Tiểu luận: Nhận thức của em về quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giải quyết những mâu thuẫn trên Biển Đông hiện nay. Tiểu luận giúp sinh viên học môn Đường lối cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông; tình trạng tranh chấp trên Biển Đông; chủ trương, biện pháp của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm bảo vệ Biển Đông.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT
BÀI TẬP:
Bộ môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam Chủ đề: Nhận thức của em về quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giải quyết những mâu thuẫn trên Biển Đông hiện nay
Họ tên sinh viên:
Mã sinh viên: 182
Lớp: DCCT
Giảng viên hướng dẫn:
Hà Nội, tháng năm 202
Trang 2Mục lục
I Đặt vấn đề 3
II Tầm quan trọng của biển Đông 4
III Hiện trạng và các mâu thuẫn, xung đột trên Biển Đông hiện nay 6
IV Chủ trương của Đảng về giải quyết tranh chấp trên Biển Đông 9
-V Các biện pháp đấu tranh của Đảng để giải quyết mâu thuẫn trên Biển Đông -
12 VI Nhận định trong tương lai gần 14
-VII Trách nhiệm của sinh viên trong việc giữ gìn chủ quyền biển đảo trên Biển Đông nói riêng và chủ quyền lãnh thổ nói chung 15
Tài liệu tham khảo 17
Trang 3-I Đặt vấn đề
Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận cấu thành chủ quyền quốc gia, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đây cũng là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước, tạo khoảng không gian cần thiết giúp kiểm soát việc tiếp cận lãnh thổ trên đất liền
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, muốn bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chúng ta phải phát huy tinh thần tự lực, tự cường và phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao tính chính nghĩa, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế, “kiên quyết, kiên trì đấu tranh”, tăng cường hợp tác quốc tế, “tạo sự đan xen lợi ích”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” Và cũng cần xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, không thể nóng vội, kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, không làm phức tạp thêm tình hình, bảo vệ lợi ích chính đáng của ta, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế Tăng cường công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại quốc phòng với các nước trong khu vực, các nước có vùng biển giáp ranh, chồng lấn để xây dựng lòng tin, tạo sự hiểu biết lẫn nhau, giảm bớt căng thẳng, kịp thời phối hợp giải quyết bất đồng và các vấn
đề nảy sinh trên biển Qua đó, hình thành môi trường thuận lợi cho bảo vệ chủ quyền biển, đảo, không để xảy ra xung đột, không để đất nước bị cô lập trong vấn đề Biển Đông, cùng các nước xây dựng vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển, ổn định lâu dài
Kế thừa và phát triển ý thức chủ quyền biển, đảo của ông cha trong lịch sử dựng nước
và giữ nước, cũng như nhận thức đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về biển, đảo Quản lý, khai thác đi đôi với bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển, làm cho đất nước giàu mạnh
là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta
Trang 4II Tầm quan trọng của biển Đông
1 Vị trí địa lý
Biển Đông là một biển rìa lục địa và là một phần của Thái Bình Dương, trải rộng
từ Singapore tới eo biển Đài Loan và bao phủ một diện tích khoảng 3.447.000 km² Đây
là biển lớn thứ tư thế giới sau biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập
Các nước và lãnh thổ có biên giới với vùng biển này (theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc) gồm: đại lục Trung Quốc, Ma Cao, Hồng Kông, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam
Nhiều con sông lớn chảy vào Biển Đông gồm các sông Châu Giang, Mân Giang, sông Cửu Long (Phúc Kiến), sông Hồng, sông Mê Kông, sông Rajang, sông Pahang và sông Pasig
