bài tập dự án lớn cuối kì môn cơ sở văn hóa Việt Nam.Việt Nam tự hào là dân tộc có một nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh, đặc biệt thể hiện rõ nét qua phương diện người Việt cùng cộng đồng 54 dân tộc có những phong tục đúng đắn, tốt đẹp từ lâu đời. Theo nghĩa Hán Việt, Phong là nền nếp đã lan truyền rộng rãi và Tục là thói quen lâu đời. Phong tục ở Việt Nam có truyền thống lâu đời hàng ngàn năm nay, từ xa xưa, mỗi con người Việt Nam đều gắn bó tha thiết với xóm làng, quê hương trên cơ sở đồng lòng, nhất trí với nhau để rồi những điều đó đã trở thành luật tục, sâu đậm và gắn chặt trong người dân có sức mạnh hơn cả những đạo luật.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ- ĐHQGHN
BỘ MÔN NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
-BÀI TẬP THỰC TẾ MÔN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Đề tài: Phong tục cưới hỏi của các dân tộc tại Việt Nam
Danh sách thành viên ST
T Mã sinh viên Họ và tên Số thứ tự Ghi chú
Trang 3lan truyền rộng rãi và Tục là thói quen lâu đời Phong tục ở Việt Nam có truyền thống lâuđời hàng ngàn năm nay, từ xa xưa, mỗi con người Việt Nam đều gắn bó tha thiết với xómlàng, quê hương trên cơ sở đồng lòng, nhất trí với nhau để rồi những điều đó đã trở thànhluật tục, sâu đậm và gắn chặt trong người dân có sức mạnh hơn cả những đạo luật
Theo sự thăng trầm của lịch sử của dân tộc, phong tục của người Việt Nam cũngkhông ngừng biến đổi theo trào lưu biến đổi văn hoá xã hội Tuy nhiên có những phong tụcmất đi nhưng cũng có những phong tục khẳng định được tính đúng đắn, cái hay, cái đẹp của
nó qua việc những phong tục đó còn hiện hữu trong cuộc sống ngày nay của người ViệtNam Trong đó,tuy không thấy được nhắc đến sớm trong sử sách, nhưng phong tục hônnhân - cưới hỏi cũng đã song hành với người Việt Nam từ xa xưa và đến ngày nay vẫn lànhững phong tục gắn liền với đời sống người Việt Nam
Phong tục hôn nhân - cưới hỏi là dấu mốc quan trọng của đời người và đồng thời cũngthể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc Tuy vậy, văn hóa là một phạm trù có sựtiếp biến, nên phong tục hôn nhân của mỗi dân tộc luôn có sự chọn lọc, thay đổi cho phùhợp hơn với thời đại mới, trên cái nền của bản sắc truyền thống Để có một cái nhìn sâurộng về sự đa dạng cũng như cảm nhận trọn vẹn về phong tục hôn nhân - cưới hỏi của cácdân tộc tại Việt Nam, đề tài “Phong tục cưới hỏi của các dân tộc Việt Nam" sau đây sẽmang đến những góc nhìn đa chiều, những thông tin bổ ích về những đặc điểm nổi bật, sựkhác nhau cũng như những nét độc đáo trong mỗi lễ cưới hỏi của từng dân tộc
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung tìm hiểu các dân tộc thuộc nhóm Môn - Khmer,sinh sống và phân bố dân cư tập trung chủ yếu tại vùng trung du và miền núi phía Bắc ViệtNam - nơi gần gũi với địa bàn sinh sống và học tập của hầu hết các sinh viên Đại học NgoạiNgữ - Đại học Quốc Gia Hà Nội Từ đó, người đọc sẽ có thêm những thông tin, kiến thứcthực tế về khía cạnh phong tục, đồng thời gia tăng sự hứng thú trong việc tìm hiểu và khámphá nét độc đáo từ các phong tục truyền thống lâu đời trong nền văn hóa Việt Nam
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu thông tin qua tài liệu sách, báo và Internet
Trang 44. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu phong tục cưới hỏi của các dân tộc tại Việt Nam, chủ yếu tập trungvào các dân tộc thuộc nhóm Môn - Khmer, sinh sống và phân bố dân cư tập trung chủ yếutại vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam - nơi gần gũi với địa bàn sinh sống và họctập của hầu hết các sinh viên Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc Gia Hà Nội
II PHẦN NỘI DUNG
1. PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA DÂN TỘC KINH
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Trong đời sống tinh thần của người Việt, cưới hỏi là một trong số những việc hệ trọngnhất của cuộc đời mỗi người Nghi lễ cưới xin mang đậm phong vị dân tộc, được tổ chức
Trang 5khác nhau tùy theo từng vùng, miền, là phong tục tập quán đặc trưng nhất của từng dân tộc.Ngày nay, tuy có nhiều thay đổi theo đà phát triển hiện đại của xã hội nhưng những lễ nghitruyền thống vẫn đóng vai trò chủ đạo trong đám cưới của người Kinh.
