1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, phòng và điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó tại phòng mạch thú y vi hoàng an

68 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. MỞ ĐẦU (8)
    • 1.1. Đặt vấn đề (8)
    • 1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề (9)
      • 1.2.1. Mục tiêu (9)
      • 1.2.2. Yêu cầu (9)
  • Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (10)
    • 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập (0)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (10)
      • 2.1.2. Điều kiện khí hậu (0)
      • 2.1.3. Nguồn tài nguyên (10)
      • 2.1.4. Tình hình kinh tế (11)
    • 2.2. Mô tả sơ lược về phòng khám thú y (0)
    • 2.3. Cơ sở khoa học (13)
      • 2.3.1. Hiểu biết chung về loài chó (0)
      • 2.3.2. Cấu tạo và sinh lý da chó (17)
    • 2.4. Một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó (23)
      • 2.4.1. Bệnh mò bao lông (do Demodex canis) (23)
      • 2.4.2. Nấm da (30)
      • 2.4.3. Bệnh ghẻ ngầm (Sarcoptosis) (34)
    • 2.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước (39)
      • 2.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước (39)
      • 2.5.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài (40)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 35 3.1. Đối tượng (42)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành (42)
    • 3.3. Nội dung thực hiện (42)
    • 3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện (42)
      • 3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi (42)
      • 3.4.2. Phương pháp theo dõi (thu thập thông tin) (42)
      • 3.4.3. Phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh (0)
      • 3.4.4. Phương pháp xử lý số liệu (45)
  • Phần 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ (46)
    • 4.1. Kết quả theo dõi tình hình chó đến khám chữa bệnh tại phòng mạch thú y (46)
    • 4.2. Kết quả theo dõi số chó được đưa đến tiêm phòng vắc-xin phòng bệnh tại phòng mạch thú y Vi Hoàng An (47)
    • 4.3. Kết quả chẩn đoán một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó được đưa đến khám tại phòng mạch (50)
      • 4.3.1. Tình hình mắc bệnh ngoài da ở chó đến khám chữa bệnh tại phòng mạch (50)
      • 4.3.2. Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da trên chó được đưa đến khám tại phòng mạch thú y (52)
      • 4.3.3. Tỷ lệ mắc bệnh ngoài da trên chó theo kiểu lông (53)
    • 4.4. Kết quả điều trị bệnh ngoài da cho chó đến khám, chữa tại phòng mạch thú y (0)
    • 4.5. Biện pháp phòng bệnh ngoài da cho chó (57)
    • 4.6. Kết quả thực hiện một số công tác khác tại phòng mạch thú y (57)
  • Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ (61)
    • 5.1. Kết luận (61)
    • 5.2. Đề nghị (0)

Nội dung

ĐOÀN THU HẰNGTên chuyên đề : “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ BỆNH NGOÀI DA THƯỜNG GẶP Ở CHÓ TẠI PHÒNG MẠCH THÚ Y VI HOÀNG AN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC 2016 -

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở khoa học

2.3.1 Hiểu biết chung về loài chó

* Một số giống chó địa phương

Chó Phú Quốc là giống chó đặc trưng sống phổ biến trên đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, Việt Nam Chúng có kích thước vừa phải, chiều cao khoảng 60-65 cm và cân nặng khoảng 15-25 kg Lông rất ngắn và mọc rậm ở giữa lưng từ vùng thắt lưng dọc lên vai, nơi lông mọc ngược thành một hàng dài, hướng về phía đầu, dài hơn và cứng hơn so với phần lông còn lại tạo thành xoáy trên lưng, đây là một trong những đặc trưng nổi bật của Chó Phú Quốc.

Chó Phú Quốc có màu lông phổ biến là vàng, hung và đen; giống chó này rất thông minh và nhanh nhẹn, luôn cảnh giác và có khả năng bơi lội, trèo giỏi Nhờ những đặc điểm ấy, ngày nay người ta sử dụng chó Phú Quốc để săn bắt, trông nhà và canh gác, báo động cho gia đình và khu vực xung quanh.

Chó vàng được người dân thuần hóa cách đây khoảng 3.000 – 4.000 năm trước Công nguyên, có tầm vóc trung bình với trưởng thành nặng khoảng 12 – 18 kg, cao 50 – 55 cm, chó cái thường nhỏ hơn chó đực; theo Nguyễn Văn Thanh và cộng sự (2016) [12], đây là giống chó nhanh nhẹn, hoạt bát, có khả năng thích nghi tốt với điều kiện ngoại cảnh, ít bị ốm, dễ chăm sóc dinh dưỡng và bơi lội giỏi Về sinh sản, chó đực có thể phối giống ở lứa tuổi 15 – 18 tháng và chó cái sinh sản ở 12 – 14 tháng, mỗi lứa trung bình đẻ khoảng 5 con.