2 Tài nguyên thiên nhiên
Biển Đông có nguồn tài nguyên biển dồi dào, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật, khoáng sản, du lịch Đây là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ thì trữ lượng dầu ở biển Đông là khoảng 7 tỷ thùng với khả năng sản xuất là 2,5 triệu thùng/ ngày Theo đánh giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí của biển Đông là khoảng 213 tỷ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường
Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng
Biển Đông có trữ lượng dầu mỏ dồi dào
Theo các chuyên gia, khu vực biển Đông còn chứa đựng lượng lớn tài nguyên khí đốt đóng băng Biển Đông còn nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu – Á, Trung Đông – châu Á Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Mỗi ngày có khoảng 150-200 tàu các loại qua lại biển Đông
Nhiều nước và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào tuyến đường biển này như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo Hơn 90% lượng vận tải của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua biển Đông Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa – chiến lược, an ninh quốc phòng, giao thông hàng hải và kinh tế
Với riêng Việt Nam:
Trang 5Biển Đông đóng vai trò quan trọng, là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước Các đảo và quần đảo trên biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ
có ý nghĩa trong kiểm soát các tuyến đường biển qua lại biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam Có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa nằm giữa biển Đông và hàng nghìn đảo lớn nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ các vùng biển và thềm lục địa
Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai Đây là nơi cung cấp nguồn tài nguyên quý giá, là cửa ngõ quan hệ trực tiếp giữa các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa
Biển Đông tạo điều kiện để Việt Nam phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn như thủy sản, dầu khí, giao thông hàng hải, đóng tàu, du lịch
Ven biển Việt Nam có tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như titan, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm ở trung tâm biển Đông, rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông
III Hiện trạng và các mâu thuẫn, xung đột trên Biển Đông hiện nay
Trước hết, theo quan điểm của Việt Nam và căn cứ vào nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ, Việt Nam có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Căn cứ vào Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển và thềm lục địa được xác lập phù hợp với Công ước này
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số nước đã nhảy vào tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa Ngoài ra, do việc giải thích và áp dụng Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 của các nước ven biển nằm bên bờ Biển Đông khác nhau, nên đã hình thành các khu vực biển và thềm lục địa chồng lấn cần được tiến hành phân định giữa các bên liên quan
Các khu vực tranh chấp ở Biển Đông
Từ thực tế đó, hiện tại trong Biển Đông đang tồn tại hai loại tranh chấp chủ yếu:
Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam và Tranh chấp trong việc xác định ranh giới các vùng
Trang 6biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước có bờ biển liền kề hay đối diện nhau ở xung quanh Biển Đông.
1 Tranh chấp với Trung Quốc
Trung Quốc đã tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XX (năm 1909), mở đầu là sự kiện Đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy 3 pháo thuyền ra khu vực quần đảo Hoàng Sa, đổ bộ chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm, sau đó phải rút lui vì sự hiện diện của quân đội viễn chinh Pháp với tư cách là lực lượng được Chính quyền Pháp, đại diện cho nhà nước Việt Nam, giao nhiệm vụ bảo vệ, quản lý quần đảo này
