1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

ỨNG DỤNG KHOAN KIỂM SOÁT ÁP SUẤT TRONG VỈA ÁP SUẤT CAO NHIỆT ĐỘ CAO

19 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ỨNG DỤNG KHOAN KIỂM SOÁT ÁP SUẤT TRONG VỈA ÁP SUẤT CAO NHIỆT ĐỘ CAO I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng cần phải tìm kiếm và khai thác nhiều mỏ dầu khí hơn. Ngày càng có nhiều vỉa được phát hiện ở độ sâu lớn và phức tạp hơn. Khi khoan qua các thành hệ sâu với đặc trưng là áp suất cao, nhiệt độ cao (HPHT) phải đối mặt với nhiều thử thách trong khi khoan, thiết kế dung dịch khoan, ống chống, bơm trám xi măng… Khoan kiểm soát áp suất (MPD) là phương pháp ngày càng áp dụng rộng rải để khoan qua các thành hệ phức tạp và đòi hỏi sự an toàn về sức khỏe và môi trường. MPD thường được ứng dụng để khoan qua tầng mất dung dịch trầm trọng, các tầng sâu có áp suất cao, nhiệt độ cao với đặc trưng là cửa sổ áp suất hẹp. Đồ án này sẽ nêu rõ những khó khăn khi khoan qua vỉa HPHT, từ đó ứng dụng phương pháp khoan kiểm soát áp suất thích hợp. II. MỤC TIÊU Chọn phương pháp khoan kiểm soát áp suất thích hợp khi khoan qua vỉa áp suất cao, nhiệt độ cao. III. NHIỆM VỤ Phân tích những khó khăn khi khoan qua vỉa áp suất cao, nhiệt độ cao, nghiên cứu các phương pháp khoan kiếm soát áp suất, từ đó chọn phương pháp thích hợp để khoan qua vỉa HPHT. IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Phạm vi nghiên cứu là vỉa áp suất cao, nhiệt độ cao và phương pháp khoan kiểm soát áp suất V. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Trần Nam Tuân (2012). Ứng dụng khoan kiểm soát áp suất giải quyết sự cố mất dung dịch khi khoan qua tầng móng mỏ Bạch Hổ bể Cửu Long. Luận văn Tốt nghiệp trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM Tác giả đã phân tích đặc điểm địa chất của tầng móng mỏ Bạch Hổ và ưu nhược điểm của phương pháp khoan kiểm soát áp suất. Từ đó,tác giả đã lựa chọn phương pháp khoan với mũ dung dịch tạo áp để giải quyết hiện tượng mất dung dịch khi khoan qua tầng móng mỏ Bạch Hổ. 2. Nguyễn Hữu Hạnh (2011). Ứng dụng công nghệ khoan kiểm soát áp suất với áp suất đáy giếng ổn định cho giếng khoan X thuộc cấu tạo triển vọng Tê Giác Đen. Luận văn Tốt nghiệp Đại học Bách Khoa Tp.HCM Dựa trên điều kiện địa chất của giếng khoan X thuộc cấu tạo Tê Giác Đen với điều kiện áp suất hết sức phức tạp và khảo sát kết quả ứng dụng phương pháp khoan kiểm soát áp suất ở Việt Nam, luận văn đã lựa chọn phương pháp khoan áp suất đáy ổn định (CBHP) cho giếng khoan này. Ngoài ra, luận văn còn trình bày qui trình lắp đặt thiết bị, thi công đến giải quyết sự cố trong quá trình thực hiện. 3. Nguyễn Văn Khang (2010). Nghiên cứu ứng dụng công nghệ khoan kiểm soát áp suất cho giếng khoan TGD2X cấu tạo Tê Giác Đen. Luận văn Thạc sĩ Đại học Bách Khoa Tp.HCM Mục đích nghiên cứu của luận văn là khả năng áp dụng và lựa chọn phương pháp khoan kiểm soát áp suất thích hợp cho giếng khoan TGD2X cấu tạo Tê Giác Đen. Dựa trên nghiên cứu về điều kiện địa chất của các giếng tương đồng TGD1X và TGD1XST1 để đánh giá khả năng ứng dụng công nghệ khoan kiểm soát áp suất cho giếng TGD2X. Bên cạnh đó, luận văn còn khảo sát hiệu quả ứng dụng công nghệ khoan kiểm soát áp suất tại mỏ Cá Ngừ Vàng từ đó đề xuất phương pháp khoan áp suất đáy ổn định cho giếng khoan TGD2X.