1.2 THỦ TỤC – LỄ NGHI
Hôn nhân của người Việt xưa ở miền Bắc có sáu lễ chính, đó là: Lễ nạp thái (kénchọn), Lễ vấn danh, Lễ nạp cát, Lễ thỉnh kỳ, Lễ nạp tệ, Lễ thân nghinh (tức lễ rước dâu hay
lễ cưới) Tuy nhiên, ngày nay, các nghi lễ đã có phần giản tiện đi rất nhiều, chỉ gồm bốn lễ:
Lễ dạm ngõ, Lễ ăn hỏi, Lễ cưới và Lễ lại mặt
a. Lễ dạm ngõ
Lễ dạm ngõ là nghi lễ khởi đầu cho hàng loạt các nghi lễ cưới hỏi sau đó Chính vìvậy, lễ dạm ngõ vô cùng quan trọng và không thể thiếu đi trong phong tục văn hóa cướitruyền thống của người Việt Nam
Đồ lễ dạm ngõ của người Việt thường có
chữ 'Hỷ' đỏ để thể hiện sự hạnh phúc
Trước khi bắt đầu tiến hành lễ dạm ngõ, nhàtrai cần phải đi xem ngày để chọn được ngàyđẹp để đánh tiếng đến dạm ngõ nhà gái Vớimong muốn nhà gái chấp nhận chuyện qualại tình cảm giữa đôi trẻ và hai bên gia đìnhthì lúc này mọi nghi lễ tiếp theo mới đượctrọn vẹn Đây cũng được xem là lễ gặp mặtđầu tiên và chính thức giữa hai bên gia đình.Đây là thủ tục cần thiết để “người lớn” củađằng nhà trai và nhà gái thưa chuyện vớinhau, để đưa ra những bàn bạc và đi đếnthống nhất về “ngày lành tháng tốt” tổ chức
lễ ăn hỏi, thành hôn cũng như số lượng tráp
lễ phù hợp theo yêu cầu của nhà gái Thôngthường, lễ vật trong ngày dạm ngõ khá đơngiản, bao gồm một số những lễ khá phổ biếnnhư: trầu cau, chè, thuốc lá và bánh kẹo,…
Trang 6cần thiết khác cho lễ ăn hỏi và lễ cưới Sau lễ dạm ngõ, người con gái cũng chính thức đượcxem như đã “có nơi, có chốn”, đây cũng là bước đầu để tiến tới chuyện hôn nhân của 2người.
Lễ dạm ngõ được coi như là nghi lễ mở đầu cho hôn sự
b. Lễ ăn hỏi
Trong phong tục cưới hỏi của người Kinh, sau lễ dạm ngõ sẽ đến lễ ăn hỏi Đây là dịp
để thông báo chính thức về hôn sự của cô dâu chú rể với 2 gia đình đằng nhà trai, nhà gái vàcác vị khách mời.Trong lễ ăn hỏi, các thủ tục bao gồm: lễ ăn hỏi, xin cưới và nạp tài sẽ đượcgộp chung vào 1 ngày Nhà trai sẽ mang sính lễ tới nhà gái với 30 chục trầu và 7 hoặc 9 tráp
ăn hỏi Sau khi bố chú rể và bố cô dâu chính thức giới thiệu những người tham dự, mẹ chú
rể cũng sẽ lên trao 30 chục trầu cau và tráp lễ Trong đó, chục trầu đầu tiên ứng với nghithức ăn hỏi, chục trầu tiếp theo dành cho nghi thức xin cưới và chục trầu thứ 3 là cho lễ nạptài
Tráp ăn hỏi thông thường là các số lẻ như 5, 7, 9 hoặc 11 tráp Công thức tính dànhcho các lễ vật bên trong là bội số của 2 Đồ lễ ăn hỏi bao gồm: bánh cốm, bánh xu sê, bánhmứt sen, chè, rượu, trầu cau, thuốc lá,… và có thêm xôi ngũ sắc và thủ lợn quay tùy thuộcvào từng gia đình
Trang 7Hình ảnh tráp lễ Hình ảnh đỡ lễ trong lễ ăn hỏi
Cô dâu chú rể trong lễ ăn hỏi
Trình tự diễn ra cụ thể trong lễ ăn hỏi:
- Đồ lễ ăn hỏi sẽ được nhà gái mang lênthắp hương ở bàn thờ gia tiên Ngoài ra,nhà gái cũng thường giữ lại 2 phần và đưatrả lại đằng nhà trai 1 phần
- Đồ lễ nhà gái giữ lại sẽ được dùng choviệc mời cưới Điều đặc biệt nên lưu ýtrong lễ ăn hỏi là nhà trai phải nên chuẩn bị
có 3 phong bì đựng tiền (hay còn lấy tênkhác là
