Để thấy được tầm quan trọng của biển và đại dương, chúng ta hãy cùng tìm hiểu vai trò, cũng như biển và đại dương có chức năng gì đối với sự sống trên Trái Đất, từ đó chúng ta cũng phải
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
🕮
HỌC PHẦN MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
ĐỀ TÀI:
TÀI NGUYÊN BIỂN VÀ ĐẠI DƯƠNG
Nhóm 3 GVGD: Cô Đào Ngọc Bích
Thành phố Hồ Chí Minh – 2020
Trang 2DANH SÁCH PHÂN CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ
thực hiện
Mức độ hoàn thành
Ghi chú
1 Nguyễn Phi Hùng 44.01.607.064
Chương 2 100%
2 Diệp Yến Nhi 44.01.607.104 Chương 2 100%
3 Võ Minh Phương 44.01.607.114 Chương 2 100%
4 Trần Công Tâm 44.01.607.120 Chương 2 100%
5 Trần Thị Cẩm Tiên 44.01.607.121 PPT 100%
6 Triệu Thị Ngọc Thu 44.01.607.128 Chương
1 & 3
100%
7 Mạc Anh Tuấn 44.01.607.123 Chương 2
Tổng hợp Word
100%
8 Bùi Văn Út 44.01.607.145 Chương 2 100%
9 Trịnh Thị Tường Vy 44.01.607.149 Chương 2 100%
10 Phạm Thị Phương Thảo 44.01.607.126 Chương 2 100%
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 2
I Khái quát về tài nguyên biển, đại dương 2
II Nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái tài nguyên biển, đại dương 5
III Hậu quà 7
IV Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường biển, đại dương 8
CHƯƠNG 3 KẾT LUẬN 10
*TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 4CHƯƠNG I MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, biển và đại dương chiếm khoảng 71% (tức gần 361 triệu
km2) tổng diện tích bề mặt trái đất Biển và đại dương được các nhà khoa học công nhận là cội nguồn của sự sống trên Trái Đất, bởi vì nó có nhiều chức năng quan trọng liên quan đến sự sống trên Trái Đất, nếu không có biển và đại dương thì sự sống trên trái đất này đã không tồn tại
Tài nguyên biển và đại dương đang là một vấn đề nóng hổi mà các quốc gia trên thế giới quan tâm Theo tính toán sơ bộ, dân số thế giới và các đô thị lớn phát triển tập trung ở vùng ven đại dương, vùng ven biển cách đường bờ biển chừng 100
km về phía lục địa và trên các đảo Xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới do nhịp độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng và mạnh mẽ Điều này cũng kéo theo sự tăng cao nhu cầu tiêu thụ và sử dụng tài nguyên biển Hậu quả là tài nguyên biển có nguy cơ bị suy giảm, suy thoái do bị khai thác quá mức; một số dạng tài nguyên quí hiếm dễ có nguy cơ mất hẳn Môi trường biển bị ô nhiễm và suy thoái đang tác động trực tiếp vào các hệ thống tài nguyên biển, vào khả năng tái tạo và phục hồi các dạng tài nguyên cụ thể
Để thấy được tầm quan trọng của biển và đại dương, chúng ta hãy cùng tìm hiểu vai trò, cũng như biển và đại dương có chức năng gì đối với sự sống trên Trái Đất, từ đó chúng ta cũng phải rút ra được những giải pháp cụ thể làm sao để bảo vệ tài nguyên biển và đại dương không bị ô nhiễm,cạn kiệt, suy thoái
Trang 5CHƯƠNG 2 NỘI DUNG
I Khái quát về tài nguyên biển, đại dương