Trang 1

ĐAMH: ỨNG DỤNG KHOAN KIỂM SOÁT ÁP SUẤT TRONG VỈA ÁP SUẤT

CAO NHIỆT ĐỘ CAO

I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng cần phải tìm kiếm và khai thác nhiều

mỏ dầu khí hơn Ngày càng có nhiều vỉa được phát hiện ở độ sâu lớn và phức tạp hơn Khi khoan qua các thành hệ sâu với đặc trưng là áp suất cao, nhiệt độ cao (HPHT) phải đối mặt với nhiều thử thách trong khi khoan, thiết kế dung dịch khoan, ống chống, bơm trám xi măng…

Khoan kiểm soát áp suất (MPD) là phương pháp ngày càng áp dụng rộng rải để khoan qua các thành hệ phức tạp và đòi hỏi sự an toàn về sức khỏe và môi trường MPD thường được ứng dụng để khoan qua tầng mất dung dịch trầm trọng, các tầng sâu có

áp suất cao, nhiệt độ cao với đặc trưng là cửa sổ áp suất hẹp

Đồ án này sẽ nêu rõ những khó khăn khi khoan qua vỉa HPHT, từ đó ứng dụng phương pháp khoan kiểm soát áp suất thích hợp

II MỤC TIÊU

Chọn phương pháp khoan kiểm soát áp suất thích hợp khi khoan qua vỉa áp suất cao, nhiệt độ cao

III NHIỆM VỤ

Phân tích những khó khăn khi khoan qua vỉa áp suất cao, nhiệt độ cao, nghiên cứu các phương pháp khoan kiếm soát áp suất, từ đó chọn phương pháp thích hợp để khoan qua vỉa HPHT

IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu là vỉa áp suất cao, nhiệt độ cao và phương pháp khoan kiểm soát

áp suất

V TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1 Trần Nam Tuân (2012) Ứng dụng khoan kiểm soát áp suất giải quyết sự cố mất

dung dịch khi khoan qua tầng móng mỏ Bạch Hổ bể Cửu Long Luận văn Tốt

nghiệp trường Đại học Bách Khoa Tp.HCM Tác giả đã phân tích đặc điểm địa chất của tầng móng mỏ Bạch Hổ và ưu nhược điểm của phương pháp khoan kiểm soát áp suất Từ đó,tác giả đã lựa chọn phương pháp khoan với mũ dung dịch tạo áp để giải quyết hiện tượng mất dung dịch khi khoan qua tầng móng mỏ Bạch Hổ

Trang 2

2 Nguyễn Hữu Hạnh (2011) Ứng dụng công nghệ khoan kiểm soát áp suất với áp

suất đáy giếng ổn định cho giếng khoan X thuộc cấu tạo triển vọng Tê Giác Đen.

Luận văn Tốt nghiệp Đại học Bách Khoa Tp.HCM

Dựa trên điều kiện địa chất của giếng khoan X thuộc cấu tạo Tê Giác Đen với điều kiện áp suất hết sức phức tạp và khảo sát kết quả ứng dụng phương pháp khoan kiểm soát áp suất ở Việt Nam, luận văn đã lựa chọn phương pháp khoan áp suất đáy ổn định (CBHP) cho giếng khoan này Ngoài ra, luận văn còn trình bày qui trình lắp đặt thiết bị, thi công đến giải quyết sự cố trong quá trình thực hiện

3 Nguyễn Văn Khang (2010) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ khoan kiểm soát áp

suất cho giếng khoan TGD-2X cấu tạo Tê Giác Đen Luận văn Thạc sĩ Đại học

Bách Khoa Tp.HCM

Mục đích nghiên cứu của luận văn là khả năng áp dụng và lựa chọn phương pháp khoan kiểm soát áp suất thích hợp cho giếng khoan TGD-2X cấu tạo Tê Giác Đen Dựa trên nghiên cứu về điều kiện địa chất của các giếng tương đồng TGD-1X và TGD-1X-ST1 để đánh giá khả năng ứng dụng công nghệ khoan kiểm soát áp suất cho giếng TGD-2X Bên cạnh đó, luận văn còn khảo sát hiệu quả ứng dụng công nghệ khoan kiểm soát áp suất tại mỏ Cá Ngừ Vàng từ đó đề xuất phương pháp khoan áp suất đáy ổn định cho giếng khoan TGD-2X