Năm 1946, lợi dụng việc giải giáp quân đội Nhật Bản thua trận, chính quyền Trung Hoa Dân quốc đưa lực lượng ra chiếm đóng nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa Khi Trung Hoa Dân quốc bị đuổi khỏi Hoa lục, họ phải rút luôn số quân đang chiếm đóng
ở quần đảo Hoàng Sa
Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quy định của Hiệp định Giơ-ne-vơ và trong khi chính quyền Nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa, CHND Trung Hoa đã đưa quân ra chiếm đóng nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa
Năm 1974, lợi dụng quân đội Việt Nam Cộng hòa đang trên đà sụp đổ, quân đội viễn chinh Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, CHND Trung Hoa lại huy động lực lượng quân đội ra xâm chiếm nhóm phía Tây Hoàng Sa đang do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ
Mọi hành động xâm lược bằng vũ lực nói trên của CHND Trung Hoa đều gặp phải sự chống trả quyết liệt của quân đội Việt Nam Cộng hòa và đều bị Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế, đại diện cho Nhà nước Việt Nam quản lý phần lãnh thổ miền Nam Việt Nam theo quy định của Hiệp định
Giơ-ne-vơ năm 1954, lên tiếng phản đối mạnh mẽ trên mặt trận đấu tranh ngoại giao và dư luận
Trung Quốc đã tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa từ những năm 30 của thế kỷ trước, mở đầu bằng một công hàm của Công sứ Trung Quốc ở Paris gửi cho Bộ Ngoại giao Pháp khẳng định "các đảo Nam Sa là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc"
Năm 1946, quân đội Trung Hoa Dân quốc xâm chiếm đảo Ba Bình Năm 1956, quân đội Đài Loan lại tái chiếm đảo Ba Bình
Trang 7 Năm 1988, CHND Trung Hoa huy động lực lượng đánh chiếm 6 vị trí, là những bãi cạn nằm về phía tây bắc Trường Sa ra sức xây dựng, nâng cấp, biến các bãi cạn này thành các điểm đóng quân kiên cố, như những pháo đài trên biển Năm 1995, CHND Trung Hoa lại huy động quân đội đánh chiếm đá Vành Khăn, nằm về phía Đông Nam quần đảo Trường Sa Hiện nay họ đang sử dụng sức mạnh để bao vây, chiếm đóng bãi cạn Cỏ Mây, nằm về phía Đông, gần với đá Vành Khăn, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam
Như vậy, tổng số đá, bãi cạn mà phía Trung Quốc đã dùng sức mạnh để đánh chiếm ở quần đảo Trường Sa cho đến nay là 7 vị trí Đài Loan chiếm đóng đảo Ba Bình là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm 1 bãi cạn rạn san hô là bãi Bàn Than
2 Tranh chấp với Phi-líp-pin
Phi-líp-pin bắt đầu tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng sự kiện Tổng thống Quirino tuyên bố rằng quần đảo Trường Sa phải thuộc về Phi-líp-pin vì nó
ở gần Phi-líp-pin
Từ năm 1971 đến năm 1973, Phi-líp-pin đưa quân chiếm đóng 5 đảo; năm 1977-1978, chiếm thêm 2 đảo; năm 1979, công bố Sắc lệnh của Tổng thống Marcos ký ngày 11 tháng 6 năm 1979 gộp toàn bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa, vào trong một đơn vị hành chính, gọi là Kalayaan, thuộc lãnh thổ Phi-líp-pin Năm 1980, Phi-líp-pin chiếm đóng thêm 1 đảo nữa nằm về phía Nam Trường Sa, đó là đảo Công Đo Đến nay, Phi-lip-pin chiếm đóng 9 đảo, đá trong quần đảo Trường Sa
3 Tranh chấp với Ma-lai-xi-a
Mai-lai-xia mở đầu bằng sự việc Sứ quán Mai-lai-xia ở Sài Gòn, ngày 03 tháng 02 năm 1971, gửi Công hàm cho Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa hỏi rằng quần đảo Trường Sa hiện thời thuộc nước Cộng hòa Morac Songhrati Mead có thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa hay Việt Nam Cộng hòa có yêu sách đối với quần đảo đó không? Ngày 20 tháng 4 năm 1971, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trả lời rằng quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, mọi xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế
Tháng 12 năm 1979, Chính phủ xia xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ Mai-lai-xia khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm đảo An Bang và Thuyền Chài đã từng do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ Năm 1983-1984, Mai-lai-xia cho quân chiếm đóng 3 bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân Năm 1988,
họ đóng thêm 2 bãi ngầm nữa là Én Đất và Thám Hiểm Hiện nay, Ma-lai-xia đang chiếm giữ 5 đảo, đá, bãi cạn trong quần đảo Trường Sa
Trang 84 Tranh chấp với Brunay
Brunây tuy được coi là một bên tranh chấp liên quan đến khu vực quần đảo Trường
Sa, nhưng trong thực tế Bru-nây chưa chiếm đóng một vị trí cụ thể nào Yêu sách của
họ là ranh giới vùng biển và thềm lục địa được thể hiện trên bản đồ có phần chồng lấn lên khu vực phía Nam Trường Sa
IV Chủ trương của Đảng về giải quyết tranh chấp trên Biển Đông
Quan điểm của Ðảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định trong Nghị quyết Ðại hội XII của Ðảng, đó là: “ Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế”
Tàu Cảnh sát biển Việt Nam
Trong những năm qua, bằng chủ trương giải quyết các tranh chấp ở Biển Ðông thông qua biện pháp hoà bình trên tinh thần hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả thoả thuận quan trọng với các nước trong khu vực và giữ vững chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
Thời gian gần đây, quan hệ đối ngoại, hợp tác quân sự, quốc phòng của Ðảng, Nhà nước ta ngày càng mở rộng Bên cạnh đó, Mỹ và một số nước khác cũng đã lên tiếng công khai phản đối Trung Quốc, ủng hộ Việt Nam về tình hình Biển Ðông Lợi dụng cơ hội này, một số phần tử phản động và thế lực thù địch đã xuyên tạc, nói xấu chế độ, nói xấu Ðảng, Nhà nước, quân đội và đưa ra luận điệu kích động Việt Nam đánh Trung Quốc Chúng lập luận hết sức phản động rằng: “Việt Nam phải đi theo Mỹ để chống lại Trung Quốc”, “Việt Nam đánh Trung Quốc lúc này, cả thế giới sẽ ủng hộ”
Do đó, đối với vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông hiện nay, chúng ta phải đặc biệt cảnh giác trước chiêu bài của các phần tử phản động và thế lực thù địch Việt Nam không thể trở thành con bài chính trị - nhất là của hai nước lớn, điều đó sẽ hết sức nguy hiểm cho lợi ích quốc gia, dân tộc
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh: âm mưu độc chiếm Biển Ðông của Trung Quốc không hề thay đổi Ðối với giải quyết mối quan hệ với Trung Quốc hiện nay Ðảng, Nhà nước ta đã xác định: giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình Kiên quyết, kiên trì
Trang 9bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo của Tổ quốc Chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc là bất di, bất dịch, bất khả xâm phạm
Giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước Giữ vững mối đoàn kết với tất cả các nước Không được để xảy ra xung đột Không để lệ thuộc về kinh tế; không
để bị cô lập về chính trị; không để bị lôi kéo đi theo nước này để chống lại nước khác; không để đối đầu về quân sự
Quan điểm của Ðảng, Nhà nước ta về giải quyết những mâu thuẫn trên biển hiện nay
là thực hiện tốt phương châm: Bốn không, bốn tránh, chín K, bốn giữ vững
- Bốn không: không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam
để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực trong quan
hệ quốc tế
- Bốn tránh: tránh xung đột, tránh đối đầu, tránh bị cô lập về chính trị, tránh bị lệ thuộc
về chính trị
- Chín K: kiên quyết, kiên trì, khôn khéo, không khiêu khích, không mắc mưu khiêu khích, kiềm chế, không để nước ngoài lấn chiếm và không để xảy ra xung đột, đụng
độ, không nổ súng trước
- Bốn giữ vững: giữ vững chủ quyền quốc gia; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định
để phát triển; giữ vững quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt - Trung; giữ vững ổn định chính trị trong nước
