1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY ĂN QUẢ TẠI VIỆT NAM. TS. Lê Văn Đức- Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt

18 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 276,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ứng dụng TBKT trong sản xuất Cho đến nay nhiều TBKT mới đã được nghiên cứu, áp dụng thành công trong sản xuất cây ăn quả: - Hàng nghìn cây đầu dòng, vườn đầu dòng cây ăn quả đã được bình

Trang 1

Hà Nội, ngày 12/11/2021

HIỆN TRẠNG

VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÂY ĂN QUẢ TẠI VIỆT NAM

TS Lê Văn Đức- Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt

Nước ta có điều kiện sinh thái đa dạng với chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cùng với sự phân hóa địa hình tạo nên các tiểu vùng sinh thái có thể phát triển được nhiều loại cây ăn quả (CAQ) có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới và

ôn đới, trong đó nhiều loại có năng suất và chất lượng khá tốt

Trong những năm gần đây, sản xuất cây ăn quả nước ta có bước phát triển khá toàn diện, liên tục tăng trưởng cả về diện tích, sản lượng, phục vụ tốt nhu cầu tiêu thụ nội địa và gia tăng xuất khẩu; đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng ngành nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập, làm giàu cho nông dân tại nhiều vùng địa phương trong cả nước

I Tổng quan

1 Diện tích, năng suất, sản lượng

Diện tích cây ăn quả cả nước và các vùng, miền nhìn chung có xu hướng

liên tục tăng trong những năm gần đây: Trong 10 năm từ 2009 - 2018, tổng diện tích cây ăn quả tăng bình quân 2,8%/năm (tương ứng 23,9 nghìn ha/năm), đạt 1,135 triệu ha năm 2020

Năng suất bình quân các loại cây ăn quả được cải thiện đáng kể, hiện ước đạt hơn 10 tấn/ha, tăng khoảng 1,5 lần so năm 2002 (7 tấn/ha)

Tổng sản lượng quả các loại ước đạt 12 triệu tấn, tăng gần 2,7 lần so năm

2002 (4,5 triệu tấn)

2 Cơ cấu chủng loại

Cơ cấu cây ăn quả đa dạng: thanh long, chuối, dứa, xoài, sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, nhãn, cam, bưởi, mít, mãng cầu, vải, nhãn, hồng, lê, đào, mận, mơ gồm loại quả nhiệt đới điển hình, á nhiệt đới và một số cây ăn quả ôn đới

Tính riêng 17 loại quả chủ yếu (trên 10 nghìn ha/loại) với diện tích hiện

có khoảng 980 nghìn ha, chiếm 86% tổng diện tích cây ăn quả cả nước

Trong đó chuối có diện tích lớn nhất (13% tổng diện tích); tiếp theo là xoài, cam, bưởi (8-10%), nhãn, sầu riêng, thanh long, mít (5-7%), vải, dứa, chanh, bơ, na, chôm chôm (2-5%), quýt, ổi, mận (1-2%)

Các cây ăn quả còn lại khác chiếm khoảng 14% tổng diện tích

Bảng 1 Cơ cấu cây ăn quả chủ yếu (2020)

TT Loài cây DT (ha) Tỷ lệ so tổng DT cây ăn quả cả nước (%)

Trang 2

6 Sầu riêng 71.381,4 6,29

3 Phân bố sản xuất

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng cây ăn quả chủ lực (chiếm 33,3% tổng diện tích cây ăn quả cả nước), tiếp đến là TDMNPB (23,3%), Đông Nam

bộ (11,2%), Đồng bằng sông Hồng (8,9%), Tây Nguyên (8,5%), Duyên hải Nam Trung bộ (8,2%) và Bắc Trung bộ (6,6%)

Bảng 2 Diện tích cây ăn quả các vùng của cả nước năm 2020

4 Ứng dụng TBKT trong sản xuất

Cho đến nay nhiều TBKT mới đã được nghiên cứu, áp dụng thành công trong sản xuất cây ăn quả:

- Hàng nghìn cây đầu dòng, vườn đầu dòng cây ăn quả đã được bình tuyển/thẩm định, chuyển giao cho sản xuất ở nhiều địa phương;

- Nhiều giống cây ăn quả mới được chọn, tạo chuyển giao kịp thời cho sản xuất như vải chín sớm; nhãn chín muộn, nhãn Ido, nhãn lai; cam không hạt, cam chín sớm, cam chín muộn; bưởi đỏ; thanh long (ruột đỏ, ruột tím hồng); hồng không hạt; sầu riêng (Ri6, Dona); chôm chôm Dona; chanh leo Đài Nông 1; bơ Booth7; chuối (Tiêu hồng, GL3-1); dứa MD2; táo 05; hồng MC1; lê TaiNung…;

- Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong canh tác được áp dụng trên quy mô hàng nghìn ha như: quy trình nhân và sản xuất chuối tiêu từ cấy mô; ghép cải tạo thay thế giống và trẻ hóa những vườn cây già cỗi; tỉa cành tạo tán; tưới nước tiết kiệm; thụ phấn bổ sung (bưởi, na); quy trình nhân và sản xuất chuối tiêu từ cấy mô; quy trình công nghệ tác động giai đoạn ở cận và sau thu hoạch cho giống nhãn chín muộn, xử lý khắc phục hiện tượng ra quả cách năm trên cây nhãn; sử

Trang 3

dụng đèn tiết kiệm điện (Compact, Led) xử lý ra hoa thanh long; kỹ thuật xử lý

ra hoa xoài, nhãn nghịch vụ; cải thiện tăng đậu quả và chống rụng quả non chôm chôm; xử lý ra hoa vải, phòng trừ sâu đục cuống quả vải

- Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới được chuyển giao ứng dụng trong bảo quản rau quả tươi như: chế phẩm sinh học Retain (có nguồn gốc tự nhiên) cho một số loại cây ăn quả (cam, quít) làm chậm quá trình chín, kéo dài thời gian thu hoạch, giảm tỷ lệ quả rụng; quy trình công nghệ sơ chế, bao gói MAP, bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ xuất khẩu vải, nhãn,

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố như sản xuất phân tán, cùng với việc đầu tư

cơ sở hạ tầng, đầu tư vốn cho sản xuất chưa đồng bộ nên việc phổ biến, triển khai áp dụng các TBKT một cách đồng bộ, rộng rãi còn hạn chế

5 Kết quả sản xuất rải vụ thu hoạch

Cùng với sự quan tâm của các địa phương trong ứng dụng cơ cấu giống,

kỹ thuật canh tác rải vụ đã và đang hình thành rõ nét trong sản xuất cây ăn quả tại nhiều địa phương trên cả nước, góp phần thuận lợi cho tiêu thụ tươi và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

- Phía Bắc: Tại nhiều vùng tập trung, thời vụ thu hoạch cam, bưởi hiện kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2, 3 năm sau; vải từ tháng 5 tới nửa đầu tháng 7; nhãn từ giữa tháng 7 tới cuối tháng 9, đầu tháng 10

- Phía Nam: Triển khai thực hiện Quyết định số 1648/QĐ-BNN-TT ngày 17/7/2013 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về Phê duyệt quy hoạch vùng cây ăn quả chủ lực trồng tập trung và định hướng rải vụ một số cây ăn quả

ở Nam bộ đến năm 2020 (gồm 5 cây: thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng và nhãn); các tỉnh đã chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể tại địa phương, cùng với sự nhiệt tình tham gia của nông dân, doanh nghiệp đã thúc đẩy sản xuất rải vụ thu hoạch trái cây có những bước tiến vững chắc, hiệu quả

Sản xuất rải vụ thu hoạch trái cây đang trở thành phương thức sản xuất quan trọng đối với cây ăn trái tại các tỉnh, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: Kết quả rải vụ năm 2020 với 5 loại trái cây (thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng và nhãn) tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long đạt khoảng 73,8 nghìn ha chiếm 66,4% tổng diện tích thu hoạch, tổng sản lượng rải vụ 1.248,4 nghìn tấn, chiếm 57,1% tổng sản lượng, trong đó:

+ Cây Sầu riêng: diện tích rải vụ 6,3 nghìn ha, bằng 52,9% tổng diện tích thu hạch; ước sản lượng rải vụ 136,0 nghìn ha, bằng 49% tổng sản lượng;

+ Cây Xoài: diện tích rải vụ 11,2 nghìn ha, bằng 47,1% tổng diện tích thu hoạch; ước sản lượng 144,2 nghìn tấn, bằng 46,5% tổng sản lượng;

+ Cây Nhãn: diện tích rải vụ 8,1 nghìn ha, bằng 42,2% tổng diện tích thu hoạch; ước sản lượng 82,1 nghìn tấn, bằng 38% tổng sản lượng;

+ Cây Chôm chôm: diện tích rãi vụ 3,1 nghìn ha; đạt 46,6% tổng diện tích thu hoạch; ước sản lượng 39,7 nghìn tấn, bằng 32,2% tổng sản lượng;

+ Cây Thanh long: diện tích rải vụ 45,1 nghìn ha; đạt 90,9% tổng diện tích thu hoạch; ước sản lượng 846,3 nghìn tấn;