VI CẤU TRÚC ĐỒ ÁN

1 Cơ sở lý thuyết vỉa áp suất cao, nhiệt độ cao

a Định nghĩa, phân loại vỉa HPHT

b Những khó khăn khi khoan qua vỉa HPHT

- Khó khăn khi khoan

 Trong kiểm soát giếng

 Tốc độ khoan thấp

 Non-Production Time

 Trong thiết kế dung dịch khoan

- Khó khăn trong bơm trám xi măng

- Khó khăn trong Hoàn thiện giếng

2 Cơ sở lý thuyết của phương pháp khoan kiểm soát áp suất

a Tổng quan về phương pháp MPD

b Phân loại

- Khoan với áp suất đáy ổn định (CBHP)

 Ứng dụng áp suất hồi ( Application of Backpressure)

 Hệ thống tuần hoàn liên tục (CCS)

- Khoan với mũ dung dịch tạo áp (PMCD)

- Khoan với tỷ trọng kép (DG)

Trang 3

 Subsea Mudlift Drilling

 Mud Dilution

3 Ứng dụng khoan kiểm soát áp suất khi khoan qua vỉa HPHT

Trang 5

CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHƯƠNG PHÁP KHOAN KIỂM SOÁT ÁP SUẤT I.1 Giới thiệu phương pháp khoan kiểm soát áp suất.

.1.1 Định nghĩa

- Theo Hiệp hội Quốc tế các nhà thầu Khoan (IADC):

 Từ tháng 2/ 2004 đến tháng 1/2008:

“ Qui trình khoan thích hợp được sử dụng để điều khiển một cách chính xác áp suất vành xuyến trong toàn bộ giếng”

“Mục tiêu là đảm bảo những giới hạn môi trướng áp suất đáy giếng và kiểm soát thích hợp áp suất vành xuyến”

 Bổ sung những định nghĩa trên vào tháng 1/2008:

“ MPD nhằm tránh sự xâm nhập của chất lưu vỉa lên bề mặt Bất kì dòng chảy bất thường sẽ được xử lý bằng một qui trình thích hợp.”

- Theo Weatheford

 “Khoan kiểm soát áp suất là một phương pháp tiên tiến trong việc kiếm soát giếng bằng cách sử dụng hệ thống dung dịch khoan được gia áp và kín để kiểm soát chính xác hơn áp suất giếng.”

Hình 1 thể hiện sự khác nhau giữa phương pháp khoan truyền thống và MPD Đối với phương pháp khoan truyền thống, dòng dung dịch khoan về tiếp xúc trược tiếp với môi trường Trong khi, dòng dung dịch về của MPD là vòng kín nhờ thiết bị kiểm soát tuần hoàn (RCD)

Trang 6

Hình 1 Khác nhau đường dung dịch về giữa khoan truyền thống và MPD.

I.1.2 Khác nhau giữa MPD với UBD và phương pháp khoan truyền thống.

Mục đích của MPD là kiểm soát áp suất đáy giếng nằm trong cửa sổ áp suất giống như phương pháp khoan truyền thống Tuy nhiên, MPD sử dụng thêm những thiết

bị mới nhờ đó kiểm soát áp suất giếng hiệu quả hơn cũng như cung cấp nhiều thông tin về những điều kiện đáy giếng Thông tin này và việc kiểm soát áp suất giếng có ích trong việc đưa ra những quyết định và định hướng tốt hơn khi khoan qua điều kiện áp suất phức tạp

MPD có vẻ giống như Khoan dưới cân bằng (UBD) Thậm chí, MPD còn sử dụng nhiều thiết bị giống như UBD Tuy nhiên, UBD có xu hướng ngăn chặn những vấn

đề ảnh hưởng đến thành hệ, trong khi MPD có ích trong việc ngăn chặn các vấn đề liên quan đến khoan UBD cho phép dòng chất lưu vỉa xâm nhập vào giếng bằng cách sử dụng cột dung dịch có áp suất bé hơn áp suất vỉa MPD di trì áp suất đáy giếng lớn hơn áp suất vỉa và bé hơn áp suất vỡ vỉa

“UBD liên quan đến những vấn đề vỉa, trong khi MPD liên quan đến những vấn đề khoan.”

I.1.3 Khi nào cần ứng dụng MPD?