1.1 Một số khái niệm
Tài nguyên là tất cả các dạng vậy chất, tri thức, thông tin được con người sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới Một tài nguyên mang một giá trị lịch sử xã hội nhất định, thể hiện bằng sự thay đổi giá trị tài nguyên theo quá trình phát triển, sự gia tăng số lượng và loại hình được con người khai thác, sử dụng
Đại dương là những thủy vực nước mặn có qui mô lớn trong đại dương thế giới Nó cũng là những bộ phận quan trọng của đại dương thế giới và được phân định tương đối bởi ranh giới “ nhân tạo” Thông thường, ranh giới về phía lục địa của đại dương được phân định với các vùng biển phía trong bởi các hệ thống đảo, tương ứng với các đới phá hủy cấu trúc địa chất của rìa lục địa phía dưới
Biển là một loại hình thủy vực nước mặn của đại dương thế giới, nằm sát các đại lục và ngăn cách với đại dương ở phía ngoài bởi hệ thống đảo và bán đảo, và ở phía trong bởi bờ đại lục( còn gọi là bờ biển) Do nằm sát lục địa và chịu ảnh hưởng của các quá trình lục địa( thông qua hệ thống sông ngoài), nước biển thường
có thành phần và tính chất khác nước đại dương
Nước mặn là thuật ngữ chung để chỉ nước chứa một hàm lượng đáng kể các muối hòa tan (chủ yếu là NaCl ) Hàm lượng này thông thường được biểu diễn dưới dạng phần nghìn (ppt ) hay phần triệu (ppm ) hoặc phần trăm (%) hay g/l Khái niệm nước mặn cũng thay đổi tùy theo các quan điểm nhìn nhận Chẳng hạn, Bách khoa Toàn thư Việt Nam coi nước mặn là tên gọi để chỉ một trong hai trường hợp:
Nước có chứa muối NaCl hoà tan với hàm lượng cao hơn nước lợ, thường quy ước trên 10 g/l
Trang 6Thuật ngữ gọi chung các loại nước chứa lượng muối NaCl cao hơn nước uống thông thường (> 1g/l)
Nghĩa thứ nhất phổ biến khi nói về các nguồn nước tự nhiên ven biển Trên Trái Đất, nước biển trong các đại dương là nguồn nước mặn phổ biến nhất và cũng
là nguồn nước lớn nhất
1.2 Vai trò
Nhờ có 71% diện tích biển và đại dương bao phủ bề mặt mà môi trường Trái đất có những điểm khác cơ bản so với các hành tinh khác trong hệ Mặt trời Biển
và đại dương được các nhà khoa học công nhận là cội nguồn của sự sống trên Trái đất Không có biển và đại dương, cuộc sống như được biết hôm nay có thể không tồn tại (Seibol và Berger, 1989) Bởi lẽ, biển và đại dương có nhiều chức năng quan trọng liên quan tới sự sống của Trái đất Nó hoạt động với tư cách là một "cỗ máy điều hoà nhiệt độ" và "cỗ lò sưởi" khổng lồ có tác dụng điều chỉnh cân bằng các cực từ nhiệt độ thịnh hành trên Trái đất và làm dịu các ảnh hưởng khốc liệt của thời tiết như mưa bão, lũ, lụt, khô hạn, Thiếu biển và đại dương, các đại lục sẽ trở thành các sa mạc khô cằn, môi trường sống của loài người trên Trái đất sẽ khắc nghiệt hơn
Biến và đại dương cung cấp nguồn nguyên liệu dồi dào Sản lượng toàn bộ các loại thực vật trong toàn bộ khối nước đạt tới 550,2 tỷ tấn, còn động vật là 56,2 tỷ tấn