Việc rải vụ tạo điều kiện giảm áp lực tiêu thụ sản lượng tập trung vào chính vụ, giá bán ổn định và cao hơn, hiệu quả sản xuất cao hơn chính vụ 1,5

Trang 4

đến 2 lần, góp phần tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu của ngành hàng cây ăn quả nước ta thời gian qua

6 Chứng nhận sản phẩm

- Chứng nhận GAP:

Sơ bộ tổng diện tích chứng nhận VietGAP cây ăn quả trên phạm vi cả nước (còn hiệu lực đến nay) khoảng 18,5 nghìn ha, trong đó:

+ Các tỉnh Miền Bắc có hơn 7,9 nghìn ha (43%), diện tích chứng nhận tập trung vào các loại quả chủ yếu: cam, vải, nhãn, xoài, na, ổi…

+ Các tỉnh Miền Nam có 10,6 nghìn ha (57%), diện tích chứng nhận tập trung vào thanh long, nhãn, xoài, cam, bưởi…

+ Diện tích chứng nhận tính riêng đối với thanh long hơn 7,9 nghìn ha (chiếm gần 43%), cây có múi (cam, bưởi, chanh, quýt) hơn 6,6 nghìn ha (chiếm hơn 35%)

Nhìn chung tổng diện tích chứng nhận VietGAP hiện còn hạn chế, mới đạt gần 2% tổng diện tích cây ăn quả cả nước

- Sơ bộ đến nay đã xây dựng, cấp 24 chứng nhận chỉ dẫn địa lý, trong đó: Riêng quả có múi: 10 chỉ dẫn (Cam sành Hà Giang, cam Cao Phong, quýt Bắc Kạn, bưởi Đoan Hùng, bưởi Luận Văn, bưởi Phúc Trạch, cam Vinh, bưởi Tân Triều, bưởi Năm Roi Bình Minh, bưởi Da xanh Bến Tre);

Các loại quả khác gồm: thanh long Bình Thuận, vải thiều Thanh Hà, vải thiều Lục Ngạn, xoài cát Hòa Lộc, xoài tròn Yên Châu, chuối Ngự Đại Hoàng, hồng không hạt Bắc Kạn, hồng không hạt Bảo Lâm, hồng không hạt Quản Bạ, mãng cầu (na) Bà Đen, nho Ninh Thuận, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim, chôm chôm Long Khánh, nhãn lồng Hưng Yên

7 Về chế biến

Trái cây Việt Nam chủ yếu được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ở dạng tươi (khoảng trên 90%) còn lại để chế biến

Cả nước có trên 150 cơ sở chế biến rau quả quy mô công nghiệp (trong

đó miền Bắc 49%, miền Trung 12,4%, miền Nam 38,6%) Những địa phương tập trung nhiều doanh nghiệp chế biến rau quả là: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Lâm Đồng và Tp Hồ Chí Minh Doanh nghiệp chế biến trái cây chủ yếu

là doanh nghiệp dân doanh (chiếm 69,7% tổng số doanh nghiệp), doanh nghiệp vốn nhà nước chỉ chiếm tỷ lệ thấp (4,1%)

Tổng công suất thiết kế của các cơ sở chế biến quy mô công nghiệp khoảng 1,0 triệu tấn sản phẩm/năm nhưng sản lượng thực tế chỉ đạt khoảng trên

500 nghìn tấn sản phẩm/năm Tỷ lệ sử dụng công suất thiết kế bình quân là 56,2%, tuy nhiên có sự khác biệt khá lớn giữa các loại doanh nghiệp, giữa các vùng miền: doanh nghiệp nhà nước là 50,0%, doanh nghiệp có vốn nước ngoài

là 53,7%, doanh nghiệp ngoài nhà nước là 58,0%; ở khu vực miền Bắc là 33,0%, ở miền Trung là 96,8%, ở miền Đông Nam Bộ là 81,1% và ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là 53,1%

Những năm gần đây, doanh nghiệp trong và ngoài nước, nhất là các tập đoàn kinh tế lớn trong nước đã quan tâm đầu tư mạnh vào lĩnh vực này Điển hình như: Tập đoàn TH, Tập đoàn NAFOODS, Công ty CP xuất khẩu thực phẩm Đồng Giao (DOVECO), Công ty cổ phần Lavifood đã đầu tư phát triển

Trang 5

mạnh cơ sở vật chất chế biến, bảo quản rau quả; trong hai năm 2017-2018 các doanh nghiệp trên đã đầu tư xây dựng mới 6 nhà máy chế biến rau quả hiện đại với công suất 150.000 tấn sản phẩm/năm với số vốn đầu tư 5.300 tỷ đồng Nhiều công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại được sử dụng như thiết bị đóng gói của Tetra pak; công nghệ và thiết bị cô đặc có thu hồi hương; công nghệ và thiết

bị sấy lạnh, sấy bơm nhiệt

8 Xuất khẩu

Những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu rau quả nước ta liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, từ 151,5 triệu USD năm 2003 lên đạt 1,07 tỷ USD năm