Những trường hợp cần phải xem xét sử dụng MPD:

- Những vấn đề khoan mà các phương pháp khác không giải quyết được:

 Chất lưu xâm nhập và mất dung dịch

Trang 7

 Hiện tượng pittong – xilanh (Surge and Swab).

 Cửa sổ áp suất hẹp

- Thời gian không khoan (flat time) và thời gian không hiệu quả (NPT) cao

- Liên quan đến những vấn đề về Sức khỏe, An toàn và Môi trường (HSE)

- Hết cấp ống chống trước khi đến mục tiêu

Những vấn đề khoan mà MPD có thể giảm thiểu:

- Giảm thiểu hiện tượng dầu khí phun và mất dung dịch

- Giảm vấn đề kẹt cần

- Giúp đạt đến mục tiêu khi khoan các giếng sâu

- Ổn định thành hố khoan tốt hơn

- Giảm thời gian không khoan và thời gian không hiệu quả

- Giảm số cấp ống chống

- Giúp sớm phát hiện và giảm thiểu thể tích chất lưu xâm nhập

- Giảm số lần thay đổi dung dịch khoan để đạt đến mục tiêu

- Giảm thiểu vấn đề phình và ép của thành hệ (ballooning

andbreathing), cũng như hiện tượng pittong – xilanh (surge and swab)

Hình 2 cho thấy thời gian không hiệu quả (NPT) để xử lý những vấn đề như: phun trào, mất dung dịch, kẹt cần…có thể được giảm thiểu 42% nhờ phương pháp MPD

Hình 2 Những sự cố MPD có thể giảm thiểu.

Trang 8

I.1.4 Phân loại.

Hiện nay có nhiều cách phân loại kỹ thuật MPD Trong phạm vi nghiên cứu của đồ án này, MPD sẽ được phân loại để có cái nhìn tổng quát về các phương pháp đặc trưng của MPD Vì vậy, một số phương pháp mới đang được nghiên cứu sẽ không được đề cập trong

đồ án này

MPD được chia thành 4 “loại” (Variations), đó là: Khoan với áp suất đáy ổn định (Constant Bottomhole Pressure - CBHP), Mũ dung dịch được gia áp (Pressurized Mud Cap Drilling - PMCD), Khoan với tỷ trọng kép (Dual Gradient – DG) và Khoan kiểm soát dòng về hoặc khoan bảo đảm Sức khỏe, An toàn, Môi trường (Health, Safe and Enviroment – HSE) Trong đó, một số “loại” bao gồm nhiều “phương pháp” (Method) nhỏ

Hình 3 Phân loại các phương pháp MPD.

I.2 Kỹ thuật khoan Kiểm soát áp suất.

Phần này sẽ thể hiện chi tiết hơn về bản chất của từng phương pháp được phân loại ở phần trước

I.2.1 Khoan với áp suất đáy ổn định (CBHP).

CBHP được sử dụng rất rộng rãi nhằm duy trì áp suất đáy luôn ổn định khi giếng chuyển từ trạng thái không tuần hoàn sang tuần hoàn

Á p s u ấ t

H ệ t h ô n g t u ầ n h o à n l i ê n t ụ c

Ứ n g d ụ n g á p s u ấ t h ồ i

H ò a t a n d u n g d ị c h k h o a n

D u n g d ị c h n â n g

M ũ d u n g d ị c h g i a á p P M C D

H ệ t h ô n g t u ầ n h o à n l i ê n t ụ c

Ứ n g d ụ n g á p s u ấ t h ồ i

H ò a t a n d u n g d ị c h k h o a n

D u n g d ị c h n â n g

T ỷ t r ọ n g k é p D G

H ệ t h ô n g t u ầ n h o à n l i ê n t ụ c

Ứ n g d ụ n g á p s u ấ t h ồ i

H ò a t a n d u n g d ị c h k h o a n

D u n g d ị c h n â n g

S ứ c k h ỏ e , A n t o à n , M ô i t r

H ệ t h ô n g t u ầ n h o à n l i ê n t ụ c

Ứ n g d ụ n g á p s u ấ t h ồ i

H ò a t a n d u n g d ị c h k h o a n

D u n g d ị c h n â n g

Trang 9

và ngược lại Có được áp suất đáy ổn định mang đến nhiều lợi ích như:

- Tránh được các vấn đề khoan liên quan đến sự thay đổi liên tục tỷ trọng dung dịch tương đương

