1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Đồ án tốt nghiệp APEC - Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương ppt

48 1,1K 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đồ án tốt nghiệp APEC - Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương ppt
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế và Hội nhập quốc tế
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 624,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tế khu vực.Mỹ lúc đầu tỏ ra ít quan tâm đến gợi ý này vì đang tập trung thúc đẩy tiến triển củavòng đàm phán U-ru-

Trang 1

Đồ án tốt nghiệp APEC - Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á

Thái Bình Dương

Trang 2

Mục lục

LỜI MỞ ĐẦU 3

B.NỘI DUNG 4

I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 4

II) TÔN CHỈ HOẠT ĐỘNG 13

III CƠ CẤU TỔ CHỨC 14

IV QUÁ TRÌNH RA NHẬP APEC VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM 27

V VIỆT NAM – APEC CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP 35

Trang 3

APEC - DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ

CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG

L I M Đ U Ờ Ở Ầ

Cho tới nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác

Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được 12 năm Trong những năm qua,Việt Nam đã chủ động, tích cực tham gia các chương trình hợp tác thương mại,

đầu tư trong APEC, mở rộng quan hệ với từng thành viên Năm 2006, Việt Namtrở thành nước chủ nhà của APEC với việc tổ chức trên 100 Hội nghị, hội thảo từcấp chuyên viên đến cấp Bộ trưởng để chuẩn bị cho Hội nghị các nhà Lãnh đạo

Kinh tế APEC được tổ chức vào tháng 11/2006

Để có thể chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng theo đường lối của.Đảng

và Nhà nước, đồng thời giúp các doanh nghiệp khai thác các cơ hội kinh

doanh từ việc đăng cai tổ chức APEC 2006, chúng ta đã và đang từng bước khẳngđịnh vị thế của mình trên trường quốc tế nói chung và trên diễn đàn nói riêng

Để thấy được tầm quan trọng và ảnh hưỏng của APEC tới các nền kinh tế củathế giới và đặc biệt là các nền kinh tế thành viên trong diễn đàn ta lần lượt đi tìm hiểu

sơ bộ về cơ cấu tổ chức cũng như hoạt động của diễn đàn

Biểu tượng của APEC

Trang 4

1980 đặt ra những đòi hỏi có tính khách quan cần tập hợp lực lượng của những nềnkinh tế trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương để đương đầu với cạnh tranh quốc

tế gay gắt APEC ra đời là kết quả hội tụ của các yếu tố trên nhằm khắc phục nhữngkhó khăn của chủ nghĩa toàn cầu, đồng thời nhằm liên kết các nền kinh tế phát triểntrong khu vực như Mỹ, Canađa, Australia, Nhật Bản, các nền kinh tế công nghiệp mớinhư Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và các nước đang phát triển như Trung Quốc,ASEAN lại với nhau, đưa khu vực này trở thành động lực cạnh tranh mạnh của nềnkinh tế thế giới

2 Qúa trình hình thành

Ngay từ những năm 1960, ý tưởng về liên kết kinh tế khu vực đã được một sốhọc giả người Nhật Bản đưa ra Năm 1965, hai học giả người Nhật Bản Kojima vàKurimoto đã đề nghị thành lập một "Khu vực mậu dịch tự do Thái Bình Dương" màthành viên gồm năm nước công nghiệp phát triển, có thể mở cửa cho một số thànhviên liên kết là các nước đang phát triển ở khu vực lòng chảo Thái Bình Dương Sau

đó, một số học giả khác như Tiến sĩ Saburo Okita (cựu Ngoại trưởng Nhật Bản) vàTiến sĩ John Crawford (Đại học Tổng hợp Quốc gia Ôt-xtrây-lia) đã sớm nhận thứcđược sự cần thiết phải xây dựng sự hợp tác có hiệu quả về kinh tế ở khu vực Tưtưởng này đã thúc đẩy những nỗ lực hình thành Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái BìnhDương (PECC) năm 1980 Chính PECC sau này đã cùng với ASEAN đóng vai tròquan trọng trong việc hình thành chế độ tư vấn kinh tế rộng rãi giữa các nền kinh tếtrong khu vực cũng như thúc đẩy ý tưởng thành lập APEC

- Vào cuối những năm 1980, một số quan chức chính phủ Nhật Bản, đặc biệt Bộtrưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp (MITI) lúc đó là Hajime Tamura, đã gợi ý

Trang 5

thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tế khu vực.

Mỹ lúc đầu tỏ ra ít quan tâm đến gợi ý này vì đang tập trung thúc đẩy tiến triển củavòng đàm phán U-ru-goay của GATT và hình thành Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc

Mỹ (NAFTA), trong khi chính phủ Công Đảng của Thủ tướng Bob Hawke ở xtrây-lia lúc đó đã nhận thức được tầm quan trọng thiết yếu của mối quan hệ kinh tế,thương mại với châu Á đối với Ôt-xtrây-lia nên đã kịp thời nắm bắt và thúc đẩy ýtưởng về một diễn đàn hợp tác kinh tế

- Tháng 1 năm 1989, tại Xê-un, Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ýtưởng về việc thành lập một Diễn đàn tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở châu Á - TháiBình Dương với mục đích phối hợp hoạt đjộng của các chính phủ nhằm đẩy mạnhphát triển kinh tế ở khu vực và hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương Australia, NhậtBản, Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brunei, New Zealand,Indonesia, Canada và Mỹ đã ủng hộ sáng kiến này Tháng 11 năm 1989, các Bộtrưởng Ngoại giao và Kinh tế của các nước nói trên đã họp tại Can-bê-ra, Ôt-xtrây-liaquyết định chính thức thành lập APEC

- Sau đó, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan (với tên gọitheo tiếng Anh là Chinese Taipei) vào tháng 11 năm 1991; Mexico, Papua New Ghinetháng 11 năm 1993; Chile tháng 11 năm 1994 và tạm ngừng thời hạn xét kết nạpthành viên trong ba năm Đến tháng 11 năm 1998, APEC kết nạp thêm ba thành viênmới là Peru, Liên bang Nga và Việt Nam, đồng thời quyết định tạm ngừng thời hạnxem xét kết nạp thành viên mới trong mười năm để củng cố tổ chức

- Đến nay APEC đã có 21 nước thành viên, bao gồm cả hai khu vực kinh tếmạnh và năng động nhất thế giới: khu vực Đông Á và khu vực Bắc Mỹ (gồm Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô) với những nét đặc thù và vô cùng đa dạng về chính trị, xã hội,kinh tế và văn hóa Chỉ trong mười năm đầu tồn tại và phát triển, các nền kinh tếthành viên APEC đã đóng góp gần 70% cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tếtoàn cầu

- So với toàn thế giới, APEC có vị trí quan trọng, diện tích chiếm 46%, dân sốchiếm 41,2%(với khoảng 2,5 tỷ dân), mật độ dân số bằng 89,8%, GDP chiếm57,7%(19.000 tỷ đô la Mỹ mỗi năm), GDP bình quân đầu người bằng 140,1%, chiếm47% thương mại thế giới, xuất khẩu chiếm 50,1%, xuất khẩu bình quân đầu ngườibằng 121,7% Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP đạt 19,1%, tuy thấp hơn tỷ lệ 22% của thếgiới, nhưng lại có những thành viên đạt rất cao, như: Singapore 196,5%; Hồng Kông;163,3%; Malaysia 121,2%; Brunei 74,5%; Thái Lan; 67,7%; Việt Nam 59,6%; ĐàiLoan 53%