Theo Hoàng Nghĩa (2005) [8], chú chó này có bộ lông xù kèm bờm đẹp, phân biệt với lông trên thân và có nhiều màu lông như đen, trắng, xám và đặc biệt là màu đỏ hung hiếm gặp Thân hình ở kích thước trung bình, dài hơn chiều cao, khung xương chắc khỏe và gọn gàng Bộ lông dày và đuôi dạng bông lau xoắn cuộn lên trên lưng Chó đực cao từ 57–65 cm, chó cái cao từ 52–60 cm, cân nặng khoảng 25–35 kg.

* Một số giống chó nhập ngoại Chó Poodle

Chó Poodle là giống chó cảnh nhanh nhẹn và thông minh Chiều dài cơ thể của Poodle xấp xỉ bằng chiều cao từ bàn chân đến vai nên cơ thể có dáng hình vuông, đầu tròn và nhỏ Mõm dài và thẳng, hốc mắt hình bầu dục nằm cách xa nhau Đôi tai dài thường rủ xuống Chân thẳng, bàn chân có hình bầu dục nhỏ và các ngón chân cong, móng chân thường được cắt đi Lông của Poodle xoăn và rất đa dạng, màu phổ biến gồm đen, nâu, vàng và kem.

Chó Phốc là một giống chó có nguồn gốc từ Đức và đã được du nhập sang Việt Nam từ lâu Đây là giống chó nhỏ, nặng khoảng 1,5–2,05 kg, với bộ lông bóng mượt và cơ thể cân đối, các đường nét thanh thoát, ngực nở và bụng thắt Hai chân trước thẳng và có móng vuốt rõ nét, bàn chân nhỏ mềm mại Mặt hình quả xoài như mặt hươu, mắt sẫm màu hình ô van, tai dựng thẳng (tai giấy) và đuôi được cắt ngắn từ khi còn nhỏ Chó Phốc có nhiều màu khác nhau như đỏ, vàng, đen hoặc socola.

Chó Phốc sóc, hay còn gọi là chó Pom, có nguồn gốc từ Đức và Ba Lan Đây là giống chó cỡ nhỏ với kích thước chỉ bằng một món đồ chơi, cao khoảng 18–30 cm và nặng 1–3 kg Đầu hình nêm, cơ thể cân đối, đuôi xù và uốn cong lên lưng Lông kép dày với lớp ngoài dài, thẳng và hơi cứng; lớp trong ngắn, mềm và dày; vùng cổ và ngực dài hơn Nhìn chung, chó Phốc sóc nhỏ nhắn, xinh xắn, ấm áp và mềm mại Màu lông rất đa dạng, có thể là đỏ, cam, kem, trắng, xanh, nâu và nhiều biến thể khác.

Chó Becgie có nguồn gốc từ Đức, được nhập vào nước ta từ những năm

Chó Becgie có tầm vóc tương đối lớn so với các giống chó ở nước ta, theo Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (2006) [4]; chiều dài cơ thể 110-112 cm; chiều cao ở chó đực từ 56-65 cm và ở chó cái từ 62-66 cm; cân nặng từ 28-37 kg.

Bộ lông ngắn, mềm, màu đen sẫm ở thân và mõm; đầu, ngực và bốn chân có màu vàng sẫm Đầu hình nêm, mũi phân thùy, tai dỏng hướng về phía trước, mắt đen, răng to, khớp răng cắn khít Chó đực có thể phối giống khi 24 tháng Chó cái có thể sinh sản khi 18 - 20 tháng Mỗi năm chó cái đẻ 2 lứa,mỗi lứa 4 - 8 con.

Chó Corgi là loại chó có xuất xứ từ Anh quốc ở xứ Wales, với kích cỡ cơ thể trung bình, thân dài và chân ngắn rõ rệt Tầm vóc chúng khoảng 30,5cm, trọng lượng đạt 12kg.

Giống Corgi là một loại chó có truyền thống được nuôi làm chó săn và chăn dắt gia súc lớn, nhờ khả năng chạy theo đàn và có thể dùng cú chạm hay cắn nhẹ vào gót chân của những con vật không chịu theo đàn để dẫn dắt chúng Chúng cần hoạt động nhiều mỗi ngày, chạy nhảy liên tục để duy trì sức khỏe Tuổi thọ trung bình của giống này khoảng 15 năm Màu lông phổ biến của Corgi là vàng–trắng và xám–trắng, cùng với một số biến thể khác.

Chó Golden Retriever có nguồn gốc từ Scotland và là giống chó cỡ trung khỏe mạnh với vóc dáng cân đối Bộ lông của chúng màu vàng kem đến vàng nâu, được cấu thành từ lớp lông ngoài không thấm nước và lớp lông lót mềm dày ở bên trong Đầu to, mõm hơi vát đi kèm với hàm rộng và khỏe cùng với răng sắc bén Chúng có tuổi thọ khoảng 12–15 năm.