- Khoan qua tầng có cửa sổ áp suất hẹp

- Đạt đến mục tiêu một cách an toàn và giảm thời gian không hiệu quả NPT

CBHP bao gồm hai phương pháp: Ứng dụng áp suất hồi (Application

of Back Pressure - ABP) và Hệ thống tuần hoàn liên tục (Continuous Circulation System – CCS) ABP sử dụng bơm để tạo ra áp suất hồi tại vành xuyến khi tháo hay lắp cần khoan, nhằm duy trì áp suất đáy giếng giống như khi đang tuần hoàn CCS sử dụng thiết bị Đầu nối tuần hoàn liên tục ( Continuous Circulation Coupler – CCC) nhằm duy trì tuần hoàn dung dịch khoan ngay cả khi đang tháo, lắp cần

I.2.1.1 Ứng dụng áp suất hồi.

Trong phương pháp khoan truyền thống, dung dịch khoan có tỷ trọng thích hợp được lựa chọn để áp suất giếng nằm trong cửa sổ áp suất Khi giếng ở trạng thái tĩnh, áp suất đáy giếng là áp suất thủy tĩnh của cột dung dịch khoan Khi chuyển sang trạng thái tuần hoàn, áp suất đáy giếng bao gồm áp suất ma sát vành xuyến (annulus friction pressure) và áp suất do tỷ trọng tuần hoàn tương đương (Equivalent Circulation Density – ECD) Do vậy, đối với vỉa có của sổ áp suất hẹp, giếng có thể được kiểm soát ở trạng thái tĩnh, nhưng khi tuần hoàn

áp suất đáy giếng sẽ vượt qua áp suất vỡ vỉa, điều đó làm ảnh hưởng đến thành hệ Ngược lại, nếu giảm tỷ trọng dung dịch khoan

để kiểm soát giếng khi tuần hoàn thì hiện tượng chất lưu vỉa xâm nhập sẽ xảy ra khi ngưng tuần hoàn

Conventional Drilling

CBHP MPD

Bảng 1 So sánh áp suất đáy giữa khoan truyền thống và CBHP

ABP có thể sử dụng dung dịch khoan với tỷ trọng nhẹ hơn bằng cách tạo áp suất hồi từ bề mặt khi giếng không tuần hoàn Khi tuần hoàn,

áp suất hồi tại vành xuyến được giảm tương ứng với sự xuất hiện

Trang 10

của áp suất ma sát (AFP), nhờ đó áp suất đáy giếng được duy trì ổn

định (Hình 4).

Hình 4 Quá trình thay đổi áp suất đáy khi tuần hoàn và ngưng tuần hoàn.

I.2.1.2 Hệ thống tuần hoàn liên tục (CCS).

Trong phương pháp khoan truyền thống, việc tuần hoàn dung dịch phải tạm dừng khi tháo lắp cần, nhưng CCS cho phép việc tuần hoàn dung dịch được thực hiện trong giai đoạn này Điều này có ích trong việc ngăn chặn một số vấn đề xảy ra khi tắt mở bơm liên tục

Khi ngưng tuần hoàn dung dịch, sự suy giảm của áp suất đáy giếng

có thể dẫn đến sự cố phun trào vì sự xâm nhập của chất lưu vỉa Thậm chí thành hệ có thể nén ép hố khoan gây ra kẹt cần Hơn nữa, khi ngưng tuần hoàn, dung dịch khoan sẽ bắt đầu hình thành trạng thái “keo” (gel) Khi khởi động bơm, áp suất gia tăng cho đến khi phá vỡ trạng thái keo và gây ra hiện tượng tăng áp suất đột ngột

(pressure spike) như Hình 5 Điều này làm cho dung dịch khoan đi

vào thành hệ

Trang 11

Hình 5 Sự thay đổi đột ngột của áp suất khi tắt và khởi động tuần hoàn.