lễ đen), một phong bì gửi cho nhà nội của cô dâu, một phong bì gửi cho nhà ngoại cô dâu vàphong bì cuối cùng để thắp hương trên bàn thờ nhà cô dâu Số tiền này sẽ thay đổi tùy thuộcvào nhà gái
- Cuối cùng, cô dâu và chú rể sẽ chính thức ra mắt hai họ, bắt đầu các nghi thức rót nước,mời trầu người lớn trong gia đình và các vị quan khách Thời gian ăn hỏi và lễ cưới thôngthường chỉ cách nhau từ 3 ngày đến 1 tuần, hay cũng có thể lâu hơn tùy thuộc vào quyếtđịnh của 2 bên gia đình và cô dâu chú rể
c. Lễ cưới
Sau lễ ăn hỏi từ 3 ngày đến 1 tuần, lễ cưới sẽ được tổ chức vào ngày lành tháng tốt mà
2 bên gia đình đã lựa chọn và thống nhất trước đó Lễ cưới chính là nghi lễ quan trọng nhấttrong phong tục cưới hỏi của người Kinh và nhà trai sẽ chính thức rước cô dâu về nhà.Đoàn đón dâu sẽ tiến đến nhà gái sau đó đi đầu là trưởng đoàn đại diện cho nhà trai.Sau khi tiến vào nhà gái và an tọa, đại diện hai bên gia đình sẽ giới thiệu nhau, sau một tuầntrà thì đại diện của bên nhà trai sẽ đứng dậy và có lời trình bày với nhà gái xin đón cô dâu
Trang 8về đạo lý vợ chồng Sau đó vị đại diện gia đình nhà trai sẽ thay lời chú rể và xin được rước
cô dâu về nhà chồng
Về đến nhà trai, việc đầu tiên mà cô dâu, chú rể sẽ phải làm đó chính là được cha mẹchú rể dẫn đến bàn thờ để thắp hương bái kiến tổ tiên, chào họ hàng hai bên nhà chồng Saukhi các nghi lễ kết thúc thì họ nhà trai sẽ mời họ nhà gái dự tiệc cưới của đôi tân lang, tânnương trước khi kết thúc tiệc cưới
Cô dâu chú rể thắp hương tại bàn thờ gia
tiên
Cô dâu chú rể rót nước mời tiếp đón, gửi lời
chào đến hai họ
d. Lễ lại mặt
Sau khi kết thúc lễ cưới sẽ có thêm nghi lễ
lại mặt Đây cũng là nghi lễ quan trọng và
bắt buộc trong phong tục cưới hỏi của
người Kinh Lễ lại mặt được tổ chức ấm
cúng bao gồm các thành viên 2 bên gia
đình Lễ lại mặt thể hiện sự hiếu thảo của
cô dâu, chú rể với gia đình nhà gái dù đi
lấy chồng nhưng vẫn không quên hiếu
thuận với bố mẹ ruột Đồng thời đây còn là
dịp để gia đình chú rể thể hiện sự kính
trọng, chu đáo của mình với gia đình cô
1.3 GIÁ TRỊ VĂN HÓA
Hôn lễ ngày nay của người Kinh tuy đơn giản hơn ngày xưa nhưng vẫn giữ được những nétvăn hóa truyền thống Tùy từng địa phương, hoàn cảnh gia đình mà đám cưới được tổ chứctheo những cách thức khác nhau Tuy nhiên, đây vẫn luôn là khoảnh khắc quan trọng, đángnhớ nhất trong cuộc đời mỗi con người.Những phong tục ấy không đơn thuần chỉ là nhữngbước trình tự cần thực hiện mà còn là một nét đẹp văn hóa mà mỗi thế hệ người Việt cầnphải lưu giữ, bảo tồn và phát triển
2. PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA DÂN TỘC CHĂM
Trang 92.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Người Chăm là một trong những dân tộc thiểu số tại Việt Nam có nền văn hóa vàphong tục truyền thống độc đáo Là một trong những dân tộc hiếm hoi theo mẫu hệ, phongtục đám cưới của người Chăm có điểm khác nhau rất lớn so với người Kinh ở Việt Nam
Chiếc lọng sặc sỡ được che cho chú rể
C
hú rể và cha vợ bắt tay nhau
Trên đầu chú rể sẽ được mọi người chebằng chiếc lọng có màu sắc sặc sỡ Mọingười trong làng quây quần rủ nhau raxem đám đưa rể đang đi trên đường rồibàn tán xôn xao Đám đưa rể không códùng xe máy hay xe hoa để đưa mà chủyếu là đi bộ