Chó Alaska, hay còn gọi là giống chó kéo xe ở Alaska (Hoa Kỳ), nổi tiếng với bộ khung cao to, chắc chắn và rất khỏe mạnh, đặc biệt ở xương chân và các khớp chân được phát triển tương đối Chúng đa dạng về màu lông, điển hình là xám trắng, xám lông chồn pha trắng, đen trắng hoặc có thể trắng toàn thân; bộ lông của chúng gồm hai lớp Chiều cao trung bình từ 63–68 cm và nặng khoảng 34–38 kg.

Chó Husky có nguồn gốc từ Siberia, Nga, và được biết đến bởi ngoại hình và hành vi gợi nhớ tổ tiên là loài chó sói Chúng thích giao tiếp bằng tiếng hú hơn là sủa, cho thấy đặc tính xã hội và phần hoang dã của giống chó này Vì bản tính hiếu động và khó kiềm chế, Husky có xu hướng đi lang thang và tìm cách trốn thoát sự tù túng.

Husky rất hiếu động và thân thiện, là người bạn đồng hành lý tưởng cho gia đình Lông của chúng gồm hai lớp: một lớp lông dày, ngắn ở phía trong và một lớp lông mỏng, dài ở phía ngoài giúp bảo vệ khỏi lạnh khắc nghiệt của vùng băng giá Màu lông phổ biến gồm trắng-đen, nâu- trắng, xám- trắng và nhiều biến thể khác Mắt Husky có hình quả hạnh nhân, đặt ở mức vừa phải và hơi xếch lên, với màu mắt đa dạng và một số chú có hai màu mắt khác nhau Kích thước của chó Husky thuần chủng cao khoảng 51-58 cm và cân nặng khoảng 16 kg.

- 27kg Chúng có tuổi thọ trung bình từ 12 - 15 năm, mỗi lứa đẻ được 6 - 8 con.

2.3.2 Cấu tạo và sinh lý da chó

Một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó

2.4.1 Bệnh mò bao lông (do Demodex canis)

2.4.1.1 Đặc điểm hình thái và cấu tạo

Theo Bùi Khánh Linh và cộng sự (2017) [6], mò bao lông là loại mò nhỏ có chiều dài từ 0,1 đến 0,39 mm, cơ thể dài nhưng không có lông và sống ký sinh ở tuyến nhờn của bao lông Cấu tạo cơ thể của mò bao lông được chia thành ba phần chính: đầu, ngực và bụng.

- Đầu: là đầu giả, ngắn, hình móng ngựa gồm một đôi xúc biện có 3 đốt, đốt cuối có 4 - 5 tơ hình que, một đôi kìm, một tấm dưới miệng.

- Ngực: có 4 đôi chân rất ngắn, tiêu giảm giống như hình mấu.

- Bụng: dài, có nhiều vân ngang ở mặt lưng và mặt bụng.

Demodex canis là ve ký sinh trên chó Demodex canis đực có dương vật nhô lên ở phần ngực trên mặt lưng; Demodex canis cái có âm hộ nằm chính giữa phần thân ở mặt bụng, kể từ gốc chân thứ tư lui xuống phía dưới phần bụng.

Trứng Demodex canis có hình bầu dục với kích thước từ 0,07–0,09 mm Theo Sakulploy R và Sangvaranond A (2010) [26], hình thái của Demodex canis trưởng thành là thanh mảnh và thon dài, chiều dài phần bụng từ 91–115 micron, chiều rộng cơ thể từ 40–45 micron và tổng chiều dài cơ thể ước chừng khoảng 167 micron.

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), sinh vật có thân dài khoảng 0,25 mm; đầu giả rộng và lồi; ngực mang một đôi chân hình mấu ngắn; bụng dài có vân ngang trên mặt lưng và mặt bụng; phụ miệng gồm một đôi xúc biện, kìm và một tấm dưới miệng; xúc biện có 3 đốt, đốt cuối mang 4–5 tơ hình que; kìm hình trâm, dẹp và mỏng; cơ quan sinh dục đực ở mặt lưng phần ngực của con đực; âm môn ở mặt bụng, trước lỗ sinh dục của con cái; trứng hình thoi.

Mò bao lông ký sinh trên nang lông của chó phát triển qua 4 giai đoạn chính: trứng, ấu trùng (larva), tiền nhộng (protonymph) và nhộng (nymph), trước khi trưởng thành Toàn bộ chu kỳ diễn ra trong khoảng 20–30 ngày Con trưởng thành có 4 đôi chân.

5 đốt Giai đoạn larva có 3 đôi chân Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2011)

Vòng đời của mò bao lông trên chó kéo dài khoảng hai tuần từ trứng đến con ghẻ trưởng thành, tùy thuộc vào điều kiện sống của mò lông, thời tiết và mùa vụ trong năm Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), mò bao lông phát triển trên da vật chủ; ấu trùng có ba đôi chân và trải qua ba giai đoạn phát triển Mò bao lông chịu đựng khá tốt và có thể sống vài ngày ngoài cơ thể vật chủ ở nơi ẩm ướt; trong điều kiện thực nghiệm, chúng sống được 21 ngày trên một miếng da được đặt ở nơi ẩm và lạnh.