Trang 6

- Trong số 14 nền kinh tế lớn nhất thế giới có GDP lớn hơn 500 tỷ USD (Mỹ,Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Trung Quốc, Italia, Canada, Tây Ban Nha, Mexico, HànQuốc, Ấn Độ, Australia, Hà Lan), thì có 7 là thành viên của APEC, trong đó có 2 nềnkinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ, Nhật Bản Đặc biệt, gần đây Trung Quốc với tốc độkinh tế liên tục tăng cao và tăng trong thời gian dài kỷ lục…

3 Sự gia nhập của các nền kinh tế thành viên

11 12–13 tháng 9

năm 1999 New Zealand Auckland

Trang 7

12 15–16 tháng 11

năm 2000

Brunei Darussalam

13 20–21 tháng 10

năm 2001

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Thượng Hải

- APEC ủng hộ tích cực cho việc mở cửa thương mại và miễn thuế, đầu tư trongđiều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Australia

Trang 8

Tổ chức lãnh đạo cấp cao của APEC tập hợp nguồn sức mạnh và là một trong những cuộc họp quan trọng hàng năm của thế giới, là một phần không thể thiếu bảo đảm cho

sự an ninh và ổn định của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

2 Trung Quốc

- Khi “cơn bão” tài chính tiền tệ năm 1997 tác động nặng nề đối với nền kinh tếcủa nhiều quốc gia Đông Á, Trung Quốc đã chấp nhận để mức thu ngân sách giảmxuống còn 14% GDP; cam kết không phá giá đồng NDT, nhờ đó vẫn đảm bảo nhịptăng trưởng GDP hàng năm trên 8% Kết quả, Trung Quốc đã thành công trong việctránh được cuộc khủng hoảng này

Năm 2005 là năm kết thúc Kế hoạch 5 năm lần thứ 10 của Trung Quốc Kếhoạch 5 năm lần thứ 11 (2006-2010) đề ra những mục tiêu chủ yếu trong việc pháttriển kinh tế và xã hội như sau: tăng trưởng GDP đạt mức 8%; tạo ra 9 triệu việc làmmới ở thành thị; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giữ ở mức 4,6%; chỉ số giá cả không tănghơn 4% và giữ cán cân ổn định trong thanh toán quốc tế Đại hội Đảng Cộng sảnTrung Quốc lần thứ 16 (2002) chỉ rõ: tổng sản phẩm quốc nội đến năm 2020 sẽ tănggấp ba Lần so với năm 2000, nâng cao đáng kể vị thế kinh tế và sức cạnh tranh quốc

tế của Trung Quốc

3 Hong Kong

- Hong Kong có nền kinh tế quốc tế hóa cao độ, môi trường kinh doanh thuậnlợi,thể chế pháp luật kiện toàn, thị trường tự do cạnh tranh, hệ thống mạng lưới tiền tệ,tài chính,chứng khoán rộng khắp,cơ sở hạ tầng tốt, hệ thống giao thông, dịch vụ hoànchỉnh “Báo cáo tình hình đầu tư của thế giới năm 2004” của Hội nghị Phát triển vàMậu dịch LHQ xem Hong Kong là hệ thống kinh tế tốt nhất thứ hai của Châu Á vềthu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

4 Nhật Bản

- Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là mộtnước có nền kinh tế công nghiệp, tài chính, thương mại, dịch vụ, khoa học kỹ thuậtlớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ sau Mỹ) Nhưng trong những năm 1997-1998, NhậtBản lại gặp khó khăn lớn, tập trung vào các bê bối trong hệ thống ngân hàng và thịtrường địa ốc

Trang 9

- Khu vực các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng hơn do tính cứng nhắctrong cơ cấu công ty và thị trường lao động Sau đó, Nhật Bản xúc tiến 6 chương trìnhcải cách lớn; trong đó có cải cách cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cáchkhu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu Chính phủ Dù diễn ra chậm, nhưng cải cáchđang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gầnđây đã đem lại kết quả đáng khích lệ

- Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ hiện đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều Nhật Bản là nước có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới Mặc dù vậy, Nhật Bản có 2 vấn đề dài hạn chính cần được giải quyết sớm là mật độ dân cư quá cao và xu thế lão hoá của dân cư đang tăng lên

5 Hàn Quốc

- Bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỷ XX, kinh tế Hàn Quốc bắt đầu phát triển vớitốc độ nhanh, đến giữa thập niên 80 đã trở thành nước công nghiệp phát triển mới(NICS) Đặc điểm của nền kinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế thị trường nhưng sựđiều tiết của Nhà nước đóng vai trò quan trọng

- Tháng 2-2003, Tổng thống Rô Mu Hiên công bố chính sách và mục tiêu kinh tếmới: về lâu dài, xây dựng ổn định và thịnh vượng trên bán đảo Triều Tiên; biến HànQuốc thành một trung tâm kinh doanh của khu vực Đông Bắc Á; đổi mới quản lýchính phủ; tăng quyền lực cho chính quyền địa phương; cân bằng sự phát triển giữacác khu vực địa lý, xây dựng hệ thống phúc lợi tập thể với việc giảm bớt khoảng cáchgiàu nghèo; cải cách chế độ lao động; cải cách khu vực nông nghiệp - thủy hải sản;lấy khoa học và kỹ thuật là trọng tâm; xây dựng thủ đô hành chính mới

6 Philippines

- Philippines là một nền kinh tế kết hợp giữa nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và dịch vụ Từng là quốc gia giàu có thứ hai ở jChâu Á ( sau Nhật Bản), Philippines dần trở thành một trong những nước nghèo nhất trong vùng từ khi giành lại độc lập năm

1946 Quá trình phục hồi kinh tế của nước này đã diễn ra khá mạnh mẽ, nhưng so với các nước Đông Á khác, tốc độ này vẫn còn hạn chế

- Trong thời kỳ đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1998,kinh tế Philippines đã bị ảnh hưởng rất nhiều Điều này càng trầm trọng hơn vì giá cả

Trang 10

tăng cao, lạm phát, và thiên tai Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm từ 5% năm 1997 xuống0,6% năm 1998; sau đó đã hồi phục vào khoảng 3% năm 1999 và 4% năm 2000 và tớinăm 2004, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đạt hơn 6%

- Đồng Peso Philippines được đánh giá là đồng tiền được quản lý tốt nhất năm

2005 Một luật thuế giá trị gia tăng (E-VAT) mở rộng mới đã được áp dụng từ ngày 11-2005, như một biện pháp nhằm cắt giảm nợ nước ngoài và cải thiện các dịch vụtrong lĩnh vực giáo dục, sức khoẻ, phúc lợi xã hội, và xây dựng đường sá

1-7 Russia (LB Nga)

- LB Nga có tiềm năng kinh tế rất lớn Chiếm 3% dân số thế giới, Nga có nguồnnăng lượng lớn nhất thế giới, chiếm 13% tổng trữ lượng dầu mỏ và 34% trữ lượng khíđốt của thế giới đã được phát hiện Nga đứng đầu thế giới về xuất khẩu khí đốt vàđứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu dầu mỏ