CCS có thể giải quyết những vấn đề trên bằng cách sử dụng Đầu nối tuần hoàn liên tục (Continuous Circulation Coupler –CCC) Qui trình hoạt động của CCC khi tháo lắp cần được thể hiện như Hình CCC ôm chặt cần khoan, rams trên và rams dưới đóng để tạo thành một buồng kín, đường dung dịch khoan vào buồng này mở để gia áp như bước 2 trong hình Đường vào dung dịch qua ống đứng đóng, quá trình tháo cần được tiến hành bằng Snubber, rams giữa đóng để chia buồng thành hai phần riêng biệt như bước 3 trong hình Dung dịch khoan ở phần trên được xả ra như bước 4 trong hình Sau đó cần chủ đạo di chuyển để gắn cần khoan mới như bước 5

Sử dụng CCS đem lại nhiều lợi ích như:

 Giảm thời gian không tuần hoàn

 Giảm khả năng kẹt cần bởi giữ mùn khoan không lắng xuống đáy giếng

 Tỷ trọng tuần hoàn tương đương luôn được duy trì

Trang 12

Hình 6 Cấu tạo của CCC

Trang 13

Hình 7 Qui trình tháo lắp cần có sử dụng CCC.

Trang 14

I.2.2 Khoan với mũ dung dịch tạo áp (PMCD).

PMCD là phương pháp thích hợp cho những giếng xảy ra hiện tượng phun trào và mất dung dịch nghiêm trọng PMCD thường được sử dụng khi khoan qua tầng móng nứt nẻ và tầng cacbonat

Hình 8 trình bày hai phương pháp được sử dụng khi khoan tầng có

cửa sổ áp suất hẹp Trong trường hợp sử dụng phương pháp CBHP thì

áp suất hồi tại bề mặt rất cao Khi đó phương pháp PMCD có thể xem xét đưa vào sử dụng

Hình 8 Hai giải pháp (CBHP và PMCD) cho vỉa có cửa sổ áp suất hẹp

PMCD sử dụng kết hơp hai dung dịch khoan khác nhau, một dung dịch mù (sacrifical fluid) nhẹ, rẻ tiền và một dung dịch có tỷ trọng lớn hơn Dung dịch mù rẻ tiền, thường được sử dụng là nước biển, được bơm trong cần khoan và qua choong khoan Mùn khoan sẽ được đưa vào vùng mất dung dịch bởi dung dịch mù Dung dịch nặng, hiện diện tại vành xuyến trên vùng bị mất dung dịch, nhằm

duy trì áp suất đáy giếng và tránh hiện tượng phun trào (Hình 9).

Trang 15

Hình 9 Kỹ thuật khoan với mũ dung dịch tạo áp

Những lợi ích của phương pháp PMCD:

 Giải quyết được hiện tượng mất dung dịch trầm trọng mà các phương pháp khác không làm được

 Cắt giảm chi phí một cách đáng kể vì dung dịch khoan đắt tiền không đi vào thành hệ

 Cải thiện tốc độ khoan cơ học (ROP) vì khoan với dung dịch mù

có tỷ trọng nhẹ

 Giảm đáng kể thời gian không hiệu quả (NPT) mà các phương pháp khoan khác phải có để giải quyết hiện tượng mất dung dịch và phun trào

I.2.3 Khoan với tỷ trọng kép (DG).

Đối với môi trường biển sâu, nước biển đóng vai trò đáng kể làm cửa

sổ áp suất hẹp vì tỷ trọng của nước biển bé hơn đất đá rất nhiều Bên cạnh cửa sổ áp suất hẹp, khi khoan ở biển sâu, số cấp ống

Trang 16

chống có thể hết khi chưa đạt đến mục tiêu hoặc đường kính giếng không như mong muốn Tuy nhiên, DG có thể giúp khoan đến mục tiêu với đường kính giếng như mong muốn

I.2.3.1 Khoan sử dụng bơm nâng dung dịch (SMD).

SMD sử dụng các thiết bị như: Bơm dung dịch nâng (Seawater Pump), Bộ chuyển hướng tuần hoàn đặt ở đáy biển (Subsea Rotating Diverter), Bộ xử lý mùn khoan (Cutting Process)…Các thiết bị chi tiết

được thể hiện như trong Hình 10.

Hình 10 Sơ đồ thiết bị sử dụng trong phương pháp SMD

Dung dịch mang theo mùn khoan, bộ xử lý mùn khoan sẽ tách và nghiền mùn khoan thành bột Sau đó, dung dịch được đưa lên bề mặt qua đường hồi (return line) bằng sự trợ giúp của Bơm nâng dung dịch ở đáy biển mà không gây ra các vấn đề với ống chống.Dung dịch khoan được sử dụng có tỷ trọng lớn hơn nước biển, điều này giúp khoan qua thành hệ có của sổ áp suất hẹp và số cấp ống chống

ít hơn

Ngày đăng: 15/02/2022, 21:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w