2.4.1.3 Đặc điểm dịch tễ của Demodex canis gây bệnh trên chó

Qua nghiên cứu dịch tễ học, ta có cơ sở để xây dựng các chiến lược phòng ngừa và điều trị bệnh do Demodex canis có hiệu quả Sự phát triển và gây bệnh của Demodex canis phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, gồm yếu tố di truyền, miễn dịch và điều kiện môi trường, vì vậy việc nhận diện và quản lý các yếu tố này là chìa khóa để nâng cao kết quả điều trị và ngăn ngừa tái phát.

Demodex canis có khả năng gây bệnh trên tất cả các giống chó (Bùi

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2], Demodex canis là ký sinh trùng thường thấy trên tất cả các giống chó.

Demodex canis thường không lây nhiễm cho con người nhưng có thể lây nhiễm cho con chó khác.

Demodex canis ở chó có tỷ lệ mắc bệnh không đồng nhất giữa các độ tuổi và mức độ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi; nghiên cứu của Bùi Khánh Linh và cộng sự (2014) [6] đã ghi nhận xu hướng này ở chó.

Mò bao lông Demodex canis lây lan trực tiếp hoặc qua tiếp xúc giữa các chú chó Chó con còn non, lông ngắn và gầy yếu dễ bị nhiễm bệnh hơn Những chú chó có da non và thường tắm bằng xà phòng có độ kiềm cao lại càng dễ nhiễm bệnh Mò cũng được gặp trên da của những con vật khỏe mạnh, đặc biệt là ở những chú chó già (Phạm Văn Khuê và Phan Lục, 1996) [2].

Theo Nayak D.C và cs (1997) [23] cho biết: chó ở độ tuổi từ 1 đến 2 tuổi có tỷ lệ mắc cao hơn chó lớn hơn 2 tuổi.

Qua kết quả nghiên cứu thực tế của các tác giả, tỷ lệ nhiễm Demodex canis qua các lứa tuổi ở chó khác nhau.

Bệnh do Demodex canis trên chó xảy ra tất cả các mùa trong năm (Bùi Khánh Linh và cs (2014) [6]).

Theo Chen Y-Z và cs (2012) [15] cho biết: tỷ lệ Demodex canis theo mùa cho thấy cao nhất là tháng ba vàthấp nhất là tháng mười hai.

Theo Fondati A và cs (2010) [17], Demodex canis đã tồn tại với số lượng nhỏ trên da của hầu hết các con chó khỏe mạnh.

Barriga O.O và cs (1992) [14] cho biết: chó có hiện tượng suy giảm miễn dịch trước khi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng do Demodex canis gây nên.

Khi sức đề kháng của chó giảm rất dễ cảm nhiễm Demodex canis

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996), ở Việt Nam khí hậu nóng ẩm quanh năm, đặc biệt vào mùa hè và mùa thu, khiến nhiều chó ngoại nhập khó thích nghi với điều kiện khí hậu địa phương Sự căng thẳng do thích nghi kém này làm giảm sức đề kháng của chúng, là nguyên nhân để Demodex canis phát triển và gây bệnh ở chó.

2.4.1.4 Đặc điểm bệnh lý và lâm sàng bệnh do Demodex canis trên chó * Biểu hiện lâm sàng

Khi nghiên cứu về bệnh lý, lâm sàng, các tác giả đều cho thấy: bệnh thể hiện ở nhiều mức độ từ thể nhẹ đến nặng.

Thể nhẹ của bệnh xuất hiện các hạt viêm hình tròn, đường kính 2–10 mm, tập trung ở các khu vực tách biệt trên da chó Những vùng bị ảnh hưởng thường gặp là mặt, quanh mắt và chân trước, hoặc có thể lan tới cả bốn chân, kèm theo rụng lông ở khu vực bị tổn thương.

Thể nặng ở chó thể hiện qua ngứa ngáy dữ dội và da viêm đỏ, nổi mụn mủ kèm máu và dịch vàng rỉ từ vùng nhiễm bệnh Theo thời gian, chó có mùi hôi khó chịu và có thể nhiễm trùng kế phát tạo thành lớp nhầy màu vàng ở ngoài da, dần dần không đóng vảy Chó rụng lông theo vùng mò và kéo theo giảm ăn, mất ngủ, dẫn đến suy kiệt và có thể tử vong nếu không được chăm sóc và điều trị kịp thời.

Có hai dạng bệnh thường gặp được mô tả bởi Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996): dạng đầu tiên là da dày lên và nhăn nheo, xuất hiện vảy hoặc thể vảy, lông rụng, da ửng đỏ và cuối cùng chuyển màu xanh hoặc vàng đỏ; dạng thứ hai là mụn đỏ nhiễm vi khuẩn, thường xuất hiện trước dạng vảy và phát triển thành mụn nhỏ có đường kính vài mm hoặc thành nốt mụn mủ, đôi khi gặp cả ổ hoại tử Dạng vảy ít khốc liệt hơn.

