản đối với người dân của nhiều nước Chính vì vậy, rất nhiều quốc gia đã rất coi trọng việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Tổ chức lương thực thế giới (FAO) cho rằng: Nuôi trồng thủy sản đã trở thành cách làm nhanh nhất để tăng thêm nguồn đạm thủy sản cho nhân loại
Để tăng thêm nguồn thực phẩm thủy sản cho nhân loại Đặc biệt là những quốc gia có nghề cá phát triển như nước Mỹ và Nhật Bản đã tập trung chuyển hướng sang phát triển nghề nuôi trồng thủy sản Ngay từ những năm 60, Nhật Bản
đã đề ra khẩu hiệu " Chuyển sự phát triển từ nghề khai thác thủy sản sang nghề nuôi
trồng thủy sản", sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 1957 của Nhật Bản chỉ đạt 200.000 tấn đến năm 1986 đã lên đến 1.284.000 tấn Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO), Dự kiến sản lượng nuôi trồng thủy sản sẽ chiếm khoảng 30% trong tổng sản lượng sản phẩm thủy sản
Lấy nuôi trồng là chính, kết hợp nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản, đây không chỉ là yêu cầu khách quan của việc phát triển ngành thủy sản hiện nay ở Việt Nam mà còn là một xu hướng phát triển tất yếu của ngành thủy sản trên thế giới Trong lịch sử phát triển ngành thủy sản, ngành khai thác được coi là phát triển sớm nhất Sự xuất hiện và phát triển của ngành nuôi trồng đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong lĩnh vực thủy sản, từ việc con người chỉ chờ đợi thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên đến việc tự chủ động giành lấy các nguồn tài nguyên Đây chính là biểu hiện của sự tiến bộ xã hội Sự phát triển của khoa học kỹ thuật
đã đem đến cho nhân loại viễn cảnh có thể dựa vào ý trí của con người sản xuất ra sản phẩm thủy sản: tận dụng hết mức sức sản xuất của tài nguyên nước, sản xuất càng nhiều các sản phẩm thủy sản có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu sử dụng của con người
Thực tiễn trong và ngoài nước đã chứng minh, nếu biết coi trọng việc phát triển nuôi trồng thủy sản trong nước và trong khu vực thì sản xuất thủy sản luôn đạt được sự phát triển ổn định và liên tục Vì vậy, việc phát triển mạnh mẽ ngành nuôi trồng thủy sản là con đường tất yếu cho sự phát triển ngành thủy sản Tốc độ phát triển nhanh chóng của ngành nuôi trồng thủy sản khiến cho vai trò và vị trí của ngành này trong nông nghiệp nói chung và ngành thủy sản nói riêng ngày càng thu hút được sự quan tâm của mọi người Chính vì vậy ngành nuôi trồng thủy sản được coi là ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế nông-lâm-ngư-công nghiệp và dịch vụ ở các vùng nông thôn ven biển
Trang 8III ĐẶC ĐIỂM NGHỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
1 Nuôi trồng thủy sản là một ngành phát triển rộng khắp đất nước ta và tương đối phức tạp hơn so với các ngành sản xuất vật chất khác
Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng là các loại động vật máu lạnh, sống trong môi trường nước, chụi ảnh hưởng trực tiếp của rất nhiều các yếu tố môi trường như thuỷ lý, thuỷ hoá, thuỷ sinh do đó muốn cho các đối tượng nuôi trồng phát triển tốt con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng Các biện pháp kỹ thuật sản xuất chỉ khi nào phù hợp với các yêu cầu sinh thái, phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của các đối tượng nuôi trồng thì mới giúp đối tượng nuôi phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao và ổn định Hơn nữa, hoạt động nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất ngoài trời, các điều kiện sản xuất như khí hậu, thời tiết, các yếu tố môi trường
…và sinh vật có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến đổi khôn lường Sức lao động cùng bỏ ra như nhau nhưng chỉ gặp năm thời tiết thuận lợi (mưa thuận, gió hòa) mới có thể đạt được năng suất, sản lượng cao Mặt khác bờ biển Việt Nam khá dài, điều kiện khí hậu thời tiết của từng vùng có sự khác nhau do đó cùng một đối tượng nuôi nhưng ở những địa phương khác nhau thì mùa vụ sản xuất khác nhau và hiệu quả kinh tế của nó cũng không giống nhau, hơn nữa mức độ đầu tư cơ sở hạ tầng cũng quyết định khả năng sản xuất và trình
