1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hồ sơ hành chính 14 ông Nguyễn Bá Sao khởi kiện quyết định khắc phục hậu quả

14 4,8K 102

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 30,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Bản án số 08/2021/HC-ST ngày 05/03/2021 của TAND tỉnh H nhận định cho rằng, hành vi vi phạm của ông Nguyễn Bá Sao được UBND thành phố H lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 273/QĐ-KPHQ ngày 29/8/2019 là hành vi vi phạm trong quan hệ dân sự nhưng UBND TP H đã dùng các quy phạm pháp luật hành chính để giải quyết là không đúng quy định pháp luật, và theo đó làm cơ sở để Tòa án nhân dân Tỉnh H tuyên hủy các Quyết định số 152/QĐ-CCXP và Quyết định 2004/QĐ-UBND. Lập luận trên của TAND tỉnh H là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 204 Luật TTHC 2015, thân chủ tôi kháng cáo một phần nội dung bản án, cụ thể là nội dung Tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá Sao: - Hủy Quyết định hành chính số 273/QĐ-KPHQ ngày 29/8/2019 của Chủ tịch UBND TP. H về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; - Hủy Quyết định số 152/QĐ-CCXP ngày 09/1/2020 của Chủ tịch UBND TP. H về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và - Hủy Quyết định 2004/QĐ-UBND ngày 24/9/2020 của Chủ tịch UBND TP H về việc giải quyết khiếu nại.

Trang 1

PHÚC THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

HỒ SƠ TÌNH HUỐNG SỐ 14:

ÔNG NGUYỄN BÁ SAO KHIẾU KIỆN VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

Trang 2

I TÓM TẮT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Người khởi kiện: ông Nguyễn Bá Sao

Người bị kiện: Chủ tịch UBND TP

Đối tượng khởi kiện:

(i) Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 273/QĐ-KPHQ ngày

29/8/2019 đối với ông Nguyễn Bá Sao

(ii) QĐ cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số

152/QĐ-CCXP ngày 09/01/2020

(iii) QĐ 2004/QĐ-UBND ngày 29/4/2020 về việc giải quyết đơn khiếu nại của

ông Sao, bác đơn khiếu nại của ông Sao, giữ nguyên nội dung cưỡng chế đối

với QĐ số 273 và QĐ 152.Nội dung vụ việc:

- Từ năm 2002, Công đoàn phường 7 ký HĐ thuê mặt bằng (kiots) với ông Lợi (là

bố ông Sao) gồm các HĐ:

 HĐ 01/2002 giữa Công đoàn phường với ông Lợi;

 HĐ 04/2004 giữa Công đoàn phường với ông Lợi;

 HĐ 08/2008 giữa Công đoàn phường với ông Lợi;

 HĐ 06/2010 giữa công đoàn phường với với ông Nguyễn Bá Sao (ông Sao ký

HĐ từ năm 2010)

- Các HĐ đều ký thời hạn 1 năm

- Ngày 31/12/2012, UBND phường tiến hành thanh lý HĐ và có Biên bản thanh lý

HĐ giữa UBND phường với ông Sao và các hộ gia đình khác;

- Ngày 30/8/2017, UBND phường ra thông báo về việc bàn giao mặt bằng sau khi thanh lý HĐ;

- Tháng 11/2017, ông Sao gửi đơn đến UBND phường 7 đề nghị xem xét cho ông được hợp thức hóa đất và hỗ trợ bồi thường TS trên đất ki ốt 707 (ông Sao xác định là đất của mình nên không bàn giao mặt bằng mà muốn hợp thức hóa)  lúc này ông Sao coi rằng đất của mình nên không xác định thời điểm này là vi phạm;

Trang 3

- Ngày 12/1/2018, UBND phường 7 có VB 26/UBND trả lời đơn của ông Sao về việc từ chối hợp thức hóa đất vì đây là đất của HTX  thời điểm này UBND chưa xác định là ông Sao chiếm đất vì liên quan đến xác định quyền sử dụng đất;