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2012) [11], triệu chứng thường xuất hiện hai dạng.

Ở dạng ghẻ khô ở chó, thời kỳ đầu bệnh có thể thấy chó rụng lông ở vùng trán và mí mắt, sau đó lan ra bốn chân Da trở nên dày cộm và chuyển sang màu đỏ sẫm Chó bị ngứa nhiều và thường đưa chân lên gãi.

Ghẻ mủ ở chó là dạng bệnh da liễu thể hiện với mụn mủ sưng lên trên da và chứa dịch màu vàng xám ở bên trong Các vùng da bị ảnh hưởng trở nên nhăn nheo, lông rụng và theo thời gian có thể chết đi; dịch viêm bết lại tạo thành vảy khô cứng, dày và bám chặt Trong trường hợp nặng, toàn thân chó có thể trụi lông và xuất hiện nhiều mụn ghẻ có mủ đặc quánh; tại các vùng da mỏng như bẹn, bụng, nách sẽ hình thành ổ áp xe, khi các ổ áp xe vỡ mủ sẽ chảy ra ngoài và kèm theo mùi hôi tanh khó chịu.

Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [2], cho biết: mò bao lông

Demodex canis lây lan trực tiếp hoặc tiếp xúc Gây nhiễm nhân tạo ít kết quả.

Demodex canis là ký sinh trùng thường gặp ở chó, dễ thấy ở những chú chó còn non, lông ngắn, gầy yếu và dễ bị sốt, ho do virus Ngay cả ở chó khỏe mạnh, người ta cũng có thể thấy ký sinh trùng này trên da, nhất là ở chó già Nhiều tác giả cho rằng Demodex canis là một ký sinh trùng phổ biến, gặp ở tất cả chó nhưng chỉ gây lở loét ở một số cá thể khi sức khỏe suy giảm hoặc da bị trầy xước Ký sinh trùng này cũng được tìm thấy trên da người.

Theo Nguyễn Phước Trung (2002) cho biết có thể điều trị ghẻ ở chó bằng nhiều phương pháp kết hợp, gồm bôi Amitraz 0,025% lên da vùng ghẻ, tiêm Ivermectin với liều 0,2 mg/kg thực hiện 2–4 lần, mỗi lần cách nhau 14 ngày, và bôi Diethyl phthalate (DEP) lên vị trí bị ghẻ để đạt hiệu quả điều trị cao.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Vũ Thị Hồng Loan (2003) [7], tỷ lệ nhiễm Demodex ở chó là 35,25% và nhiễm Sarcoptes là 11,49% Dấu hiệu điển hình gồm các đám loang lổ nhỏ không mọc lông quanh mắt hoặc trên toàn thân Dạng tổn thương có đặc điểm cục bộ phân bố thành từng vùng nhỏ ở mặt, chân trước hoặc ở cả hai mí mắt Trong dạng toàn thân, da đỏ kèm theo nhiều dịch viêm rỉ máu và huyết thanh.

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [5], nấm thường xuất hiện ở cổ, u vai, bề mặt của lưng và chân gồm những mãng tròn, đường kính 2 - 3 cm.

Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (2009) cho biết chó mắc bệnh ghẻ ngầm do ghẻ đào hang tiết ra độc tố, nước bọt và các chất bài tiết khiến vật nuôi bị ngứa; cơn ngứa tăng lên khi trời nóng và khi thú vận động Chó thường gãi, cắn các vùng ngứa và cọ xát nền chuồng, nền nhà để làm dịu cơn khó chịu.

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2012) [11], căn bệnh ghẻ ở chó do ký sinh Demodex canis gây ra Loài ký sinh này sống ở bao lông (màng bọc quanh chân lông) hoặc trong tuyến mỡ dưới da chó.

Theo Bùi Khánh Linh và các cộng sự (2014), mò bao lông thường ký sinh ở nang lông và gây viêm da; bệnh xảy ra quanh năm ở mọi giống chó và tỷ lệ mắc tăng dần theo lứa tuổi Tỷ lệ nhiễm bệnh ở chó ngoại (82,3%) cao hơn chó nội (17,6%).

Trong dữ liệu này, có 50 ca bệnh ở chó trên 36 tháng tuổi, chiếm 36,76% Tiếp theo là 36 ca ở chó từ 12–36 tháng tuổi, chiếm 26,47%; chó ở độ tuổi trên 6–12 tháng có tỷ lệ mắc 19,85%; chó ở độ tuổi 2–6 tháng có 11,03%; và thấp nhất là chó dưới 2 tháng tuổi với tỷ lệ mắc 5,88% Như vậy, Demodex canis có sự phân bố tỷ lệ mắc khác nhau theo từng nhóm tuổi của chó.

2.5.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Quinn P.J và cộng sự (1994) [24] cho biết các bệnh tích da do nấm ở chó thường phát triển từ 7 tuần đến 6 tháng tuổi; ở chó trưởng thành có thể xảy ra nhưng rất hiếm Nghiên cứu cũng đề cập đến ghi nhận nhiễm nấm trên các giống chó ngoại.