độ thâm canh của nghề nuôi trồng thủy sản Vì vậy, trong quá trình sản xuất, ngành nuôi trồng thủy sản vừa chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên, vừa phải chịu sự chi phối của quy luật kinh tế Do đó nuôi trồng thủy sản là một hoạt động sản xuất rất phức tạp
Tính chất rộng khắp của ngành nuôi trồng thủy sản thể hiện nghề nuôi trồng thủy sản phát triển ở khắp các vùng trong nước từ đồng bằng, trung du, miền núi cho đến các vùng ven biển, ở đâu có đất đai diện tích mặt nước là ở đó có thể phát triển nghề nuôi trồng thủy sản: từ hồ ao sông ngòi đến đầm phá eo, vịnh … Mỗi vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết khác nhau, do đó dẫn tới sự khác nhau về đối tượng sản xuất, về quy trình kỹ thuật, về mùa vụ sản xuất Do đó trong công tác quản lý và chỉ đạo sản xuất của ngành cần lưu ý đến các vấn đề như: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, chính sách giá cả, đầu tư cho phù hợp đối với từng khu vực, từng vùng lãnh thổ
2 Trong nuôi trồng thủy sản đất đai diện tích mặt nước vừa là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được
Đất đai diện tích mặt nước là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của chúng lại rất khác nhau Trong các ngành kinh tế khác, đất đai chỉ là nền móng xây dựng nhà máy công xưởng, trụ sở phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh Trái lại trong nuôi trồng thủy sản đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất chủ yếu vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, không có đất đai diện tích mặt nước thì chúng ta không thể tiến hành nuôi trồng thủy sản được
Trang 9Đất đai là tư liệu sản xuất, song nó là tư liệu sản xuất đặc biệt, khác với các
tư lệu sản xuất khác là: Diện tích của chúng có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản xuất của chúng thì không có giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai diện tích mặt nước không bị hao mòn đi mà còn còn tốt hơn nên (tức là độ phì nhiêu, độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước ngày một tăng) mặt khác đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình, vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng thường là khác nhau Chính vì vậy khi sử dụng đất đai diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải quản lý chặt chẽ đất đai diện tích mặt nước trên
cả ba mặt, pháp chế, kinh tế, kỹ thuật
Về mặt pháp chế: Phải quản lý chặt chẽ các loại đất đai diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản, phân vùng quy hoạch đưa vào sản xuất theo hướng thâm canh và chuyên canh
Về mặt kỹ thuật: Cần xác định đúng đắn các đối tượng nuôi trồng,cho phù
hợp với từng vùng, đồng thời cần quan tâm đến việc sử dụng, bồi dưỡng và nâng cao độ phì nhiêu của đất đai diện tích mặt nước
Về mặt kinh tế: Mọi biện pháp quản lý sử dụng đất đai diện tích mặt nước
phải đưa đến kết quả đất đai diện tích mặt nước cho năng xuất cao và không ngừng được cải tạo
Phát triển ngành nuôi trồng thủy sản không những không chiếm dụng đất nông nghiệp mà còn có thể tác động trợ giúp cho sự phát triển của các ngành khác như nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc Những năm gần đây, các tỉnh thuộc vùng duyên hải Việt Nam đã áp dụng cách thức “đào ao, cải tạo ruộng” để tiến hành khai thác tổng hợp Việc làm này không phải lấn chiếm đất canh tác mà còn tạo ra đất canh tác, coi việc phát triển ngành nuôi trồng thủy sản làm động lực kéo theo các ngành khác cùng phát triển như: ngành trồng cây công nghiệp, ngành trồng cây ăn quả, ngành chăn nuôi gia súc và công nghiệp phụ trợ Những bãi bồi ven biển và những vùng đất trũng phèn sau một số năm được cải tạo để nuôi trồng thủy sản đã biến thành những đồng ruộng màu mỡ, phì nhiêu có thể phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