- Sản lượng điện của Nga chiếm 12% tổng sản lượng điện toàn cầu Hiện nay

Tổ hợp nhiên liệu - năng lượng Nga là một trong những tổ hợp quan trọng nhất vàphát triển nhanh nhất trong nền kinh tế Nga, chiếm khoảng 1/4 GDP, 1/3 sản lượngcông nghiệp và 1/2 nguồn thu ngoại tệ cho đất nước

- Ngoài dầu mỏ, khí đốt và vàng, Nga có sản lượng khai thác kim cương đứngđầu thế giới Sản lượng kim cương của Nga đạt 33,019 triệu cara, trị giá 1,676 tỷUSD Đặc biệt, đến ngày 21-8-2006, Nga đã trả hết 21,3 tỷ USD nợ của 18 nướcthành viên Câu lạc bộ Paris Nga dự kiến trả hết số nợ thời Liên Xô cũ trong năm2006

- Bên cạnh đó, nhằm tăng vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế,Chính phủ Nga đang thúc đẩy quá trình tái quốc hữu hóa các doanh nghiệp lớn, trướchết thuộc khu vực năng lượng từng mang lại gần một nửa lợi nhuận về thuế và giá trịxuất khẩu Quá trình tái quốc hữu hóa nền kinh tế Nga tuy có gây tâm lý lo ngại chomột số người; nhưng cho tới nay vẫn không gây ra tác động tiêu cực nào đối với tăngtrưởng kinh tế Nga cũng như việc các nhà đầu tư phương Tây đang quay trở lại đầu tưvào Nga

- Chính phủ LB Nga thông qua Chương trình phát triển kinh tế - xã hội trunghạn 2006-2008, hướng mạnh vào 4 trọng điểm ưu tiên trong các lĩnh vực y tế, giáodục, nhà ở và phát triển nông thôn với tổng số vốn đầu tư của Nhà nước 160 tỷ Rúp,

Trang 11

cùng với những giải pháp tăng thu nhập cho người lao động Sức mua của người dântăng, thị trường tiêu dùng sôi động và các nhà phân tích kinh tế đã nói đến sự bùng nổtiêu dùng ở Nga

8 Singapore

- Singapore có nền kinh tế thị trường tự do, Chính phủ nắm vai trò chủ đạo Là một trong những nền kinh tế thịnh vượng nhất thế giới, Xingapo trở thành đầu mối giao lưu thương mại quốc tế quan trọng (cảng biển Singapore là một trong những cảngbiển trọng tải lớn tấp nập nhất thế giới) Sau giai đoạn chịu ảnh hưởng nặng nề của suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2001-2003, GDP thực tế năm 2004 của Singapore tăng mức kỷ lục 8% Chính phủ đang cố gắng hướng đến việc xây dựng một nền kinh

tế ít bị tác động bởi những biến động bên ngoài và trở thành trung tâm tài chính và công nghệ cao của Đông Nam Á

9 Thái Lan

- Thái Lan là một nước nông nghiệp truyền thống Bắt đầu từ năm 1960, TháiLan thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ nhất và đến nay là kế hoạchlần thứ chín Những năm 1970, nước này thực hiện chính sách 'hướng xuất khẩu':ASEAN, Mỹ, Nhật, Châu Âu là thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan Ngành côngnghiệp và dịch vụ đã dần dần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và vai trò củanông nghiệp giảm dần

- Từ 1988 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng cao từ 8% đến10% Nhưng đến năm 1996 tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 5,9% và sau đó làcuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ tháng 7-1997 làm cho kinh tế Thái Lan rơi vào tìnhtrạng khó khăn trầm trọng Kể từ năm 1999, kinh tế Thái Lan bắt đầu có dấu hiệuphục hồi và 5 năm gần đây (2000-2005), tiếp tục quá trình phục hồi nhằm hướng tới

sự phát triển bền vững

10 United States of America (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ)

- Nước Mỹ có một nền kinh tế mạnh, đa dạng và công nghệ tiến tiến hàng đầuthế giới, với GDP bình quân đầu người đứng đầu trong các quốc gia công nghiệp chủchốt

Trang 12

- Trong nền kinh tế này, các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân tự quyết định cáchoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của mình Chính phủ là người đặt hànghoặc mua trực tiếp các loại hàng hoá và dịch vụ cần thiết chủ yếu trên thị trường tưnhân Các doanh nghiệp Mỹ có tính thích ứng cao hơn nhiều so với các đối tác của họ

ở Tây Âu và Nhật Bản trong việc quyết định phương án kinh doanh như mở rộng nhàmáy, giảm bớt công nhân thừa và triển khai các sản phẩm mới Các công ty của Mỹluôn dẫn đầu trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, y tế, vũ trụ và kỹ thuật quân sự

- Các vấn đề dài hạn cần xử lý của nước Mỹ bao gồm đầu tư chưa thích đángtrong cơ sở hạ tầng kinh tế, chi phí y tế tăng nhanh do sự lão hoá của dân cư, thâm hụtđáng kể về thương mại và sự đình trệ của thu nhập gia đình trong các nhóm dân cư ởtầng lớp lao động bậc thấp của nền kinh tế

11 Việt Nam

- Trải qua 20 năm, đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “công cuộc đối mới đãđạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi rõ rệt bộ mặt củađất nước, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”

- Việt Nam từng bước làm cho nền kinh tế sống động, sức sản xuất phát triểnkhá nhanh, cơ sở vật chất được tăng cường, đời sống nhân dân không ngừng được cảithiện

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5%/năm Cơ cấu kinh tế ngành, vùng

có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng côngnghiệp và xây dựng trong GDP năm 1998 chiếm 21,6%, đến năm 2005 tăng lên 41%;

tỷ trọng nông nghiệp năm 1998 chiếm 43,6%, đến năm 2005 còn 20,5%; tỷ trọng dịch

vụ năm 1998 chiếm 33,1%, đến năm 2005 tăng lên 38,5% Các thành phần kinh tếcùng phát triển Hiện nay, kinh tế Nhà nước đóng góp 8% GDP; kinh tế tư nhân chiếm37,7% GDP; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 15% GDP Rất nhiều khu côngnghiệp mới, đô thị mới mọc lên Hạ tầng cơ sở phát triển mạnh; bộ mặt nông thôn và

đô thị thay đổi hàng ngày, hàng giờ Hàng hóa phong phú, thị trường nhộn nhịp

- Các thành viên APEC thuộc nhiều khu vực và trình độ phát triển kinh tế khácnhau Việc các quốc gia này cùng hợp tác nhằm duy trì và phát triển kinh tế đã phảnánh xu hướng cùng tiến tới một mục tiêu chung, bất chấp những khác biệt về kinh tế,

Trang 13

chính trị và điạ lý Trong tuyên bố Seoul 1991, các thành viên đã nhất trí về các mụctiêu cụ thể cuả APEC, bao gồm:

- Thứ nhất, thúc đẩy sự tự do hóa thương mại và đầu tư giữa các nước thành viên

thuộc APEC bằng cách các nước sẽ tự nguyện đưa ra chương trình cắt giảm thuế quan vàcác biện pháp phi thuế, lịch trình cắt giảm muộn nhất là năm 2010 đối với nước côngnghiệp phát triển, năm 2020 đối với các nước chậm và đang phát triển

- Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và đầu tư phát triển Các nước

thành viên thuộc APEC thực hiện cuộc cải cách hành chính theo những tiêu chuẩnchung nhằm thống nhất và công khai thủ tục xuất nhập khẩu, đơn giản hóa thủ tục đầu

tư, thủ tục hải quan tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại và đầu tư pháttriển

- Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác kinh tế và kỹ thuật trên 15 lĩnh vực: Phát triển nguồn

nhân lực; Khoa học kỹ thuật ứng dụng trong công nghiệp; Hỗ trợ phát triển doanhnghiệp vừa và nhỏ; Hỗ trợ đầu tư để phát triển hạ tầng cơ sở về kinh tế, năng lượng;Vận tải viễn thông và thông tin; Phát triển du lịch; Tạo cơ sở dữ liệu thông tin chohoạt động đầu tư và thương mại; Hợp tác nghiên cứu năng lượng mới; Hợp tác bảotồn nguồn tài nguyên biển, thúc đẩy nghề cá và kỹ thuật nông nghiệp .