Bên cạnh nguồn lợi về sinh vật, biển còn là mỏ khoáng khổng lồ, trong thềm lục địa là những túi dầu với trữ lượng rất lớn Hầu hết các nguyên tố hóa học đều
có mặt trong nước biển Song, muốn ăn có hàm lượng cao nhất Biển và đại dương cung cấp nguồn năng lượng tiềm tàng sinh ra các dòng chảy, hoạt động của thủy triều, gió biển,… cùng với các nguồn tài nguyên khác chưa được phát hiện hết
Trang 7Biển và đại dương là nguồn cung cấp hơi nước vô tận cho khí quyển Hơi nước sinh ra mây và mưa để duy trì cuộc sống của con người và tất cả các loài sinh vật
Môi trường biển và đại dương là kho tài nguyên vô tận với hơn 160.000 loài động vật và 10.000 loài thực vật Ngoài ra, còn là lượng khoáng sản lớn, đặc biệt là dầu khí
Thuỷ triều đang ngày càng được nhiều quốc gia tận dụng để phát triển nguồn điện sạch, tái tạo
Được xem là “chiếc cầu nối liền giữa các lục địa với nhau”, môi trường biển
và đại dương trở thành đường giao thông vận tải hết sức rộng lớn
Biển và đại dương cũng là nơi mà con người dùng đễ khai thác để nghỉ dưỡng
và du lịch vô cùng hấp dẫn, thu hút được đông đảo khách du lịch
1.3 Đặc điểm
Nước biển có chứa các chất muối, khí như oxi, nito, cacbonic… và chất hữu
cơ có nguồn gốc động, thực vật
Trong đó, nhiều nhất là muối khoáng, trung bình mỗi kg nước biển có 35 gam muối khoáng, trong đó 77,8% là muối NaCl, tức là muối ăn
Tỉ lệ muối và độ muối trung bình của nước biển là 35 phần nghìn và có sự khác nhau giữa các môi trường biển và đại dương
Về nhiệt độ của nước biển thì chúng sẽ giảm dần, tuỳ vào độ sâu đối với mặt đất liền, khi mà độ sâu đến hơn 3000m thì nhiệt độ nước biển ở đó hầu như không
có thay đổi Ngoài ra, nhiệt độ của nước biển còn tuỳ thuộc vào các màu trong năm, khi đó mùa hạ sẽ cao hơn mua đông, và nhiệt độ của nước biển cũng sẽ phụ thuộc vào vị trí của xích đạo, khi đó sẽ giảm dần từ vĩ độ thấp lên vĩ độ cao …
Trang 81.4 Phân loại
Tài nguyên biển và đại dương rất đa dạng, được chia ra thành các loại:
Nguồn lợi hóa chất và khoáng chất chứa trong khối nước và đáy biển: biển và đại dương là kho chứa hóa chất vô tận tổng lượng muối tan chứa trong nước biển
là 48 triệu km3, trong đó muối ăn, iot và 60 nguyên tố khác Hoạt động thăm dò và khai thác khoáng sản từ biển và đại dương đang được triển khai với qui mô ngày càng tăng Các loại khoáng sản được khai thác chủ yếu từ biển là quặng fe, Mn, quặng sa khoáng Au, Ti và các loại muối
Nguồn lợi nhiên liệu hóa thạch : chủ yếu là dầu và khí tự nhiên
Nguồn năng lượng sạch (khai thác từ gió, nhiệt độ nước biển, các dòng hải lưu
và thủy triều) năng lượng sạch từ biển và đại dương đang được khai thác trong vận tải biển, chạy máy phát điện và nhiều mục đích khác của con người Các nguồn năng lượng chính là gió, nhiệt độ nước biển, các dòng hải lưu và thủy triều
Sinh vật biển là nguồn lợi quan trọng nhất của con người, gồm hàng loạt nhóm động vật, thực vật và vi sinh vật
II Nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái tài nguyên biển, đại dương.