3 Nuôi trồng thủy sản có tính thời vụ cao
Trong nuôi trồng thủy sản ngoài sự tác động trực tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chụi sự tác động của môi trường tự nhiên Vì vậy trong nuôi trồng thủy sản, quá trình tái sản xuất kinh tế xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian lao động không hoàn toàn ăn khớp với thời gian sản xuất do đó nghề
nuôi trồng thủy sản mang tính thời vụ rất rõ rệt Theo Lê- nin: “Thời gian mà lao
động có tác dụng đối với sản phẩm, thời gian đó gọi là thời gian lao động, còn thời gian sản xuất tức là thời gian mà sản phẩm đang trong lĩnh vực sản xuất, nó bao hàm cả thời gian mà lao động không có tác dụng đối với sản phẩm ”
Trang 10Nhân tố cơ bản quyết định tính thời vụ là quy luật sinh trưởng và phát triển của các đối tượng nuôi trồng, những biểu hiện chủ yếu của tính thời vụ trong nuôi trồng thủy sản là:
- Đối với mỗi đối tượng nuôi trồng, các giai đoạn sinh trưởng, phát triển diễn
ra trong các khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản xuất đòi hỏi thời gian, hình thức và mức độ tác động trực tiếp của con người tới chúng khác nhau Có thời gian đòi hỏi lao động căng thẳng, có thời gian ít căng thẳng
- Cùng một đối tượng nuôi trồng thủy sản nhưng ở những vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khác nhau thường có mùa vụ sản xuất khác nhau
- Các đối tượng nuôi trồng thủy sản khác nhau có mùa vụ sản xuất khác nhau Tính thời vụ của nuôi trồng thủy sản có su hướng dẫn tới tính thời vụ trong việc sử dụng các yếu tố sản xuất nhất là sức lao động, công cụ lao động và đất đai diện tích mặt nước
Do điều kiện lao động thủ công, điều kiện tự nhiên, thời tiết diễn biến bất thường, tính thời vụ trong nuôi trồng thủy sản càng gây lên nhiều vấn đề phức tạp trong tổ chức quản lý sản xuất và kinh doanh Để giảm bớt tính chất thời vụ trong nuôi trồng thủy sản chúng ta cần lưu ý các vấn đề sau:
- Nghiên cứu đặc điểm địa hình, khí hậu, thời tiết từng vùng để bố trí sắp xếp các đối tương nuôi trồng cho phù hợp nhằm sử dụng có hiệu quả đất đai diện tích mặt nước, lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật …
- Mở mang thêm ngành nghề, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động
để thực hiện việc chuyên môn hóa sản xuất đi đôi với viêc phát triển tổng hợp các ngành sản xuất trong nuôi trồng thủy sản
- Vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, đăc biệt các thành tựu trong lĩnh vực sinh học như: Vận dụng quy luật tổng nhiệt cho cá đẻ tái phát dục, kỹ thuật nuôi tôm cắt mắt, kỹ thuật cấy ghép tinh cho tôm mẹ… để tăng thời gian sản xuất trong năm
Mặt khác tính thời vụ của ngành nuôi trồng thủy sản còn ảnh hưởng và đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có kế hoạch và tổ chức thực hiện tốt việc thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm (bao gồm cả xác định giá bán theo mùa cho phù hợp)
4 Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể sống
Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể sống- là các loại động thực vật thủy sản chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh học nên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng mới có thể thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triển của
nó Các biện pháp kỹ thuật sản xuất của con người chỉ khi nào phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của động thực vật thủy sản mới có thể thu được năng suất và sản lượng cao Do đó trong quá trình sản xuất các đối tượng nuôi luôn luôn đòi hỏi sự tác động thích hợp của con người và tự nhiên để sinh