Trước vấn đề tranh chấp trên Biển Ðông hiện nay, có quan điểm cho rằng Việt Nam cần phải kiện Trung Quốc ra toà trọng tài quốc tế và phải đánh Trung Quốc Thực ra, hiện nay Việt Nam chưa kiện, chứ không phải không kiện Bởi, Việt Nam chủ trương đấu tranh bằng phương pháp hoà bình theo từng cấp độ, theo diễn biến của tình hình và trên
cơ sở phương châm 16 chữ (láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai) và 4 tốt (láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt) trong quan hệ với Trung Quốc Mặt khác, Việt Nam luôn tích cực đấu tranh cả trên thực địa và ngoại giao Khi cần thiết, chuẩn bị đầy đủ các yếu tố ta sẽ kiện, mà đã kiện là phải thắng Hơn bất kỳ một dân tộc nào, dân tộc ta thấu hiểu được sự mất mát đau thương của chiến tranh Trong điều kiện hiện nay, nếu chiến tranh xảy ra sẽ là vô cùng nguy hại, sẽ là thiệt hại vô cùng lớn cả về con người và cơ sở vật chất, cả về kinh tế, chính trị, văn hoá
xã hội, ngoại giao; đặc biệt là không còn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước
Khi chúng ta đã dùng hết mọi biện pháp hoà bình, không còn biện pháp nào khác thì chúng ta buộc phải tiến hành chiến tranh để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thố, biển đảo của Tổ quốc Khi buộc phải đánh, chúng ta sẽ đánh và đã đánh là phải thắng
Trang 10Thực tế lịch sử đã chứng minh, đất nước Việt Nam có Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có nhân dân anh hùng, có quân đội anh hùng Việt Nam đã có Ðiện Biên Phủ trên
bộ, Ðiện Biên Phủ trên không, nếu tình huống xấu nhất xảy ra (dù ta không hề muốn), chắc chắn chúng ta sẽ có Ðiện Biên Phủ trên biển
V Các biện pháp đấu tranh của Đảng để giải quyết mâu thuẫn trên Biển Đông
Chủ trương giải quyết tranh chấp biển, đảo bằng các biện pháp hòa bình của Đảng, đã được Nhà nước Việt Nam thể chế hóa trong Luật Biển Việt Nam năm 2012 Điều 4, khoản 3 của Luật Biển Việt Nam đã ghi rõ: “Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế”.
Các biện pháp hòa bình bao gồm các biện pháp chủ yếu sau:
1) Biện pháp đấu tranh chính trị: Đây là biện pháp hết sức quan trọng, do lãnh đạo cấp
cao của hai nước trao đổi, bàn bạc trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và tuân thủ luật pháp quốc tế và truyền thống quan hệ hữu nghị của hai nước Nếu lãnh đạo cấp cao còn gặp nhau thì khả năng giải quyết bằng biện pháp hòa bình còn
có thể thành công, khu vực còn hòa bình, ổn định
2) Biện pháp đấu tranh ngoại giao: Đây là biện pháp đấu tranh thường xuyên liên tục,
tùy theo tình hình cụ thể mà có các phương pháp tiến hành khác nhau (từ thấp đến cao) Biện pháp này vừa hỗ trợ cho biện pháp đấu tranh chính trị, vừa trực tiếp giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh
3) Biện pháp đấu tranh pháp lý: Trên cơ sở luật pháp quốc tế mà trước hết là Công ước
Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), chúng ta sẽ đấu tranh để các bên thừa nhận tính phù hợp của luật pháp quốc tế và cùng nhau bàn bạc giải quyết các tranh chấp Đồng thời, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng chủ trương chuẩn bị khi có điều kiện sẽ đưa tranh chấp ra Tòa án quốc tế để phân
xử, song phải chuẩn bị chu đáo, đầy đủ, chặt chẽ, quyết thắng Lúc đó chúng ta sẽ khởi kiện khi các biện pháp khác không đạt kết quả
4) Biện pháp đấu tranh bằng phương tiện truyền thông và dư luận xã hội trong nước và quốc tế: Đây là biện pháp cần thiết vừa để tạo nên nhận thức đúng đắn trong nước và
quốc tế về tính chính nghĩa, về cơ sở pháp lý của chúng ta trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và trong giải quyết tranh chấp; vừa tạo sự đoàn kết thống nhất trong nước, vừa huy động sự ủng hộ, đoàn kết quốc tế; chống lại mọi sự xuyên tạc, bóp méo sự thật làm phức tạp thêm tình hình và gây bất ổn trong khu vực Những năm vừa qua hệ thống truyền thông trong nước đã đóng góp hết sức quan trọng trong công tác tuyên