Hoạt động của APEC dựa trên 9 nguyên tắc sau:

+      Toàn diện: Tiến trình tự do hoá và thuận lợi hoá trong APEC sẽ được triển khai

trên tất cả các lĩnh vực kinh tế để giải quyết tất cả các hình thức cản trở mục tiêu lâudài của APEC là tự do hoá thương mại và đầu tư;

+      Phối hợp với WTO: Các biện pháp áp dụng trong APEC phải phù hợp với những

cam kết đã đạt được của WTO;

+      Đảm bảo môi trường tương xứng: Việc thực hiện tự do hoá, thuận lợi hoá thương

mại và đầu tư có xét đến mức độ tự do hoá, thuận lợi hoá cụ thể ở mỗi nước để đảmbảo môi trường tương xứng;

+      Thực hiện chủ nghĩa khu vực mở, không phân biệt đối xử

+      Đảm bảo sự công khai rõ ràng mọi luật lệ, chính sách hiện hành tại các nước

thành viên APEC;

Trang 14

+      Lấy mức độ bảo hộ hiện tại làm mốc chỉ giảm chứ không tăng thêm các biện

pháp bảo hộ;

+      Tiến trình tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại và đầu tư của APEC được các

thành viên đồng loạt triển khai thực hiện liên tục, với những thời gian biểu khác nhau.

Mọi thành viên APEC đều bình đẳng, mọi quyết định đều đạt được nhờ sự nhất tríchung, tôn trọng quan điểm của các nước tham gia;

+      Linh hoạt trong việc thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư vì trình độ phát

triển của các nước APEC không bằng nhau;

+      Hợp tác: APEC chủ trương hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật để thúc đẩy kinh

tế tăng trưởng và phát triển bền vững

III C C U T CH C Ơ Ấ Ổ Ứ

1 Cấp chính sách

a Hội nghị không chính thức các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC (AELM)

- Hội nghị các nhà Lãnh đạo cao nhất của các thành viên APEC được tổ chứchàng năm bắt đầu từ năm 1993.Tháng 11 năm 1993 tại Seattle (Mỹ) theo sáng kiếncủa Tổng thống Mỹ Bin Clintơn,lần đầu tiên trong lịch sử,14 vị nguyên thủ quốc gia

và đứng đầu chính phủ của các thành viên APEC đã gặp gỡ , trao đổi về các vấn đềkinh tế Hội nghị Cấp cao APEC lần thứ nhất đã nâng vị thế của APEC lên tầm caomới trên trường quốc tế, như Tuyên bố chung của các nhà Lãnh đạo khẳng định:

"Cuộc họp của chúng ta phản ánh sự nổi lên của một tiếng nói mới cho khu vực châu

Á - Thái Bình Dương trong các vấn đề quốc tế"

- Để tăng cường hơn nữa cam kết ở cấp Lãnh đạo cao nhất của các thành viênđối với các mục tiêu và tiến trình của APEC, kể từ năm 1993, các thành viên APEC đãnhất trí tổ chức Hội nghị các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC mỗi năm một lần vào dịpcuối năm, năm 2003 là Hội nghị lần thứ 11 được tổ chức tại Băng-cốc, Thái Lan vàotháng 10 Việc lập ra cơ chế Hội nghị Cấp cao thường niên với tư cách là cơ quanquyết định chính sách cao nhất của APEC đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sựphát triển của APEC

b Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế APEC

- Hội nghị Bộ trưởng APEC họp lần đầu tiên tại Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia tháng 11năm 1989 với sự tham gia của các Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Kinh tế của 12

Trang 15

nền kinh tế thành viên Hội nghị Bộ trưởng được tổ chức hàng năm theo nguyên tắcluân phiên giữa các nước thành viên APEC Thành viên đăng cai tổ chức Hội nghị Bộtrưởng hàng năm sẽ giữ ghế Chủ tịch Hội nghị.

- Hội nghị Bộ trưởng APEC quyết định phương hướng hoạt động của APEC và

ấn định thời gian thực hiện chương trình hành động cho năm sau Các quyết định củaHội nghị được thể hiện trong Tuyên bố chung, bao gồm:

- Quyết định về các vấn đề tổ chức: xác định mục tiêu, nguyên tắc hoạt động củaAPEC; thành lập các uỷ ban, hội đồng ; thành lập quỹ APEC và qui định tỷ lệ đónggóp của các thành viên; vấn đề kết nạp thành viên mới

    Quyết định nguyên tắc, mục tiêu, nội dung các chương trình hoạt động vàđánh giá tiến trình hợp tác của APEC cũng như công tác của các Uỷ ban, các Nhómcông tác và các Nhóm đặc trách

    Xem xét , đánh giá việc thực hiện các sáng kiến của Hội nghị Cấp cao Khôngchính thức

    Thông qua dự thảo chương trình hành động về tự do hóa thương mại và đầu tư,sau đó đệ trình lên Hội nghị Cấp cao xem xét và quyết định cuối cùng

2 Cấp làm việc

a Hội nghị các Quan chức Cao cấp (SOM)

- Hội nghị này được tổ chức thường kỳ giữa hai Hội nghị Bộ trưởng hàng nămnhằm chuẩn bị và đưa ra các khuyến nghị trình Hội nghị Bộ trưởng về các vấn đề tổchức, chương trình hoạt động của APEC, chương trình hành động tiến tới tự do hóathương mại và đầu tư, kế hoạch hành động của các nền kinh tế thành viên và cácchương trình hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ của APEC, xem xét và điều phốingân sách và chương trình công tác của các Uỷ ban, các Nhóm công tác và Nhóm đặctrách

- Trước Hội nghị Quan chức Cao cấp, sẽ có các cuộc họp của các Nhóm công tácliên quan gồm đại diện cho các thành viên APEC để chuẩn bị những nội dung cầnthiết báo cáo lên Hội nghị các Quan chức Cao cấp

- Hội nghị các Quan chức Cao cấp có trách nhiệm thúc đẩy tiến trình APEC phùhợp với các quyết định của Hội nghị các nhà Lãnh đạo Kinh tế, Hội nghị Bộ trưởng vàchương trình hành động thông qua tại hội nghị này

b Uỷ ban Thương mại và Đầu tư

- Uỷ ban Thương mại và Đầu tư (CTI) được thành lập năm 1993 trên cơ sởTuyên bố về "Khuôn khổ hợp tác và đầu tư" của Hội nghị Bộ trưởng Uỷ ban Thương