2013, năm 2016 đạt 2,458 tỷ USD, bình quân là 32,2% năm trong giai đoạn 2011-2016

Năm 2018, giá trị xuất khẩu rau quả đạt mức cao nhất 3,81 tỷ USD, trong

đó ước tính các sản phẩm quả đạt 3,13 tỷ USD;

Mặc dù do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19, giá trị xuất khẩu rau quả năm

2019, 2020 có suy giảm nhưng vẫn đạt mức khá cao (hơn 3,7 tỷ USD năm 2019 và 3,27 tỷ USD năm 2020)

Trong khu vực ASEAN, Việt Nam là nước xuất khẩu rau quả đứng thứ 3 trong số 5 nhà xuất khẩu chính, chỉ sau Phillipines và Thái Lan Các mặt hàng rau, quả của Việt Nam đã xuất khẩu đến hơn 170 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

Các loại quả được xuất khẩu chủ yếu là thanh long (trên 1 tỷ USD/năm từ

2018 đến 2020), chuối, chôm chôm, nhãn, vải, xoài, măng cụt, sầu riêng, mít ;

Các thị trường xuất khẩu trái cây của Việt Nam được mở rộng và tăng trưởng mạnh: Từ 13 thị trường trên 1 triệu USD năm 2014, đến 2018 có 14 thị trường trên 20 triệu USD, 5 thị trường 10 - < 20 triệu USD, 36 thị trường đạt từ 1- < 10 triệu USD

Bên cạnh Trung Quốc là thị trường truyền thống, lớn nhất, nhiều loại rau quả nước ta đã được xuất khẩu vào các thị trường khó tính: Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU (Hà Lan, Đức, Pháp, ), Úc và các nước Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Tiểu Vương quốc Á-rập Thống nhất

II Hiện trạng một số cây ăn quả chủ yếu

1 Nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia phục vụ nội tiêu và xuất khẩu

Gồm các loại quả có diện tích, sản lượng lớn:

1.1 Thanh long

- Trong 10 năm từ 2009 - 2018, tốc độ tăng trưởng sản xuất thanh long bình quân về diện tích đạt 17,82%/năm (tương ứng 4,67 nghìn ha/năm), về sản lượng đạt 16,43%/năm (tương ứng 88 nghìn tấn/năm); riêng năng suất bình quân giảm 1,14%/năm

- Đến nay nước ta có 60/63 tỉnh, thành có trồng thanh long, với diện tích hơn 65,2 nghìn ha, sản lượng 1,37 triệu tấn Tuy nhiên vùng thanh long tập trung chủ yếu tại 03 tỉnh Bình Thuận, Long An, Tiền Giang (55,2 nghìn ha, chiếm gần 85% diện tích thanh long cả nước); trong đó Bình Thuận là tỉnh sản xuất thanh long lớn nhất (chiếm 52% diện tích và hơn 50% sản lượng so cả nước)

* Tiềm năng, lợi thế và một số hạn chế chủ yếu:

Trang 6

- Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về diện tích, sản lượng và xuất khẩu thanh long, chiếm thị phần cao nhất ở châu Á (đặc biệt là Trung Quốc), châu Âu và một số thời điểm tại Mỹ;

- Thanh long ruột trắng Việt Nam được đánh giá cao về mẫu mã và chất lượng, có thề sản xuất quanh năm, đặc biệt là rải vụ thu hoạch nhờ áp dụng kỹ thuật chong đèn, tăng khả năng cạnh tranh;

- Bên cạnh giá trị dinh dưỡng, do hình thức và ý nghĩa của tên gọi, tín ngưỡng thờ cúng (người châu Á) nên trái thanh long có thị trường khá tốt;

- Giá trị xuất khẩu thanh long Việt Nam liên tục tăng, từ 57,15 triệu USD năm 2010 lên 483,41 triệu USD năm 2015; năm 2018 là 1,13 tỷ USD (chiếm 29,6% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước)

- Khoảng 80 - 85% sản lượng thanh long được xuất khẩu (trong đó: xuất khẩu chính ngạch chiếm khoảng 15 - 20%, xuất khẩu tiểu ngạch 80-85%), 15-20% tiêu thụ trong nước Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc chiếm trên 80%, kế đến là Singapore, Hồng Kông, Indonesia; gần đây Việt Nam đã

mở mới thị trường khó tính đầy tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Mỹ,