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 4 trên thế giới về mức độ ô nhiễm rác thải biển, đặc biệt là rác thải bằng nhựa Tại một số khu vực cửa sông và ven biển nước
ta bị ô nhiễm dầu, chất thải sinh hoạt, những khu rừng ngập mặn tràn ngập túi nilong,… Ngoài ra, chất thải rắn trong sinh hoạt trên vùng Biển nước ta rơi vài khoảng 14,03 triệu tấn/năm
Không những ô nhiễm mà nguồn tài nguyên biển tại Việt Nam đang bị khai thác cạn kiệt Điều này gây ra tác hại vô cùng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của nước ta Tài nguyên biển ngày càng bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân
Trang 92.1 Nguyên nhân tự nhiên
Do sự bào mòn, sạt lở núi
Sự phun trào của nham thạch xuống dưới biển khiến các sinh vật biển chết, gây biến đổi nguồn nước
Khói từ núi lửa bốc lên kéo theo những cơn mưa xuống biển
Do triều cường dâng cao gây ô nhiễm dòng sông
Hòa tan muối khoáng với nồng độ cao, trong đó chứa hoạt chất gây ung thư, kim loại nặng,…
2.2 Nguyên nhân do con người
Hàng ngày có hàng tấn rác thải chưa được xử lý đổ ra biển, người dân sống ven biển cũng lấy bờ biển làm nơi đổ rác Hành động thiếu ý thức của người dân đã góp phần làm môi trường biển bị ô nhiễm hơn
Các nhà máy, xí nghiệp cũng xả nước thải cùng với những hóa chất độc hại ra biển không những làm cho biển ô nhiễm mà còn có tác hại xấu đến sức khỏe con người và mọi loài sinh vật sống ở đây
Ô nhiễm môi trường biển còn xảy ra ở một số cảng hàng hải do tàu thuyền ra vào nhiều, lạo vét luồng lạch, đổ rác thải,…, một số cảng biển còn có lượng thủy ngân vượt quá mức cho phép như cảng Vũng Tàu vượt đến 3,1 lần
Nhiều người dân còn đánh bắt cá bằng cách sử dụng bom mìn gây ra rất nhiều chất hóa học có hại
Tài nguyên biển bị khai thác quá mức
Xã hội ngày càng phát triển và đồng thời nhu cầu của người dân ngày càng được nâng cao, ngành du lịch biển cũng từ đó mà phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên
du lịch ngày càng phát triển thì cũng đồng nghĩa với việc tài nguyên biển bị khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên biển đồng thời cũng thải một
Trang 10lượng rác thải không hề nhỏ ra biển Và một nguyên nhân nhỏ nữa đó chính là do tràn dầu
Tốc độ tăng trưởng kinh tế làm tăng lượng tiêu thụ dầu mỏ Lợi ích kinh tế đi kèm với việc dầu bị khai thác quá mức làm cho một lượng dầu lớn bị rò rỉ ra biển gây ô nhiễm biển, các loài cá cũng từ đó mà chết do không có đủ oxy để sống gây thiệt hại rất lớn cho môi trường biển và những vùng nuôi trồng hải sản
Do các cơ quan quản lí còn lỏng lẻo và chưa thực sự thắt chặt việc kiểm soát vấn đề xử lí rác thải của các doanh nghiệp, xí nghiệp và các khu du lịch
III Hậu quả
Ô nhiễm môi trường biển gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng như:
Làm suy thái đa dạng sinh học điển hình là là hệ sinh thái san hô: Nước ta mất khoảng 15 nghìn ha diện tích rừng ngập mặn mỗi năm, 80% rạn san hô ở vùng biển Việt Nam được xếp vào tình trạng rủi ro
Phá hoại và làm tuyệt chủng một số loài sinh vật hải sản gần bờ: hiện nay có tới hơn 100 loài hải sản trong vùng biển cùa nước ta có nguy cơ tuyệt chủng và đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam
Làm hỏng những thiết bị máy móc, thiết bi khác thác tài nguyên và vận chuyển đường thủy
Tác động và kiềm hãm sự phát triển kinh tế biển
Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người: Người nhiễm chì lâu ngày có thể mấc bệnh thận, thần kinh, nhiễm Amoni, Nitrat, Nitrit gây mắc bệnh xanh da, thiếu máu, có thể gây ung thư Metyl tert- butyl ete (MTBE) là chất phụ gia phổ biến trong khác thác dầu lửa có khả năng gây ung thư rất cao Nhiễm Natri gây bệnh cao huyết áp bệnh tim mạch, lưu huỳnh gây bệnh về đường tiêu hóa, Kali, Cadimi gây bệnh thái hóa cột sống, đau lưng