Trang 16

mại và Đầu tư có nhiệm vụ thúc đẩy hợp tác về tự do hóa thương mại và tạo môitrường đầu tư cởi mở hơn giữa các nền kinh tế thành viên Uỷ ban Thương mại vàĐầu tư soạn thảo báo cáo hàng năm trình Hội nghị Bộ trưởng về các vấn đề liên quantới thương mại và đầu tư trong khu vực đồng thời chỉ đạo các Tiểu ban và Nhómchuyên gia trong việc giải quyết những vấn đề cụ thể Uỷ ban Thương mại và Đầu tư

là một trong số các cơ quan chủ chốt của APEC giúp thực hiện Kế hoạch Hành độngÔ-xa-ca và Kế hoạch Hành động Manila (MAPA) trong một số lĩnh vực như Thuếquan và các biện pháp phi quan thuế, Dịch vụ, Giảm bớt các quy định, Hoà giải tranhchấp, Thực hiện kết quả Vòng đàm phán U-ru-goay, Đầu tư, Thủ tục Hải quan, Tiêuchuẩn và Hợp chuẩn, Đi lại của Doanh nhân, Sở hữu trí tuệ, Chính sách Cạnh tranh,Chi tiêu chính phủ, Quy định nguồn gốc xuất xứ Để có thể thực hiện tốt vai trò củamình trong 15 lĩnh vực hợp tác quan trọng trên của APEC, mỗi năm Uỷ ban Thươngmại và Đầu tư nhóm họp ba lần và đây đã thực sự trở thành một diễn đàn hiệu quả đốivới các nền kinh tế thành viên để trao đổi các vấn đề về thương mại và chính sách

c Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật

- Tiểu ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật (ESC) được thành lập năm 1998nhằm hỗ trợ Hội nghị Quan chức Cao cấp (SOM) trong việc phối hợp và quản lý cáchoạt động hợp tác kinh tế-kỹ thuật (ECOTECH) và triển khai các sáng kiến hợp táctrong lĩnh vực này của các nền kinh tế thành viên APEC Mới đầu đây chỉ là Tiểu ban

về ECOTECH, năm 2002 đổi tên thành Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật(ESC) Bằng việc thúc đẩy hợp tác và xác định những lĩnh vực ưu tiên trong khuônkhổ hợp tác ECOTECH, Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật cùng với các diễnđàn khác trong APEC giữ vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu tăngtrưởng kinh tế và phát triển bền vững của APEC

- Tại Hội nghị các Quan chức Cao cấp tháng 2 năm 2003, các thành viên APEC

đã nhất trí thông qua bốn lĩnh vực ưu tiên của ECOTECH trong thời gian tới là: Hộinhập vào nền kinh tế toàn cầu; Xây dựng năng lực chống khủng bố; Đẩy mạnh vàphát triển kinh tế tri thức và Giải quyết những tác động xấu của Toàn cầu hóa

- Muốn thúc đẩy hợp tác trong khuôn khổ ECOTECH cần có sự hỗ trợ đắc lựccủa các thể chế tài chính, bởi vậy Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật đang tiếnhành nghiên cứu cách thức để APEC có thể tăng cường hợp tác cùng có lợi với các tổchức tài chính quốc tế cũng như các tổ chức quốc tế khác trong lĩnh vực Hợp tác Kinhtế-Kỹ thuật, đặc biệt là hợp tác về chuyên gia kỹ thuật và xây dựng năng lực giữa cácthành viên APEC; đồng thời không ngừng tăng cường phối hợp giữa Uỷ ban SOM vềHợp tác Kinh tế-Kỹ thuật với các diễn đàn khác của APEC

Trang 17

d Uỷ ban Kinh tế

- Uỷ ban Kinh tế (EC) được thành lập tại Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ sáutháng 11 năm 1994 để thực hiện việc nghiên cứu các xu hướng và vấn đề kinh tếthông qua các chỉ số kinh tế cơ bản Uỷ ban Kinh tế là một diễn đàn thúc đẩy đối thoạigiữa các nền kinh tế thành viên về các vấn đề kinh tế, dự báo, xu hướng kinh tế trongkhu vực để tạo ra một khung cảnh rộng hơn cho sự hợp tác trong APEC Hoạt độngcủa Uỷ ban đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ cho việc soạn thảo chính sách trong cácdiễn đàn khác của APEC

- Trước đây khi chưa có Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật, Uỷ banKinh tế có nhiệm vụ chuẩn bị Báo cáo về Hợp tác kinh tế và kỹ thuật trong APEC, tậptrung vào những vấn đề năng lượng, môi trường, cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhânlực, dân số, phát triển bền vững, thương mại và đầu tư Trong lĩnh vực tự do hóathương mại và đầu tư, các dự án nghiên cứu của Uỷ ban bao gồm: nghiên cứu tácđộng về mặt kinh tế của quá trình tự do hóa thương mại, tác động của tự do hóa đầu tư

và các nguyên tắc tự do hóa đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài và các chính sách cạnhtranh, chính sách sở hữu trí tuệ, hợp tác tiểu khu vực và tác động của nó tới APEC.Hiện nay, Uỷ ban Kinh tế đang xúc tiến nghiên cứu một số vấn đề kinh tế và hợp táckinh tế, trong đó bao gồm triển vọng kinh tế khu vực hàng năm và vai trò của các thểchế tài chính; thuận lợi và khó khăn cũng như lợi ích của việc cơ cấu nền kinh tế; cácvấn đề liên quan đến Kinh tế mới và Kinh tế tri thức; và một số chương trình hỗ trợquá trình Tự do hoá, Thuận lợi hóa Thương mại và Đầu tư trong APEC

e Uỷ ban Ngân sách và Quản lý

- Uỷ ban Ngân sách và Quản lý (BMC) được thành lập năm 1993, có chức năng

tư vấn cho các quan chức cao cấp về những vấn đề ngân quỹ, quản lý và điều hành

Uỷ ban này được trao quyền đánh giá cơ cấu chung của ngân sách hàng năm và xemxét các ngân sách hoạt động do các Nhóm công tác, các Uỷ ban đưa ra, và ngân sáchhành chính do Ban thư ký đưa ra Uỷ ban có quyền đánh giá về hoạt động của cácNhóm công tác và khuyến nghị với các quan chức cao cấp APEC về các biện phápnhằm nâng cao hiệu quả; xem xét các khoản chi tiêu của Nhóm công tác và dự án củacác Nhóm đặc trách Uỷ ban Ngân sách và Quản lý họp mỗi năm hai lần thường vàocuối tháng ba và tháng bảy