- Ngày 5/10/2018, UBND phương ban hành CV 384/CV-UBND về việc kiến nghị UBND thành phố hỗ trợ san lấp mặt bằng đối với các hộ gia đình trong đó có ông Sao ở ki ốt 707 với diện tích là 43 m2 nhưng đo đạc thực tế là 83,32 m2 ( cho đến thời điểm này vẫn đang kiến nghị hỗ trợ  chưa xác định là ông Sao chiếm đất) Trong quá trình sử dụng UBND cho rằng ông Sao đã lấn phần đất còn lại Công văn xác định hỗ trợ san lấp cho ông Sao 20.700.000đ

- Ngày 19/6/2019, UBND thành phố H có CV3227/TNMT đề nghị chủ tịch UBND

phường xem xét xử lý hành vi lấn chiếm đất nông nghiệp của ông Nguyễn Bá Sao

 thời điểm này chính là thời điểm UBND cho rằng ông Sao có hành vi chiếm đất

- Ngày 26/6/2019, UBND phường lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Sao

- Ngày 29/8/2019, UBND thành phố H ban hành QĐ 273/KPHQ-UB về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra (trên cơ sở BB ngày 26/6), buộc trả lại kiot cho nhà nước, vì hết thời hiệu VPHC nên không ra QĐ xử phạt

- Ngày 9/1/2020, UBND thành phố H ban hành QĐ152/ CCXP-UB cưỡng chế thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả

- Ngày 11/2/2020, ông Sao gửi đơn khiếu nại QĐ273 đến CT UBND thành phố H

- Ngày 29/4/2020, CT UBND thành phố H đã ban hành QĐ2004 giải quyết khiếu nại lần đầu đối với Ông Sao với nội dung bác đơn khiếu nại của ông Sao

- Ngày 2/7/2020, ông Sao khởi kiện QĐ 273/2019/QĐ-CTUBND ngày 29/8/2019

về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; Quyết định 152/2020/QĐ-CT UBND ngày 9/1/2020 cưỡng chế thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả; Quyết định 2004/QĐ-CT UBND ngày 29/4/2020 về giải quyết khiếu nại của ông Sao đối với QĐ 273/2019/QĐ-CT UBND;

Trang 4

- Ngày 29/10/2020, ông Sao có đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu TA buộc UBND công nhận quyền sử dụng đất cho ông Sao

- Ngày 07/7/2020, Tòa án nhân dân tỉnh H ra thông báo số 69/2020/TLST-HC thụ

lý vụ án hành chính

- Ngày 10/8/2020, TAND tỉnh H ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc Chủ tịch UBND TP H tạm đình chỉ việc thi hành quyết định số 152/QĐ-CCXP ngày 09/01/2020 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Sao

- Ngày 18/11/2020, Tòa án nhân dân tỉnh H ra quyết định số 92/2020/QĐXXST-HC đưa vụ án ra xét xử

- Ngày 05/3/2021, Tòa án nhân dân Tỉnh H đưa ra bản án số 08/2021/HC-ST về việc giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Sao Hủy các Quyết định số 273/QĐ-KPHQ, Quyết định số 152/QĐ-KPHQ; Quyết định số 2004/QĐ-CCXP

II VBPL CẦN ÁP DỤNG

1 Luật Đất Đai 2003 (thời điểm ký hợp đồng);

2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (thời điểm chiếm đất);

3 Nghị định 102/2014 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai;

4 Nghị định 166/2013 cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính;

5 Luật Khiếu nại năm 2011

III ĐÁNH GIÁ VỤ ÁN

1 Về tố tụng

- Thụ lý vụ án: đối tượng khởi kiện phù hợp Điều 30 Luật TTHC, ông Sao là người

có quyền và lợi ích bị ảnh hưởng trực tiếp nên có quyền khởi kiện; ông có đủ năng lực hành vi tố tụng hành chính theo Điều 54, theo khoản 1 Điều 123 do đó Tòa án thụ lý đúng, thời hiệu khởi kiện vẫn còn