Trên đường đi, dàn kèn trống nổi lênnhững điệu nhạc rất vui tai Mọi ngườicùng nhau ca hát vui vẻ Đến thánhđường, chú rể ngồi đối diện với cha vợ,hai bên có 2 người cao tuổi có đạo đứctốt làm chứng Đồng thời, còn có vịthầy Cả đọc kinh dạy bảo chú rể bổnphận làm chồng theo luật đạo Hồi
Sau đó cha vợ bắt tay chú rể và nói: “Ta
gả con ta tên Mahriem cho con Sarolvới số tiền đồng là 1 lượng vàng và tiềnchợ là 5 triệu đồng”
b. Lễ dứt lời
Trang 10Sau lễ dạm hỏi là Lễ dứt lời Trong lễ này đại diện hai họ cùng nhau quyết định ngày tháng
tổ chức để tiến đến lễ cưới chính thức cho đôi vợ chồng trẻ
Dân tộc Chăm theo chế độ mẫu hệ nên quyền chủ động trong hôn nhân thuộc về nhà gái
Trong phong tục của người Chăm, cha mẹ sinh thành không đứng ra tổ chức cưới hỏicho con cái mà là do Ông Inư bà Amư (ông bà nưmư) – cha mẹ đỡ đầu của cô dâu, ông bànưmư phải là đôi vợ chồng hạnh phúc, gia đình hoà thuận, con cái đề huề, hợp tuổi với côdâu, chú rể, am hiểu phong tục tập quán và các nghi lễ Nếu nhà trai đồng ý, ông bà nưmư
sẽ thay mặt nhà gái để bàn bạc với nhà trai những bước tiếp theo để tổ chức đám cưới.Ngoài ra, theo tục lệ quy định, trong một năm ông bà nưmư chỉ được làm chủ hôn một lần
vì theo quan niệm cha mẹ mỗi năm chỉ đẻ được một con
Trang 11Ngày lễ cưới chính thức sẽ do Ông Bà Nưmư
đứng ra làm chủ hôn lễ Lễ đón rể diễn ra tại nhà gái
Một nét văn hoá khá độc đáo trong đám cưới người Chăm Bà La Môn là trong ngàycưới, cha mẹ đẻ của cô dâu chú rể phải lánh mặt và không xuất hiện trong các nghi lễ đưađón rể và lễ nhập phòng the của hai vợ chồng trẻ Họ hàng đối với người Chăm rất quantrọng vì họ quan niệm rằng ‘lúc còn nhỏ là con của cha mẹ, lớn lên là con của họ hàng’ Vìvậy, khi cưới, cha mẹ ủy thác công việc cho ông bà nưmư để cô dâu chú rể làm quen với bàcon trong tộc họ của hai bên trước Chỉ sau lễ nhập phòng the, cha mẹ mới được xuất hiện
Lễ nhập phòng the của người Chăm ở Ninh Thuận cũng vô cùng độc đáo, trong vòng 3ngày 3 đêm, vợ chồng trẻ sẽ không được động phòng, trong phòng tân hôn sẽ có một chiếc
cổ bồng mâm tơ hồng gồm trầu cau, nến sáp cháy suốt ngày đêm, ngăn cách giữa cô dâu vớichú rể Đôi vợ chồng trẻ phải giữ cho cây nến không bị tắt Sau ba đêm, ông bà nưmư làmmột lễ nhỏ để tháo gỡ các bùa chú đã yểm trên gối chiếu và dời chiếc cổ bồng đi, thì vợchồng mới được động phòng Phong tục ba đêm cấm động phòng này ảnh hưởng từ Ấn Độ.Người Ấn Độ xưa rất đề cao sinh hoạt tình dục sau khi kết hôn và phong tục này trở thànhnghệ thuật mà điển hình là bộ kinh tình yêu còn được lưu truyền đến ngày nay
2.3 GIÁ TRỊ VĂN HÓA
Qua đám cưới người Chăm, bạn có thể thấyđược rất nhiều phong tục tập quán đặc sắc,đặc biệt là không có tục thách cưới và cácnét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộcChăm luôn được bảo tồn và phát huy rất tốt
Sự kế thừa này đã mang đến nét văn hóađộc đáo của dân tộc Chăm ở vùng đất ‘nắngnhư Phan, gió như Rang’ này
3. PHONG TỤC CƯỚI HỎI CỦA DÂN TỘC KHMER