Úc Dự báo nhu cầu tiêu thụ thanh long cả nước đến năm 2020 khoảng 1.000 -1.100 nghìn tấn, trong đó: Trung Quốc 650 - 700 nghìn tấn, nội địa 200 - 250 nghìn tấn, các thị trường khác 80 - 100 nghìn tấn, công nghiệp chế biến 60 nghìn tấn;

- Dự báo thị trường tiêu thụ thanh long chính của Việt Nam vẫn là Trung Quốc, thị trường này đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng ngày càng cao khi xuất khẩu chính ngạch Trong tương lai sẽ chuyển dịch từ thanh long xuất khẩu tiểu ngạch sang xuất khẩu chính ngạch

Xuất khẩu thanh long Việt Nam sang các thị trường mới (Ấn Độ) và các thị trường khó tính (Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, châu Mỹ…) cũng như tiêu dùng trong nước và công nghiệp chế biến tăng trưởng chưa cao, một số nước trên thế giới (Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, ) cũng đang quan tâm phát triển và tăng sản lượng sản xuất thanh long Do vậy thị trường thanh long sẽ gặp khó khăn trong thời gian tới nếu Việt Nam tiếp tục tăng diện tích thanh long và chất lượng thanh long không đáp ứng tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu

1.2 Chuối

- Chuối là cây ăn quả có diện tích, sản lượng lớn nhất trong sản xuất cây

ăn quả nước ta với gần 148 nghìn ha, sản lượng 2.145 nghìn tấn (chiếm hơn 13%

về diện tích, khoảng 17% sản lượng cây ăn quả cả nước), với tốc độ tăng trưởng khá ổn định, liên tục trong nhiều năm qua

- Về phân bố, các tỉnh sản xuất chuối lớn như: Hà Nội, Phú Thọ, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Đồng Nai, Trà Vinh, Tiền Giang (trên 3000 ha/tỉnh)

* Tiềm năng, lợi thế và một số hạn chế chủ yếu:

Chuối là một trong những loại quả có nhu cầu tiêu thụ lớn nhất trên thế giới; giá trị xuất khẩu chuối toàn thế giới có xu hướng tăng;

Việt Nam thuộc nhóm các nước có diện tích và sản lượng chuối lớn trên thế giới; có nhiều giống chuối đặc sản quý được đánh giá có vị ngọt hơn, thơm hơn và có màu sắc đẹp hơn so Trung Quốc và Philippines; có lợi thế hơn

Trang 7

Philippines (quốc gia sản xuất, xuất khẩu chuối lớn) do ít bị ảnh hưởng của bão, tiếp giáp Trung Quốc nên có lợi về thời gian, chi phí vận chuyển,

Giá trị xuất khẩu chuối của Việt Nam tăng qua các năm, từ 1,1 triệu USD năm 2010 lên 44,4 triệu USD năm 2016 và hơn 179 triệu USD năm 2019, gần

163 triệu USD năm 2020 Tuy nhiên, xuất khẩu chuối nước ta hiện còn rất khiêm tốn so vị trí, tiềm năng lợi thế hiện có và nhu cầu thị trường; nguyên nhân chủ yếu do sản xuất phân tán, hạn chế về quản lý chất lượng, công nghệ sau thu hoạch và tiếp thị, cạnh tranh thị phần với các nước xuất khẩu lớn

1.3 Vải

Do yêu cầu chặt chẽ về điều kiện khí hậu để phân hóa mầm hoa, sản xuất vải được phát triển tập trung tại các tỉnh Miền Bắc, với 99% diện tích và sản lượng

Sau thời gian tăng trưởng nhanh về diện tích, sản lượng (từ 26 nghìn ha năm 1998 lên hơn 92 nghìn ha năm 2005), sau năm 2005 diện tích vải liên tục giảm (từ 92 nghìn ha xuống còn 52,3 nghìn ha hiện nay) Nguyên nhân chủ yếu

do biến động của thị trường tiêu thụ, công nghệ bảo quản, chế biến còn hạn chế, hiệu quả sản xuất vải chưa cao

Tuy suy giảm về diện tích, nhưng do ứng dụng rộng rãi TBKT trong điều khiển ra hoa, đậu quả nên năng suất vải bình quân được cải thiện rõ, từ mức phổ biến dưới 3 tấn/ha trước năm 2006 lên mức phổ biến trên 5 tấn/ha những năm gần đây, do vậy sản lượng vải khá ổn định, ở mức 300 - 350 nghìn tấn/năm; cá biệt điều kiện mùa Đông ấm niên vụ 2016-2017 làm cho vải mất mùa diện rộng, năng suất bình quân chỉ đạt 4 tấn/ha, tổng sản lượng khoảng 233 nghìn tấn

- Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hưng Yên; trong đó Bắc Giang là tỉnh sản xuất vải lớn nhất với hơn 28 nghìn ha (chiếm hơn 53%), tiếp đến là Hải Dương hơn 9 nghìn ha (18%)

- Cơ cấu giống chủ yếu: vải thiều Thanh Hà hiện là giống chủ lực, chiếm khoảng 80% diện tích; các giống vải sớm (U hồng, Phúc Hòa, Bình Khê, ) được quan tâm bổ sung trong cơ cấu giống thời gian qua, hiện chiếm khoảng 20% diện tích, góp phần rải vụ thu hoạch vải, thuận lợi cho tiêu thụ tươi và cung cấp nguyên liệu cho chế biến

* Tiềm năng, lợi thế và một số hạn chế chủ yếu:

- Việt Nam có vị trí thứ 3 trên thế giới về sản xuất vải (chiếm hơn 10% tổng sản lượng), sau Trung Quốc và Ấn Độ, tiếp theo gồm các nước Madagascar, Đài Loan, Thái Lan,

- Lợi thế giống chủ lực là vải thiều đặc sản Thanh Hà, có giá trị hàng hóa,

đã và đang được xuất khẩu tới nhiều thị trường; giá trị xuất khẩu vải Việt Nam

từ 0,6 triệu USD năm 2010 lên 12,2 triệu USD năm 2015; 52,1 triệu USD năm

2016 và hơn 41,5 triệu USD năm 2019, hơn 33 triệu USD năm 2020

- Vải là loại cây ăn quả á nhiệt đới điển hình, phạm vi phân bố khá hẹp;

có yêu cầu khắt khe về điều kiện lạnh, khô trong mùa Đông để phân hóa hoa, ra hoa (Đặc biệt là với giống thiều Thanh Hà - giống chủ lực trong sản xuất vải nước ta) Đây cũng là lợi thế do ít có quốc gia có điều kiện sản xuất, cạnh tranh; tuy nhiên trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay, khó đảm bảo ổn định năng suất, sản lượng

Trang 8

- Vải không thuộc nhóm quả có giá trị xuất khẩu lớn trên thế giới và là một trong những loại quả tươi khó bảo quản nhất, thời gian thu hoạch tập trung ngắn, năng suất thấp và không ổn định nên hạn chế trong vận chuyển, tiêu thụ tươi, hiệu quả sản xuất chưa cao so một số cây trồng khác

1.4 Nhãn

- Từ năm 2004 đến năm 2016 diện tích trồng nhãn nước ta liên tục giảm,

từ 121,1 nghìn ha xuống 73,3 nghìn ha; chủ yếu do biến động thị trường tiêu thụ, cùng với bệnh chổi rồng hại nhãn tại phía Nam những năm gần đây; sản lượng nhãn có xu hướng giảm nhẹ, nhưng không biến động lớn, duy trì mức

500 - 550 nghìn tấn/năm, do xu hướng tăng năng suất Từ năm 2017 diện tích nhãn có xu hướng tăng, hiện nay đạt hơn 80 nghìn ha

Các tỉnh sản xuất nhãn lớn gồm Sơn La, Hưng Yên, Tuyên Quang, Bắc Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Tiền Giang…

* Tiềm năng, lợi thế và một số hạn chế chủ yếu:

- Tại Châu Á, Việt Nam (cùng với Trung Quốc và Thái Lan) là một trong

số ít quốc gia có lợi thế khí hậu và đất đai phát triển cây nhãn Mùa vụ thu hoạch nhãn của Thái Lan là từ tháng 7 đến tháng 9; Trung Quốc từ tháng 5 -tháng 7 Theo thống kê của FAO, sản lượng nhãn của thế giới khoảng 8,7 triệu tấn, trong đó Trung Quốc diện tích 500 ngàn ha, sản lượng 4,2 triệu tấn, chủ yếu tiêu dùng trong nước Thái Lan diện tích 253 ngàn ha, sản lượng 2,0 triệu tấn; tiếp đến là Việt Nam có diện tích 64 ngàn ha, sản lượng 500 ngàn tấn

- Giá trị xuất khẩu nhãn Việt Nam liên tục tăng thời gian gần đây: từ 8,1 triệu USD năm 2010 lên 22,5 triệu USD năm 2016, hơn 145 triệu USD năm 2019; năm 2020 còn hơn 32 triệu USD

- Sản xuất nhãn rải vụ: Miền Bắc đã và đang hình thành cơ cấu giống rải

vụ thu hoạch thuận lợi cho tiêu thụ tươi thị trường nội địa và xuất khẩu (nhóm chín sớm, chính vụ và chín muộn, thời gian thu hoạch kéo dài từ nửa cuối tháng