Halit Umar M (2005) cho biết tại các vị trí ký sinh của Demodex xuất hiện ban đỏ và vẩy, kèm theo dịch viêm và huyết thanh Nếu không được điều trị lâu ngày, tình trạng này có thể tiến triển thành mủ, chảy máu và mùi hôi.

Theo Sakulploy R và Sangvaranond A (2010), có ba loài Demodex có thể gây Demodicosis ở chó: D canis gây viêm nang lông và mụn nhọt, D injai làm da chó bị nhờn dầu, và D cornei có thể gây ngứa da ở chó.

Theo Currier R W (2011) [16], nhiễm Demodex ở chó được phân thành hai dạng chính: dạng cục bộ và dạng toàn thân Dạng cục bộ thường xuất hiện ở chó nhỏ, trung bình từ 3–6 tháng tuổi; dạng toàn thân có thể xuất hiện ở cả chó nhỏ lẫn chó lớn, cho thấy mức độ lan rộng của nhiễm Demodex phụ thuộc vào kích thước và tuổi của chó.

Theo Chen Y-Z và cs (2012) [15], tổng cộng 3.977 con chó từ nhiều bệnh viện động vật ở thành phố Quảng Châu đã được khảo sát về lây nhiễm Demodex trong khoảng tháng 1 đến tháng 12 năm 2009 Kết quả cho thấy 977 con chó (24,57%) dương tính với Demodex trên da.

130 (13,31%) chó dương tính với Demodex Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là tháng ba (4,15%) và thấp nhất là tháng mười hai (1,39%) Tỷ lệ nhiễm ở chó đực (3,67%) là cao hơn so với chó cái (2,74%) Chó 1 - 5 tuổi tỷ lệ nhiễm cao hơn so với các độ tuổi khác.

Ron Hines (2013) [25] cho rằng: phát hiện sớm, cách ly, điều trị triệt để Thực hiện vệ sinh chăm sóc tốt, tắm chải hàng tuần cho chó Vệ sinh môi trường xung quanh Chó bị ghẻ phải được tắm rửa sạch, cắt lông vùng ghẻ trước khi dùng thuốc.

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 35 3.1 Đối tượng

Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: phòng mạch thú y Vi Hoàng An, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên.

Nội dung thực hiện

- Thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho chó tại phòng mạch.

- Xác định tỉ lệ chó mắc các bệnh về da tại phòng mạch.

- Điều trị bệnh cho chó đến khám và chữa bệnh ngoài da tại phòng mạch.

Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi

- Tình hình chó đến khám, chữa bệnh tại phòng mạch thú y Vi Hoàng An.

- Kết quả tiêm phòng vắc-xin cho chó tại phòng mạch.

- Tình hình mắc bệnh ngoài da ở chó đến khám chữa bệnh tại phòng mạch.

- Kết quả điều trị bệnh ngoài da cho chó tại phòng mạch.

3.4.2 Phương pháp theo dõi (thu thập thông tin)

3.4.2.1 Phương pháp đánh giá tình hình chó được đưa đến khám chữa bệnh tại phòng mạch thú y Vi Hoàng An Để đánh giá tình hình chó được đưa đến khám chữa bệnh tại phòng mạch, em tiến hành ghi chép số liệu hàng ngày vào nhật ký thực tập Trên cơ sở đó, em thống kê tổng số lượt chó được đưa đến khám chữa bệnh trong thời gian thực tập.

3.4.2.2 Kết quả tiêm phòng cho chó tại phòng mạch

Hằng ngày, phòng mạch ghi chép đầy đủ số liệu của chó đến tiêm phòng vắc-xin, bao gồm loại vắc-xin, lứa tuổi, giống chó và mức độ an toàn ở từng trường hợp tiêm Mỗi chú chó đến khám tại phòng mạch sẽ có sổ theo dõi sức khỏe và các thông tin được lưu giữ tại phòng mạch để cán bộ kỹ thuật kịp thời hỗ trợ tư vấn và chăm sóc phù hợp.

3.4.2.3 Phương pháp xác định tình hình nhiễm bệnh Để xác định tình hình nhiễm bệnh trên chó, em tiến hành theo dõi hàng ngày, thông qua phương pháp chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán phi lâm sàng để tiến hành kết luận bệnh, sau đó kê đơn, điều trị và theo dõi chó trong suốt quá trình điều trị.

3.4.3 Phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh

3.4.3.1 Phương pháp chẩn đoán một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó được đưa đến khám chữa bệnh tại phòng mạch thú y Vi Hoàng An Để chẩn đoán chính xác căn bệnh, em tiến hành quan sát triệu chứng lâm sàng chung như trạng thái lông, màu của da, mùi của da, độ ẩm của da, các vết loét, đóng vẩy, da nổi mẩn, da sưng dày, và những biến đổi ở vùng da nhiễm bệnh Đồng thời tiến hành lấy mẫu xét nghiệm, cụ thể như sau:

* Bệnh mò bao lông (Demodicosis)

Để chẩn đoán ký sinh, lấy mẫu da tại vùng giao giữa da lành và da bệnh bằng cách cạo nhẹ cho đến khi rỉ máu, đưa mẫu lên lam kính, nhỏ 1–2 giọt lactophenol và quan sát dưới kính hiển vi để kiểm tra sự hiện diện của trứng.