- Giai đoạn chuẩn bị xét xử: Chưa có Biên bản đối thoại (tuy nhiên có thể xem là do

hồ sơ), về Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: tạm đình chỉ thi hành

QĐ 273 và QĐ 152 là đúng pháp luật (xem *)

Trang 5

Như vậy chứng cứ, đối thoại và QĐ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm nhìn chung là đang hợp pháp

- Về thủ tục bắt đầu phiên tòa, vì không có biên bản phiên tòa trong hồ sơ vụ án,

nên tạm hiểu là không có ngừng, hoãn phiên tòa

- Như vậy, nhìn chung về mặt tố tụng trong hồ sơ này không có gì vi phạm nghiêm

trọng về tố tụng

2 Về nội dung

Tòa sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông Sao trừ yêu cầu buộc công nhận quyền

sử dụng đất Tòa sơ thẩm cho rằng QĐ 273 là biện pháp xử lý quan hệ dân sự mà không nêu được căn cứ pháp lý Bên cạnh đó, Tòa cũng cho rằng QĐ 152, QĐ 2004 là bất hợp pháp nhưng vẫn không không có căn cứ pháp lý

Như vậy, theo tinh thần Luật TTHC, về mặt nội dung của hồ sơ này thì với cả 03 đối tượng khởi kiện và yêu cầu khởi kiện đều không được Tòa án đưa ra với căn cứ pháp

lý Điều này thể hiện Tòa án không đánh giá về căn cứ pháp lý để ban hành các QĐ này,

TA cũng không đánh giá về thẩm quyền ra QĐ, không đánh giá về nội dung của QĐ này, đặc biệt cũng không đánh giá về thủ tục của các QĐ này

Đối với yêu cầu khởi kiện, TA không đưa ra được căn cứ pháp lý vì sao chấp nhận yêu cầu khởi kiện, vì sao không chấp nhận yêu cầu khởi kiện Như vậy, toàn bộ nội dung của vụ án đang có dấu hiệu không được đánh giá trên cơ sở quy định của pháp luật mà đánh giá bằng ý chí chủ quan Việc nhận diện quan hệ thuê đất giữa công đoàn phường với ông Sao là quan hệ dân sự cũng không có căn cứ pháp lý, nhận diện 273 là xử lý hành chính với một quan hệ dân sự cũng không có căn cứ pháp lý, nhận định QĐ 152, QĐ

2004 là bất hợp pháp cũng không có căn cứ pháp lý Tóm lại là về nội dung Tòa án đang không có căn cứ pháp lý để xác định đối tượng khởi kiện là bất hợp pháp

3 Về sự kiện khách quan của vụ án hành chính này

Các sự kiện khách quan được nêu ra trong hồ sơ vụ án bao gồm:

1 HĐ thuê đất giữa CĐ phường 7 với ông Lợi và ông Sao: và toàn bộ sự kiện về nguồn gốc đất, vấn đề về mua bán đất, thuê đất, tiền sử dụng đất

2 Thanh lý HĐ thuê đất giữa công đoàn phường với ông Sao và các hộ gia đình khác: theo BB thanh lý, vấn đề bồi thường khi thanh lý HĐ thuê đất, văn bản

Trang 6

thông báo yêu cầu trả lại mặt bằng và hành vi đề nghị hợp thức hóa diện tích đất kiot 707

3 Sự kiện xử lý vi phạm hành chính: Công văn của ủy ban yêu cầu xử lý vi phạm hành chính, có lập Biên bản vi phạm hành chính, có Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 273; QĐ cưỡng chế thi hành số 152

4 Giải quyết đề nghị và giải quyết khiếu nại: đơn khiếu nại của ông Sao đến UBND

và có QĐ 2004 của Chủ tịch UBND giải quyết khiếu nại

IV LUẬN CỨ TRONG BẢN ÁN SƠ THẨM

Tòa án sơ thẩm đã đưa ra các quan điểm sau để đi đến quyết định:

1 Tòa án coi hợp đồng thuê đất và thanh lý đất là hợp đồng dân sự, không đưa căn

cứ pháp lý

2 Lập luận QĐ 273, QĐ 152 đã xử lý hợp đồng dân sự là trái pháp luật, cũng không đưa căn cứ pháp lý

3 Lập luận QĐ giải quyết khiếu nại là trái pháp luật, cũng không đưa căn cứ pháp lý

4 Trong bản án sơ thẩm không phân tích các luận cứ, chỉ nhận định không phân tích, không đưa ra căn cứ pháp lý

V CĂN CỨ KHÁNG CÁO

1 Việc tuyên án trong vụ án này còn thiếu tài liệu, chứng cứ: như là tài liệu, chứng

cứ chứng minh việc ban hành QĐ 273, QĐ 152 – trong hồ sơ vụ án phải có hồ sơ

xử lý vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, hồ sơ cưỡng chế Như vậy, đang thiếu tài liệu, chứng cứ cho các đối tượng khởi kiện

2 Phần Quyết định của bản án không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án,

cụ thể là tình tiết về thanh lý hợp đồng, tình tiết về xử lý vi phạm hành chính & tình tiết về ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đã không được Tòa án áp dụng tại phần quyết định của bản án mà hiện tại QĐ của bản án chỉ sử dụng 1 tình tiết duy nhất là Hợp đồng thuê đất ký kết giữa UBND và ông Sao

3 Áp dụng sai pháp luật: Coi quan hệ ký hợp đồng giữa công đoàn phường với người dân là quan hệ dân sự, trái với quy định tại luật đất đai

Trang 7

Cụ thể:

Đối với QĐ 273

- Việc ký hợp đồng thuê đất

Luật Đất Đai năm 2003 quy định:

Tại Điểm đ khoản 2 Điều 6 Luật đất đai 2003: “Quản lý việc giao đất, cho thuê

đất; thu hồi đất; chuyển mục đích sử dụng đất”

Trong Luật đất đai 2003 không sử dụng thuật ngữ thuê mặt bằng đất Vậy việc cho thuê Kiot giữa công đoàn phường với ông Sao là cho thuê đất, và cho thuê đất chiếu

theo Điểm đ khoản 2 Điều 6 Luật đất đai 2003 là hoạt động quản lý hành chính nhà nước về đất đai.

Tại Khoản 2 Điều 3 Luật đất đai 2003 quy định cho thuê đất khi có: “Nhu cầu

sử dụng đất” thể hiện trong đơn;

Tại Khoản 1 Điều 35 Luật đất đai 2003 quy định: nhà nước cho thuê đất thu tiền

sử dụng đất hàng năm

Tại Điểm d khoản 1 Điều 35 Luật đất đai 2003 quy định: Hộ gia đình thuê mặt

bằng để kinh doanh…

Từ các quy định trên cho thấy, hợp đồng thuê đất giữa Công đoàn phường & với Ông Lợi/ ông Sao và các hộ gia đình là quan hệ pháp luật hành chính

Như vậy, việc Tòa án cho rằng quan hệ trên là quan hệ dân sự là trái Điểm đ khoản 2 Điều 6, Khoản 2 Điều 31, Khoản 1 Điều 35 LĐĐ 2003 Lẽ ra Tòa phải dựa vào 3 điều khoản này để xác định đây là quan hệ hành chính.