7 đến cuối tháng 9, đầu tháng 10); Miền Nam có thể thực hiện rải vụ thu hoạch nhãn quanh năm nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long

- Cũng như đối với vải, nhãn không thuộc nhóm quả có giá trị xuất khẩu lớn trên thế giới, tuy nhiên thời vụ thu hoạch nhãn không quá tập trung nên thuận lợi hơn cho tiêu thụ

- Hạn chế chủ yếu là năng suất nhãn bình quân còn thấp, giá thành sản xuất cao, một số giống chất lượng chưa cao, bị ảnh hưởng do bệnh chổi rồng trong những năm gần đây, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh, về chất lượng giống nhãn chủ lực Tiêu da bò còn hạn chế so với một số giống của Thái Lan; giống nhãn Xuồng cơm vàng có chất lượng tốt nhưng năng suất thấp, giá thành cao nên chưa khuyến khích phát triển

1.5 Cam

- Giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 diện tích cam cả nước có xu hướng giảm, từ 77,7 nghìn ha xuống còn 50,8 nghìn ha (bình quân giảm 8,4%/năm, tương ứng 5,5 nghìn ha/năm)

Nguyên nhân chủ yếu do biến động của thị trường tiêu thụ, giá bán giảm, vườn cây không được đầu tư thâm canh, sâu bệnh hại (đặc biệt là bệnh vàng lá Greening) phát sinh phát triển và gây hại mạnh

Trang 9

Từ năm 2013 đến nay sản xuất cam được phục hồi, diện tích có xu hướng tăng đáng kể, từ 53,8 nghìn ha lên 96,5 nghìn ha năm 2020

Năng suất cam từ năm 2011 đến nay có sự tăng trưởng liên tục, bình quân đạt trên 12 tấn/ha, tăng hơn 11% so trước năm 2011

Cùng với suy giảm diện tích, sản lượng cam có xu hướng giảm từ năm

2008 - 2012 và tăng trở lại từ năm 2013, ước đạt hơn 1,1 triệu tấn năm 2020

Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Nghệ An, Hà Tĩnh

Đáng chú ý, tại một số địa phương diện tích cam tăng nhanh, vượt khá cao so quy hoạch/kế hoạch sản xuất của địa phương như: Hà Giang, Bắc Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng…

* Tiềm năng, lợi thế và một số hạn chế chủ yếu:

- Việt Nam có diện tích thu hoạch và sản lượng cam lớn, đứng thứ 2 ở ĐNA (sau Indonesia)

- Sản xuất cam tại vùng ĐBSCL có lợi thế tự nhiên, có khả năng cho ra hoa và thu hoạch quanh năm, thuận lợi cho việc cung cấp quả tươi và nguyên liệu cho phát triển công nghiệp chế biến;

- Sản phẩm cam nước ta chủ yếu sử dụng cho nhu cầu ăn tươi thị trường nội địa, chưa có nhiều khả năng cạnh tranh xuất khẩu do mẫu mã chưa hấp dẫn, giống có nhiều hạt, chế biến chưa phát triển Giá trị xuất khẩu cam (quả tươi) của Việt Nam hầu như không đáng kể, chỉ từ 15 nghìn USD 2015 đến 132 nghìn USD năm 2020

1.6 Bưởi

- Từ 2008 đến nay diện tích bưởi cả nước nhìn chung liên tục tăng, từ 43,5 nghìn ha lên hơn 98 nghìn ha năm 2020

Năng suất bưởi có sự biến động qua các năm, tuy nhiên không có sự thay đổi lớn, ở mức từ 11,0 - 11,9 tấn/ha

Cùng với gia tăng diện tích và ổn định về năng suất, sản lượng bưởi tăng trưởng khá ổn định hàng năm, từ 362,8 nghìn tấn năm 2008 lên hơn 833 nghìn tấn năm 2020

- Các tỉnh sản xuất chủ yếu gồm: Phú Thọ, Bắc Giang, Hòa Bình, Tuyên Quang, Hà Nội, Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Nai

Đáng chú ý một số nơi diện tích trồng bưởi tăng nhanh, như các địa phương Bến Tre, Vĩnh Long, Đồng Nai

* Tiềm năng, lợi thế và một số hạn chế chủ yếu:

- Việt Nam là quốc gia lớn về diện tích, sản lượng bưởi

- Có nhiều giống bưởi đặc sản quý có giá trị hàng hóa, chất lượng cao Tuy nhiên ngoại trừ giống bưởi Da xanh, Năm roi (phổ biến tại phía Nam), giống bưởi phía Bắc thường có nhiều hạt làm hạn chế khả năng cạnh tranh