Demodex trưởng thành với vật kính 10 (x100 lần).

Để khảo sát nấm da, cạo nhẹ vùng da bệnh và đặt mẫu lên phiến kính Với mẫu lông, vẩy và lớp sừng, đặt trên lam kính và nhỏ vài giọt dung dịch NaOH 10%, sau đó hơ nhẹ trên ngọn lửa đèn cồn để làm trong tổ chức Quan sát dưới kính hiển vi để phát hiện sợi nấm, bào tử nấm và tế bào nấm ký sinh.

Để lấy bệnh phẩm, rửa sạch da bằng nước ấm và thuốc tím 1%, sau đó cắt lông tại vị trí có bệnh tích, đặc biệt ở giao điểm giữa da bị bệnh và da lành vì ghẻ thường tập trung ở đây Dùng dao cạo thẳng vào da cho đến khi chảy máu.

Phương pháp kiểm tra ghẻ sống là một quy trình chẩn đoán nhằm xác định sự có mặt của ghẻ bằng cách thu thập mẫu từ vùng tổn thương, xử lý mẫu trong điều kiện vô trùng và quan sát bằng kính hiển vi để phát hiện ghẻ hoặc các dấu hiệu liên quan Quá trình này đòi hỏi sự tham gia của nhân viên y tế có đào tạo và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc kiểm soát nhiễm khuẩn và an toàn sinh học để đảm bảo kết quả chẩn đoán chính xác và an toàn cho người bệnh.

3.4.3.2 Phương pháp điều trị một số bệnh ngoài da thường gặp ở chó được đưa đến khám chữa bệnh tại phòng mạch thú y Vi Hoàng An Để điều trị bệnh ngoài da cho con vật đạt hiệu quả cao, cần đưa ra phác đồ điều trị đúng bệnh phù hợp mức độ nhiễm trên da, trọng lượng và thể trạng của con vật Phòng mạch thú y tiến hành thực hiện phác đồ như sau:

* Bệnh mò bao lông (Demodicosis)

Để dùng NexGard, cho chó uống 1 viên duy nhất dựa trên trọng lượng cơ thể của chó Viên 11 mg dành cho chó rất nhỏ có cân nặng từ 2–4 kg; viên 28 mg dành cho chó nhỏ từ 4–10 kg; viên 68 mg dành cho chó trung bình từ 10–25 kg; viên 136 mg dành cho chó lớn từ 25–50 kg.

25 kg), NexGard 136 mg dùng cho chó lớn (> 25 - 50 kg).

- Tiến hành cạo lông cho chó để bôi thuốc vào vùng da bị nấm.

- Tiến hành vệ sinh bề mặt da cho chó bằng dung dịch cồn I-ốt lau vào vùng da bị nấm ít nhất 2 lần/ngày.

- Sử dụng sữa tắm kháng nấm để kết hợp điều trị, 3 ngày tắm 1 lần.

- Xịt thuốc trị nấm Alkin Fungikur 2 lần/ngày * Bệnh ghẻ ngầm

Để dùng Bravecto cho chó, hãy cho uống 1 viên duy nhất theo cân nặng của chó: Bravecto 112,5 mg dành cho chó rất nhỏ (2 - 4,5 kg), Bravecto 250 mg dành cho chó nhỏ (> 4,5 - 10 kg), Bravecto 500 mg dành cho chó cỡ trung bình (> 10 - 20 kg), và Bravecto 1.000 mg dành cho chó lớn (> 20 - 40 kg).

1.400 mg cho chó rất lớn (> 40 - 56 kg).

3.4.3.3 Phương pháp đánh giá khi khỏi bệnh Để đánh giá con vật được coi là đã khỏi bệnh, em tiến hành quan sát trạng thái lông, da của con vật và dựa trên các chỉ tiêu như:

- Lông đã mọc đều trở lại và không còn rụng.

- Da không còn những triệu chứng, bệnh tích của bệnh, da đã tái tạo và phục hồi trạng thái bình thường.

- Con vật không còn ngứa, gãi, cắn vào da.