Trang 11Mất đi các nguồn lợi từ biển: hải sản, du lịch biển Một nghiên cứu của ngân hàng thế giới năm 2008 dự báo, mỗi năm Việt Nam đang mất đi ít nhất 69 triệu USD thu nhập từ nguồn du lịch do hệ thống xử lí vệ sinh kém Ô nhiễm môi trường biển cũng làm giảm đi sức thu hút khách của ngành du lịch
Mất cân bằng đa dạng sinh học và môi trường sống
IV Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường biển, đại dương
Việc khắc phục và bảo vệ tài nguyên nói chung, tài nguyên biển , đại dương nói riêng là vấn đề đang được đưa lên hàng đầu và cấp bách nhất đối với việc khai thác và phát triển môi trường bền vững Trong những năm qua, để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến biển tại mỗi nước nhằm hướng tới việc khai thác hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững biển, xu hướng chung cho thấy các quốc gia trên thế giới có nhiều nỗ lực, không ngừng xây dựng, triển khai nhiều chính sách, biện pháp, chương trình và kế hoạch nhằm khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, phát triển bền vững đất nước và đến nay, nhiều quốc gia đã đạt được những tiến bộ và thành công đáng ghi nhận Một số biện pháp đó là:
Tuyên truyền, cổ động nhằm năng cao ý thức bảo vệ tài nguyên vùng biển, tổ chức các hoạt động cộng đồng dọn sạch vùng biển
Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động khai thác khoáng sản (than, dầu mỏ …), thủy hải sản Nghiêm cấm hành vi sử dụng chất nổ, hóa chất độc hại trong khai thác
Xử phạt nặng đối với những hành vi khai thác bừa bãi, tràn lan
Xây dựng thêm các hệ thống xử lý nước thải, chất thải đạt chuẩn
Cần có sự phối hợp liên tỉnh, liên vùng, liên ngành, thậm chí liên kết giữa các quốc gia trong khu vực bị ảnh hưởng để khắc phục vấn đề ô nhiễm môi trường biển triệt để
Đầu tư thích đáng cho ngành khoa học nghiên cứu về hệ sinh thái biển
Trang 12Xây dựng hệ thống quan trắc, đánh giá phạm vi và mức độ của nguồn gây ô nhiễm để kịp thời xử lý
Đánh vào yếu tố kinh tế trong việc bảo vệ môi trường biển như lệ phí xả thải,
lệ phí ô nhiễm, cấp phép và thu hồi giấy phép khai thác…
Xây dựng cơ sở hạ tầng phòng chống thiên tai thảm họa, chống lỡ bờ biển, bảo vệ dân cư, ứng phó với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh điều tra, khảo sát, nghiên cứu tài nguyên môi trường biển để sử dụng bề vững tăng cường giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Lồng ghép vấn đề thích ứng biến đổi khí hậu vào trong chính sách, quy hoạch
và công tác quản lý tài nguyên và môi trường biển
Thúc đẩy hợp tác quốc tế cả song phương lẫn đa phương về biển, các lĩnh vực
có liên quan đó là thúc đẩy khoa học kĩ thuật biển , điều tra biển, cứu nạn trên biển phòng tránh thảm họa, kiểm soát tội phạm trên biển, đào tạo nguồn nhân lực ở các lĩnh vực có liên quan đến biển
Hoàn thiện pháp luật và , xậy dựng hệ thống quản lý môi trường Trong luật nên đưa ra điều lệnh và quy định rõ mức phạt đối với hành vi vi phạm và đồng thời cho đội ngũ nhân viên quản lý đi kiểm tra thường xuyên
Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường biển và ngày càng trở nên nghiêm trọng do hậu quả của sức ép dân số, tăng trưởng kinh tế, khả năng quản lý và sử dụng kém hiệu quả các nguồn tài nguyên biển Do vậy, việc tìm ra những giải pháp phù hợp, đồng thời học hỏi kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo hướng bền vững là vấn đề cấp thiết cho nước ta trong tình trạng đáng báo động như hiện nay