- Uỷ ban Ngân sách và Quản lý có chức năng giải quyết các vấn đề liên quan đếnngân sách chung của APEC hay phí đóng góp của mỗi nền kinh tế thành viên Hộinghị Bộ trưởng APEC lần thứ tư năm 1992 quyết định thành lập Ban Thư ký APEC

và quỹ tài chính chung do các thành viên đóng góp Mức đóng góp căn cứ trên GNP

Trang 18

của từng nền kinh tế thành viên và bình quân GNP/người trong ba năm gần nhất Hiệntrong APEC đang có bốn mức phí đóng góp: đứng đầu là Mỹ và Nhật Bản, đóng góptới 18% tổng ngân quỹ; tiếp đến là Xinh-ga-po, Hồng Công, Niu Di-lân đóng 2,75%;xếp hàng thứ ba là Trung Quốc, Ôt-xtrây-lia, Ca-na-đa, Mê-hi-cô, Hàn Quốc, ĐàiLoan, Liên bang Nga; đóng góp mức thấp nhất là Chi-lê, Ma-lai-xia, Thái Lan, Phi-líp-pin, Bru-nây, In-đô-nê-xia, Pa-pua Niu Ghi-nê, Pê-ru, Việt Nam, mỗi thành viênđóng góp 1,5% ngân quỹ Cho đến nay, Quỹ chung của APEC gồm ba khoản chính:(i) Chi phí hành chính cho hoạt động của APEC, cụ thể là chi phí cho hoạt động củaBan Thư ký; (ii) Chi phí cho các dự án của APEC; (iii) Quỹ đặc biệt để thúc đẩy Tự

do hóa và Thuận lợi hóa Thương mại và Đầu tư trong APEC, quỹ này do Nhật Bảnđóng góp (năm 1995, Nhật Bản cam kết sẽ đóng góp 10 tỷ yên để hỗ trợ cho việc thúcđẩy Tự do hóa và Thuận lợi hóa Thương mại và Đầu tư)

f Các Nhóm công tác

- Các Nhóm công tác có chức năng thực hiện nhiệm vụ do các nhà Lãnh đạo, Bộtrưởng và quan chức cao cấp giao cho Cho tới nay trong APEC đã lập ra 11 Nhómcông tác phụ trách các lĩnh vực sau: Hợp tác Kỹ thuật Nông nghiệp, Năng lượng,Nghề cá, Phát triển Nguồn nhân lực, Khoa học và công nghệ, Bảo vệ tài nguyên biển,Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Thông tin và Viễn thông, Du lịch, Xúc tiến thương mại,Vận tải Phần lớn hoạt động của các Nhóm là khảo sát tiềm năng phát triển và thúcđẩy sự tăng trưởng trong các lĩnh vực do từng Nhóm phụ trách Thông qua các hoạtđộng này, các thành viên APEC xây dựng những mối liên hệ thực sự giữa các đại diệnchính giới, giới doanh nghiệp và học giả

- Hoạt động của các Uỷ ban chuyên đề, các Nhóm đặc trách của SOM và cácNhóm công tác là nền tảng chủ yếu của diễn đàn APEC Thực tế, đây là những diễnđàn nhỏ để các thành viên thảo luận, tư vấn chính sách và hợp tác trên các lĩnh vực cụthể Những nghiên cứu của các Nhóm đặc trách, các chương trình hợp tác do cácNhóm công tác soạn thảo là cơ sở chủ yếu để Hội nghị Bộ trưởng đưa ra các quyếtđịnh liên quan đến phương hướng hoạt động của APEC

g Các Nhóm đặc trách của SOM

- Bên cạnh các Nhóm công tác, Hội nghị Quan chức Cao cấp (SOM) đã lập ra

ba Nhóm đặc trách nhằm xác định các vấn đề và đưa ra khuyến nghị về những lĩnhvực quan trọng cần xem xét trong khuôn khổ hợp tác của APEC Hiện đang có baNhóm đặc trách của SOM là: Nhóm đặc trách về Mạng các điểm liên hệ về giới(Gender Focal-Points Network), Nhóm chỉ đạo về thương mại điện tử (Electronic

Trang 19

Commerce Steering Group) và Nhóm đặc trách về Chống khủng bố Terroism Task Force).

(Counter Nhóm đặc trách về Mạng các điểm liên hệ về giới được thành lập từ năm 2003nhằm tiếp tục các chương trình về hội nhập giới và thúc đẩy sự tham gia của nữ giớivào các hoạt động thương mại trong khu vực APEC Tiền thân của nhóm đặc tráchnày là Nhóm Tư vấn Ad Hoc của SOM về Hội nhập giới (the SOM Ad Hoc AdvisoryGroup on Gender Integration - AGGI) tồn tại từ năm 1999 đến năm 2002

- Nhóm đặc trách về thương mại điện tử được thành lập từ tháng 2 năm 1999với vai trò phối hợp và thúc đẩy các hoạt động hợp tác thương mại điện tử của APECthông qua hệ thống các quy định, luật lệ, chính sách minh bạch và nhất quán Những

nỗ lực của Nhóm đặc trách về thương mại điện tử trong thời gian vừa qua đã góp phầnnâng cao lòng tin của các nền kinh tế thành viên vào lĩnh vực thương mại điện tử, vàqua đó khuyến khích việc sử dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử như In-tơ-nét để tiến hành trao đổi thương mại, làm đơn giản hóa cách thức trao đổi giữa cácnền kinh tế

- Nhóm đặc trách về Chống khủng bố được thành lập tại Hội nghị các Quanchức Cao cấp tháng 2 năm 2003, nhằm triển khai Tuyên bố của các nhà Lãnh đạo vềChống khủng bố và Thúc đẩy tăng trưởng được thông qua tháng 10 năm 2002 tại Mê-hi-cô Nhóm đặc trách về Chống khủng bố có chức năng giúp đỡ các nền kinh tế thànhviên trong việc xác định và đánh giá những biện pháp cần thiết để chống khủng bố,phối hợp các chương trình hỗ trợ về kỹ thuật và năng lực, và thúc đẩy quan hệ hợp tácgiữa APEC với các tổ chức quốc tế và khu vực trong các vấn đề liên quan đến chốngkhủng bố Các lĩnh vực ưu tiên trong chương trình hoạt động của Nhóm đặc trách vềChống khủng bố là: Sáng kiến về Bảo đảm An ninh Thương mại trong khu vực APEC(the Secure Trade in the APEC Region - STAR); ngăn cấm việc hỗ trợ tài chính chocác hoạt động khủng bố; tăng cường an ninh mạng; sáng kiến an ninh năng lượng; vàbảo vệ sức khoẻ cộng đồng

3 Ban thư ký APEC

- Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ tư ở Băng Cốc năm 1992 nhận thấy cầnphải có một cơ chế giúp việc hiệu quả để hỗ trợ và phối hợp các hoạt động trongAPEC nhằm tăng cường vai trò và hiệu quả của APEC trong xúc tiến hợp tác kinh tếkhu vực, đã nhất trí thành lập Ban Thư ký APEC, đặt trụ sở tại Xinh-ga-po, và lập mộtquỹ chung của APEC

Trang 20

- Ban Thư ký APEC đứng đầu là một Giám đốc Điều hành, do nước giữ ghếChủ tịch APEC cử với thời hạn một năm Một phó giám đốc điều hành do nước sẽ giữchức Chủ tịch APEC vào năm tiếp theo cử Đây là các quan chức của Chính phủ manghàm Đại sứ Ngoài ra, Ban Thư ký APEC hiện có khoảng 20 Giám đốc chương trình

do các nền kinh tế thành viên tiến cử, 25 nhân viên chuyên nghiệp (cũng được biệtphái từ các nước thành viên) và các nhân viên phục vụ