Trang 123.1 GIỚI THIỆU CHUNG
Mùa cưới của người Khmer Nam bộ bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 3 âm lịch, khi mùa
màng đã thu hoạch xong Phong tục cưới hỏi của người Khmer được thể hiện rõ qua 4 nghi
thức: giai đoạn trước lễ nói, lễ nói, lễ hỏi và lễ cưới, trong mỗi lễ có những nghi thức đặctrưng riêng Lễ cưới là quan trọng nhất, có nhiều nghi thức truyền thống văn hóa của dântộc
3.2 THỦ TỤC – LỄ NGHI
a. Lễ trước Lễ nói
Theo phong tục nơi đây,Cha mẹ nhà
trai chọn nhờ một người phụ nữ trong
Sróc là người đã có gia đình, có cuộc
sống hạnh phúc, có đức hạnh cao đẹp
đến nhà để gặp cha mẹ cô gái hỏi ý
Người mai mối phải nói những lời dễ
nghe và phải khéo nói với cha mẹ cô
gái Sau khi hỏi thăm sức khỏe qua lại,
thì nói đến việc chính là chuyện cưới
xin của hai trẻ Sau đó cha mẹ bên gái
hỏi ý kiến của thân tộc trước khi trả
lời Bà mai sẽ phải qua lại nhà gái
nhiều lần nữa cho đến khi hai bên
đồng ý đi đến việc tổ chức lễ nói
b. Lễ nói
Sau khi thống nhất, nhà trai chuẩn bị như sau: Tìm Acha xem ngày lành tháng tốt đểcho con trai và con gái của họ được hạnh phúc sau này, thông báo cho gia tộc biết, và chuẩn
bị lễ vật gồm có: Trầu, cau, trà, bánh, rượu, thịt,…
Ngày xưa, ông bà thực hiện đám nói gồm ba bước: Đầu tiên là bà mai qua dạm hỏi,thứ hai là hai bên gia đình nói chuyện với nhau, thứ ba là qua nhà gái được dẫn con trai
Trang 13theo Ông Me-ba (người đại diện nhà gái) bàn bạc và hỏi ý kiến nhà gái, nếu tất cả đồng ý,Me-ba cho phép chàng trai qua ở phụ giúp công việc cho nhà gái từ một đến ba năm Thửthách cuối cùng, là cho chàng trai xây căn nhà ba gian để vợ chồng ở trong tương lai Nếubên nhà gái vừa ý tất cả, họ bên trai tiến hành làm lễ hỏi.
c. Lễ hỏi
Lễ hỏi được tổ chức tại nhà gái Những lễ vật do nhà trai mang đến nhà cô dâu đượcbày biện đẹp mắt gồm: các mâm trầu cau, hoa trái, bánh tét Ngoài lễ vật, nhà trai còn traocho nhà gái một số tiền để cô dâu sắm sửa quần áo trước khi tiến hành lễ cưới Tiếng nhạcngũ âm đặc trưng của người Khmer làm cho không khí buổi lễ thêm long trọng
Mở đầu cho lễ hỏi, hai ông Achar (chủ lễ,đại diện cho hai gia đình) thay nhau đốiđáp Achar là những người có uy tín trong
họ tộc, là những người có gia đình hạnhphúc và phải am hiểu phong tục tập quáncủa dân tộc mới được mời tham dự cácnghi lễ.Trong lễ này, ngày tháng tổ chức lễcưới được hai họ thống nhất với nhau
d. Lễ cưới
Lễ thành hôn của người Khmer trước đây thường được tiến hành trong 3 ngày, 2 đêm,nhưng hiện nay tại nhiều địa phương đã rút gọn lại chỉ còn 2 ngày, 2 đêm Những chi tiếtrườm rà đã được bỏ đi, chỉ giữ lại những nghi lễ chính như: lễ đưa chú rể sang nhà gái, lễcúng ông Tà, lễ cắt tóc, rắc bông cau, mời các nhà sư đến cầu nguyện, lễ xoay đèn, lễ buộcchỉ tay, lễ lạy ông bà, cha mẹ, lễ nhập phòng
Do người Khmer theo chế độ mẫu hệ, nên lễ cưới được tổ chức ở nhà gái Từ sángsớm, nhà trai dưới sự hướng dẫn của ông chủ lễ mang lễ vật sang nhà gái Ngoài những lễvật thông thường nhà trai còn mang theo nữ trang và khăn quàng để tặng cô dâu trong ngày