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm excel 2016 và được tính toán bằng các công thức thường quy:

Tổng số con mắc bệnh

Tổng số con theo dõi

Tổng số con khỏi bệnh

Tổng số con điều trị

KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Ngày đăng: 14/02/2022, 16:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
3. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (2012), Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2012
4. Phạm Sỹ Lăng, Trần Minh Châu, Hồ Đình Chúc (2006), Kỹ thuật nuôi chó và phòng bệnh cho chó, Nxb Lao động xã hội, tr. 117 - 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi chóvà phòng bệnh cho chó
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Trần Minh Châu, Hồ Đình Chúc
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2006
5. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới (2009), Ký sinh trùng và bệnh kỷ sinh trùng ở vật nuôi, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr. 221 - 227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng và bệnh kỷ sinhtrùng ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Ngọc Mỹ, Nguyễn Thị Kim Thành, Nguyễn Văn Thọ, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
6. Bùi Khánh Linh, Sử Thanh Long và Nguyễn Tuấn Anh (2014), "Tình hình bệnh do Demodex canis trên chó và xây dựng phác đồ điều trị", Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, XXI (4): 75 - 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh do Demodex canis trên chó và xây dựng phác đồ điều trị
Tác giả: Bùi Khánh Linh, Sử Thanh Long và Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 2014
7. Nguyễn Vũ Thị Hồng Loan (2003), “Khảo sát bệnh do Demodex trên chó và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát bệnh do Demodex trên chó và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”
Tác giả: Nguyễn Vũ Thị Hồng Loan
Năm: 2003
8. Hoàng Nghĩa (2005), Chó - người bạn trung thành của mọi người, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chó - người bạn trung thành của mọi người
Tác giả: Hoàng Nghĩa
Nhà XB: Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
9. Phạm Ngọc Thạch (2006), Những bí quyết trong chẩn đoán bệnh cho chó, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bí quyết trong chẩn đoán bệnh cho chó
Tác giả: Phạm Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Thanh, Sử Thanh Long, Trần Lê Thu Hằng (2011), “Bước đầu khảo sát tình hình đối sử với động vật (Animal Welfare) đối với chó tại Hà Nội”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XX, số 4, Hội Thú y Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu khảo sát tình hình đối sử với động vật (Animal Welfare) đối với chó tại Hà Nội”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Sử Thanh Long, Trần Lê Thu Hằng
Năm: 2011
11. Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán và Nguyễn Hoài Nam (2012), Bệnh của chó, mèo, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, 141tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của chó, mèo
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán và Nguyễn Hoài Nam
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2012
12. Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam (2016), Giáo trình Bệnh của chó mèo, Nxb Đại học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhBệnh của chó mèo
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Nông nghiệp
Năm: 2016
13. Nguyễn Phước Trung (2002), Nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh chó mèo, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II. Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh chó mèo
Tác giả: Nguyễn Phước Trung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
14. Barriga O.O; al-Khalidi N.W; Martin S; Wyman M. (1992). "Evidence of immunosuppression by Demodex canis", Vet Immunol Immunopathol, 32 (1 - 2):37 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evidence of immunosuppression by Demodex canis
Tác giả: Barriga O.O; al-Khalidi N.W; Martin S; Wyman M
Năm: 1992
18. Gupta Mahesh; Shukla P.C; Rao MLV. (2013), "Therapeutic Management of Demodicosis in a Dog", Intas Polivet; Jul-Dec, 14 (2): 282 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Therapeutic Managementof Demodicosis in a Dog
Tác giả: Gupta Mahesh; Shukla P.C; Rao MLV
Năm: 2013
19. Halit Umar M. (2005), "Demodex an inhabitant of human hair follicles and a mite which we live with in harmony", Kansas State University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Demodex an inhabitant of human hair follicles and a mite which we live with in harmony
Tác giả: Halit Umar M
Năm: 2005
20. Johnstone I.P. (2002), "Doramectin as a treatment for canine and feline demodicosis", Australian Veterinary Practitioner Check publisher's open access policy, 32 (3): 98 - 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doramectin as a treatment for canine and feline demodicosis
Tác giả: Johnstone I.P
Năm: 2002
21. Mueller R.S. (2004), "Treatment protocols for demodicosis: an evidence- based review", Veterinary Dermatology, 15: 75 - 89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Treatment protocols for demodicosis: an evidence-based review
Tác giả: Mueller R.S
Năm: 2004
24. Quinn P.J.; Carter M.E.; Markey B.; Carter G.R. (1994),“Clinicalveterinary microbiology”, By Wolfe P381 - P390 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinicalveterinary microbiology”
Tác giả: Quinn P.J.; Carter M.E.; Markey B.; Carter G.R
Năm: 1994
25. RonHines (2013), Sarcoptic Mange In Your Dog “Scabies ”, Educational Director, Veterinary Partner Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sarcoptic Mange In Your Dog" “Scabies
Tác giả: RonHines
Năm: 2013
26. Sakulploy R.; Sangvaranond A. (2010). "Canine Demodicosis caused by Demodex canis and short opisthosomal Demodex cornei in Shi Tzu dog from Bangkok Metropolitan Thailand", Kasetsart Veterinarians, 20 (1): 28 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Canine Demodicosis caused by Demodex canis and short opisthosomal Demodex cornei in Shi Tzu dog from Bangkok Metropolitan Thailand
Tác giả: Sakulploy R.; Sangvaranond A
Năm: 2010

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w