- Ban Thư ký làm việc dưới sự chỉ đạo của Hội nghị Quan chức cao cấp và cóquan hệ thông tin trực tiếp thường xuyên với các thành viên, các Uỷ ban, các Nhómcông tác và các Nhóm đặc trách của APEC Mới đây, Ban Thư ký APEC quyết địnhnâng cấp trang Mạng (website) của mình nhằm giới thiệu về APEC, giúp cho việc tiếpcận các thông tin về hoạt động của APEC được dễ dàng hơn

- Ban Thư ký APEC giữ vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của APEC,

có chức năng tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật, phối hợp các hoạt động của APEC; điều hànhngân sách hàng năm của APEC; cũng như quản lý thông tin và các dịch vụ thông tintuyên truyền Từ năm 1993, do vấn đề tài chính và ngân sách trở nên phức tạp, chứcnăng điều hành tài chính được chuyển giao cho Uỷ ban Ngân sách và Quản lý

Ban Thư ký APEC đồng thời là cơ quan chủ chốt trong việc quản lý các dự áncủa APEC Hiện Ban Thư ký APEC đang hỗ trợ các nền kinh tế thành viên và cácdiễn đàn trong khuôn khổ APEC quản lý hơn 230 dự án lấy kinh phí từ quỹ của APEC

4.Hội nghị thường niên

Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao không chính thức : 6–7 tháng 11năm 1989 tại,

Canberra (Úc), các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế của 12 nước Australia, Nhật Bản,Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brunei, New Zealand,Indonesia, Canada và Mỹ đã họp quyết định chính thức thành lập APEC.(cụ thể nhưphần trên trình bày)

Các cuộc họp cấp bộ trưởng: lần lượt diễn ra vào 29–31 tháng 7 năm 1990, tại

Singapore; 12–14 tháng 11 năm 1991 tại Seoul( Hàn Quốc); 10–11 tháng 9 năm 1992

tại Bangkok ( Thái Lan).Vào tháng 11/1991, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, HồngCông và Đài Loan

Hội nghị APEC 1: 19-20 tháng 11 năm 1993 tại đảo Blech thuộc bang Settle (Mỹ)

Lần đầu tiên các nhà lành đạo APEC họp mặt và đề ra viễn cảnh của APEC

"Tinh thần cộng đồng khu vực châu Á - Thái Bình Dương" về một khu vực “ổn định,

an ninh và thịnh vượng cho cho các nền kinh tế thành viên” thông qua hợp tác và

Trang 21

quyết định đặt trụ sở của APEC tại Singapore Hội nghị kết nạp thêm Mexico, PapuaNew Guinea, nâng số thành viên của APEC lên đến 17 thành viên Hội nghị quyếtđịnh từ đây sẽ tổ chức Hội nghị cấp cao APEC hàng năm theo hình thức luân phiên.

Hội nghị APEC 2 : 15 tháng 11 năm 1994 tại Bogo , Indonesia

Các nền kinh tế thành viên APEC tại hội nghị APEC lần thứ 2 đề ra "Mục tiêu

Bogo" với nội dung: Mở cửa, tự do hóa thương mại và đầu tư trong khu vực châu Á Thái Bình Dương vào năm 2010 đối với các nền kinh tế phát triển và vào năm 2020đối với các nền kinh tế đang phát triển APEC có 18 thành viên sau khi Chile được kếtnạp làm thành viên

-Hội nghị APEC 3 : 19 tháng 11 năm 1995 tại Osaka, Nhật Bản.

APEC thông qua kế hoạch hành động Osaka (Osaka Action Agenda – OAA)với ba nội dung chính: Tự do hóa thương mại và đầu tư, Thuận lợi hóa thương mại,Hợp tác kinh tế kỹ thuật để thực hiện các mục tiêu Bogo;thành lập Hội đồngTư vấnKinh doanh APEC (ABAC), trong đó mỗi nền kinh tế thành viên đóng góp ba doanhnhân

Hội nghị đã xác định 15 lĩnh vực cụ thể liên quan đến việc thực hiện tự do hoá

và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư mà các nền kinh tế APEC phải báo cáo trong kế

hoạch hành động riêng (IAP)

Hội nghị APEC 4 : 25 tháng 11 năm 1996 tại Manila, Philippin.

APEC thông qua kế hoạch hành động Manila (Manila Action Plan - MAPA),với các biện pháp tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư nhằm đạt được cácmục tiêu Bogo và kế hoạch hành động cá nhân (IAP) và tập thể (CAP) được tập hợplại với các bước đi cụ thể và cách thức các nền kinh tế đạt được các mục tiêu về tự dothương mại được đề ra tại Hội nghị Bogo

Hội nghị APEC 5 : 24 – 25 tháng 11 năm 1997 tại Vancouver, Canada.

APEC xây dựng “Tầm nhìn thế kỉ XXI”, thông qua đề nghị về tự do hoá lĩnhvực tự nguyện sớm (Early Voluntary Sedtoral Liberalization - EVSL) hơn 2 năm sovới mục tiêu Bogo trong 15 lĩnh vực và quyết định cập nhật hàng năm các Kế hoạchhành động riêng của từng nền kinh tế thành viên

Hội nghị APEC 6 : 17 – 18 tháng 11 năm 1998 tại Kuala Lumpur, Malaixia.

Trang 22

CÁc nền kinh tế APEC chỉ nhất trí được về 9 lĩnh vực đầu tiên trong 15 lĩnhvực của kế hoạch EVSL và tìm kiếm thoả thuận với các nước không phải thành viênAPEC trong WTO về vấn đề này Hội nghị kết nạp thêm ba thành viên mới là Peru,Liên bang Nga và Việt Nam, đồng thời quyết định tạm ngừng thời hạn xem xét kếtnạp thành viên mới trong mười năm.

Hội nghị APEC 7 : 12 – 13 tháng 9 năm 1999 tại Auckland , New Zealand

APEC cam kết giảm bớt các thủ tục giấy tờ trong hoạt động thương mại đối vớicác nền kinh tế phát triển vào năm 2005 và các nền kinh tế đang phát triển vào năm

2010 APEC cũng thông qua kế hoạch thẻ thông hành dành cho doanh nhân (BusinessTravel Card) và thoả thuận công nhận lẫn nhau về các thiết bị điện tử và Cơ cấu thúcđẩy sự tham gia của phụ nữ trong APEC Hội nghị tán thành vòng đàm phán mới củaWTO bắt đầu từ năm 2000 và kéo dài 3 năm, ủng hộ các thành viên APEC chưa phải

là thành viên của WTO sớm gia nhập tổ chức này

Hội nghị APEC 8 : 15 – 16 tháng 11 năm 2000 tại Bandar Seri Begawan, Brunei.

APEC thiết lập kế hoạch hành động điện tử riêng (e-IAP), đưa ra các thông tin

về IAPs trên mạng và cam kết thực hiện kế hoạch hành động xây dựng Nền kinh tếmới với mục tiêu là tăng đáng kể sự tiếp cận Internet trong các nền kinh tế thành viênAPEC vào năm 2005

Hội nghị APEC 9 : 20 – 21 tháng 10 năm 2001 tại Thượng Hải, Trung Quốc.