- Bưởi Trung Quốc chất lượng không cao, không đặc sắc; chỉ có thể thu hoạch vào vụ chính từ tháng 9 đến tháng 12, còn bưởi Việt Nam có thể cho thu hoạch quanh năm (Giống bưởi da xanh Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh khi tham gia xuất khẩu)

- Bưởi có ưu thế so một số loại trái cây khác là dễ tồn trữ, thời gian bảo quản sau thu hoạch dài, vỏ dày, dễ xử lý ruồi đục trái…

Trang 10

- Giá trị xuất khẩu bưởi toàn thế giới không lớn, khoảng 1,1 - 1,2 tỷ USD/ năm từ 2009 - 2013 Mặc dù giá trị xuất khẩu bưởi (quả tươi) của Việt Nam có

xu hướng tăng, đạt trên 3 triệu USD năm 2017 và trên 14,2 triệu USD năm

2020, tuy nhiên nhìn chung còn khiêm tốn so vị trí sản xuất

1.7 Xoài

- Từ năm 2009 - 2015 diện tích xoài cả nước có xu hướng suy giảm (từ 87,6 nghìn ha xuống 83,7 nghìn ha) Thời gian gần đây, diện tích xoài tăng nhanh, từ 86,8 nghìn ha năm 2016 lên hơn 111 nghìn ha năm 2020; năng suất xoài đạt khoảng 10 tấn/ha, sản lượng gần 893 nghìn tấn năm 2020

Miền Nam là vùng trồng xoài trọng điểm, chiếm 75,5% diện tích xoài

cả nước; các tỉnh sản xuất lớn nhất là Đồng Nai, An Giangvà Đồng Tháp (10.169 ha)

- Tại Miền Bắc, Sơn La là tỉnh sản xuất xoài chủ yếu (19 nghìn ha, chiếm hơn 68%)

* Tiềm năng, lợi thế và một số hạn chế chủ yếu:

- Việt Nam thuộc nhóm 11 nước có diện tích thu hoạch và sản lượng các loại quả xoài, măng cụt, ổi lớn nhất thế giới (tương ứng bằng 1,43% và 1,61%); đứng thứ 4 ở Đông Nam Á (sau Thái Lan, Philippines, Indonesia);

- Giá trị xuất khẩu xoài Việt Nam tăng mạnh qua các năm, từ 0,46 triệu USD năm 2010 lên 35,43 triệu USD năm 2016, hơn 198 triệu USD năm 2019

và 180 triệu USD năm 2020;

- Sản xuất xoài Việt Nam có thể rải vụ thu hoạch tại vùng ĐBSCL (vùng xoài lớn nhất cả nước); có một số giống xoài đặc sản, đã và đang tham gia xuất khẩu (xoài cát Hoà Lộc, Cát Chu, xoài Xiêm Núm, xoài Úc - Khánh Hòa, xoài Tượng Xanh) nên có thể gia tăng xuất khẩu trong thời gian tới

1.8 Dứa

- Từ năm 2006 diện tích dứa toàn quốc suy giảm mạnh và có xu hướng giảm do hạn chế trong chế biến, tiêu thụ, hiệu quả kinh tế từ cây dứa chưa cao nên khó cạnh tranh với một số cây trồng khác Từ năm 2011 - 2016, diện tích dứa duy trì ở mức khoảng 40 nghìn ha/năm, sản lượng hàng năm đạt gần 600 nghìn tấn, có xu hướng tăng từ năm 2017, đến nay ước đạt 46 nghìn ha, sản lượng trên 700 nghìn tấn);

- Trên phạm vi cả nước, ĐBSCL là vùng sản xuất dứa lớn nhất (chiếm 61% diện tích), tập trung chủ yếu tại 2 tỉnh Tiền Giang, Kiên Giang

Các tỉnh sản xuất dứa đáng kể khác (trên 1000 ha/tỉnh) gồm: Hậu Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Lào Cai

* Tiềm năng, lợi thế và một số hạn chế chủ yếu:

- Trên thị trường thế giới, dứa thuộc nhóm quả có nhu cầu sử dụng khá Dứa Việt Nam (sản phẩm chế biến) đã được xuất khẩu tới nhiều thị trường, nên

có điều kiện để gia tăng thị phần này Tuy nhiên, giá trị xuất khẩu dứa của Việt Nam không lớn, biến động qua các năm, từ 4,85 triệu USD năm 2015 xuống còn 3,76 triệu USD năm 2017

- Việt Nam thuộc nhóm 9 nước có diện tích và sản lượng dứa lớn nhất thế giới (tương ứng bằng 3,40% và 2,36%); đứng thứ 3 ở Đông Nam Á về diện tích

Ngày đăng: 15/02/2022, 02:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w