APEC thông qua Thoả thuận Thượng Hải (Shanghai Accord), với trọng tâm là

mở rộng APEC, làm rõ các Lộ trình thực hiện các mục tiêu Bogo và củng cố các cơchế để thực hiện ác mục tiêu này Chiến lược APEC điện tử ( e – APEC) cũng đượcthông qua và chiến lược này đã đề ra các chương trình nghị sự để tăng cường các cơcấu và các thiết chế thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư vào cơ sở hạtầng và công nghệ cho các giao dịch trên mạng và thúc đẩy tinh thần doanh nghiệpcũng như xây dựng nguồn nhân lực Lần đầu tiên, các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đãthông qua Tuyên bố chống khủng bố

Hội nghị APEC 10 : 25 – 27 tháng 10 năm 2002 tại Los Cabos , Mexico

APEC thông qua Kế hoạch hành động thuận lợi hoá thương mại (Trade Facilitation Action Plan), Các danh sách chính về thương mại, nền kinh tế số và các tiêuchuẩn minh bạch APEC cũng nêu ra các sáng kiến cụ thể để giảm các chi phí tronggiao dịch thương mại xuống còn khoảng 5% trong khu vực châu Á- Thái Bình Dươngvào năm 2006

Trang 23

Hội nghị cấp cao APEC lần này cũng thông qua Tuyên chống khủng bố lần thứ

2, cùng với việc thông qua Sáng kiến thương mại an toàn ở khu vực châu Á- TháiBình Dương (STAR) Cũng tại hội nghị này, các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã ra 1tuyên bố về tình hình trên bán đảo Triều Tiên

Hội nghị APEC 11 : 20 – 21 tháng 10 năm 2003 tại Bangkok , Thái Lan.

APEC đã đưa ra biện pháp hành động từ “ở biên giới” (measure at the boder)sang các biện pháp “phía trong đường biên” (measure behind the boder) Các nhà lãnhđạo kinh tế APEC cũng khẳng định quyết tâm về việc mỗi nền kinh tế sẽ thực hiện cảicách về cơ cấu nhất trí thông qua nghị quyết để đạt được tăng trưởng kinh tế trongtoàn khu vực APEC APEC cũng nhất trí tái khởi động vòng đàm phán Doha củaWTO về chương trình nghị sự về phát triển ( WTO Dohar Development Agenda)

Một mặt APEC thúc đẩy sự thịnh vượng chung trong khu vực, mặt khácAPEC cũng khẳng định sự cần thiết phải cải thiện tình hình an ninh trong khu vựcchâu Á- Thái Bình Dương Các thành viên APEC đã được sự nhất trí cao về các hànhđộng nhằm ngăn chặn các mối đe doạ khủng bố do hệ thống tên lử vác vai(MANPADS), phối hợp tốt hơn các hoạt động chống khủng bố và thực hiện Kế hoạchhành động của APEC về chống dịch SARS và sáng kiến về an ninh y tế

Hội nghị APEC 12 : 20 – 21 tháng 11 năm 2004 tại Santiago de Chile , Chile

Các nhà lãnh đạo kinh tế APEC đã thông qua chương trình nghị sự thực hiệncác cải cách mang tính cơ cấu (APEC Leaders’ Agenda to Implement StructuralRefom - LAISR), trong đó nêu ra những ưu tiên mà các nền kinh tế APEC cần đạtđược trong việc thúc đẩy các cải cách cơ cấu trong tương lai Đồng thời các nhà lãnhđạo kinh tế APEC đã đưa ra một tuyên bố mạnh mẽ để ủng hộ các tiến bộ đạt đượctrong Vòng đàm phán Doha của WTO về Chương trình nghị sự về phát triển và đặt rathời hạn để đạt được bước đột phá trong các cuộc thương lượng là Cuộc họp cấp Bộtrưởng lần thứ 6 của WTO tháng 12 năm 2005 tổ chức tại Hongkong

APEC thông qua các biện pháp tốt nhất để thực hiện các Hiệp định thương mạikhu vực ( RTAs) và các Hiệp định thương mại tự do (FTAs), Sáng kiến Sangtiago vềthương mại mở rộng và Khuôn khổ về bí mật thông tin APEC cũng nhắc lại quyếttâm của mình trong việc đối phó với mối đe doạ khủng bố, đồng thời đưa ra cam kếtchính trị đẻ chống tham nhũng và đảm bảo sự minh bạch đồng thời thông qua một loạtcác hành động cụ thể để thực hiện mục tiêu này

Hội nghị APEC 13 : 18 – 19 tháng 11 năm 2005 tại Busan , Hàn Quốc.

Trang 24

Chủ đề: "Hướng tới một cộng đồng: đối phó thách thức, tạo ra thay đổi" APEC thông qua lộ trình Busan, hoàn thành Bản kiểm điểm giữa kì và thấy rằngAPEC vẫn đang tiến đến việc thực hiện các mục tiêu Bogo, tuy rằng cần phải cập nhậtcho phù hợp với tình hình hiện tại, và Khuôn khổ bí mật thông tin trong APEC Cácnhà lãnh đạo kinh tế APEC cũng đưa ra tuyên bố độc lập ủng hộ việc kết thúc thànhcông Hội nghị lần thứ 6 cấp Bộ trưởng của WTO tại Hongkong và thống nhất với việcđối phó với các mối đe doạ dịch bệnh và tiếp tục cuộc chiến chống khủng bố vì nguy

cơ này có thể gây ra sự bất ổn kinh tế sâu sắc đối với toàn khu vực

Hội nghị APEC 14 : 18-19 tháng 11 năm 2006 tại Hà Nội , Việt Nam

Chủ đề của năm APEC 2006 Việt Nam là “Hướng tới một cộng đồng năngđộng vì sự phát triển bền vững và thịnh vượng” Các thành viên APEC xác định rõrằng đây là mục tiêu lâu dài mà APEC cần phải nỗ lực hơn nữa để phấn đấu thực hiện.Việc thực hiện các mục tiêu Bogo, mà trước mắt là Lộ trình Busan, là ưu tiên hàngđầu và nó sẽ góp phần thực hiện mục tiêu lớn và lâu dài hơn là xây dựng cộng đồngchâu Á- Thái Bình Dương Tại diễn đàn này, các nhà lãnh đạo APEC đã thảo luận hainội dung chính: (1) Đẩy mạnh thương mại và đầu tư trong một thế giới đang thay đổi.(2) Những nhân tố cơ bản bảo đảm tính năng động, sự tăng trưởng và phát triển bềnvững trong APEC

Hội nghị APEC 15 : Tháng 11 năm 2007 tại Sydney , Úc.

Chủ đề Hội nghị cấp cao APEC 15 và năm APEC 2007 là “Củng cố cộng đồngcủa chúng ta, xây dựng một tương lai bền vững” Hội nghị sẽ tập trung vào 6 vấn đềquan trọng:

1-Thay đổi khí hậu và phát triển sạch,

2- ủng hộ của APEC đối với Hệ thống thương mại đa biên và WTO, 3- Hội nhập Kinh tế khu vực, trong đó bao gồm nghiên cứu thành lập Khu vực Mậudịch tự do châu Á - Thái Bình Dương

6- Kết nạp thành viên mới

Hội nghị đã ra ba tuyên bố quan trọng:

(1) Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo APEC.(2) Tuyên bố Sydney của các nhà lãnh đạo APEC về biến đổi khí hậu an ninh năng

Ngày đăng: 25/01/2014, 10:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w