(Phân tích sâu hơn thì có sai về thẩm quyền ký hợp đồng, ký hợp đồng thuê đất thuộc về thẩm quyền của UBND phường chứ không phải công đoàn, nhưng việc sai này là sai về hợp đồng, không làm mất đi giá trị tính chất cho thuê này là hành chính

mà không phải dân sự)

- Có việc thanh lý hợp đồng thuê đất năm 2012, sau đó có hàng hoạt các sự kiện

tiếp theo: thông báo về việc bàn giao mặt bằng, đề nghị hợp thức hóa, CV trả lời

từ chối hợp thức hóa, CV hỗ trợ san lấp mặt bằng…

Trang 8

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 và Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực đất đai có quy định:

Tại Điểm a khoản 1 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định: Thời

hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 2 năm đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

Tại Điểm b khoản 1 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012: đối vi phạm

hành chính đang thực hiện thì thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính tính từ khi phát hiện ra vi phạm hành chính

Ngày 31/12/2012, Công đoàn thanh lý hợp đồng; ngày 26/6/2019 lập biên bản vi phạm hành chính

Thông thường ngày phát hiện ra vi phạm là ngày lập Biên bản vi phạm hành chính, thời hiệu xử phạt vẫn còn, cơ quan có thẩm quyền phải ra Quyết định xử phạt, nhưng xét thấy để đảm bảo nhẹ nhất cho người vi phạm, UBND đã không ra QĐ xử phạt mà cho rằng hết thời hiệu xử phạt (tính từ thời điểm thanh lý hợp đồng)

Tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định 102/2014/NĐ-CP quy định: Chiếm đất là trường

hợp người được cho thuê đất hết thời hạn trả đất mà không trả lại đất cho nhà nước

Tại Khoản 2 Điều 28 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về Biện

pháp khác phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng theo đó: “Biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng độc lập trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này”.

Tại Điểm b khoản 5 Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP quy định: Buộc trả lại

đất đã lấn chiếm đối với hành vi được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này

Như vậy, QĐ 273 được ban hành đúng pháp luật, tuy nhiên HĐXX sơ thẩm cần có thêm kiến nghị về việc cần có biên bản được lập với nội dung để xác định thời hiệu được tính từ ngày nào đến ngày nào, Biên bản này là biên bản xác định hết thời hiệu

xử phạt vi phạm hành chính, làm cơ sở để ban hành QĐ số 273

- Thẩm quyền cũng đúng theo quy định tại Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

- Thủ tục: Căn cứ ra QĐ cần kiến nghị về việc có thêm Biên bản xác định hết thời

hiệu như đã đề cập ở trên

Trang 9

Tương tự dựa vào NĐ 166, Luật XLVPHC để lập luận về thẩm quyền, tính hợp pháp, thủ tục của QĐ 152 và khẳng định QĐ 152 đúng, khi hết thời hạn ông

Sao không trả lại đất cho UBND phường

Dựa vào Luật KN 2011 để lập luận QĐ 2004 đúng thẩm quyền, nội dung bác đơn khiếu nại đúng luật, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại hợp pháp và

khẳng định QĐ 2004 hợp pháp

Kết luận lại:

Áp dụng sai pháp luật đất đai, thiếu căn cứ để tuyên về tính hợp pháp của đối tượng khởi kiện

Kiến nghị thêm việc Công đoàn phường không có thẩm quyền cho thuê đất mà người có thẩm quyền là UBND phường Tuy nhiên việc sai này là sai hợp đồng nhưng bản chất đất thuộc nhà nước, không trả lại là chiếm đất theo NĐ 152, Luật Đất đai

4 Xác định việc có vi phạm tố tụng hay không?

(*) Về vấn đề tố tụng như đã phân tích lúc đầu, chỉ còn vấn đề cần xem xét là việc

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngày 10/8/2020 trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

sơ thẩm có đúng luật hay không?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 73 và khoản 3 Điều 15 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012:

Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định

Khoản 1 Điều 73 LXLVPHC: …“ Trường hợp cá nhân, tổ chức khiếu nại khởi kiện quyết định xử phạt thì vẫn phải chấp hành quyết định xử phạt trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 15 Luật này…”

Khoản 3 Điều 15 LXLVPHC: “Trong quá trình giải quyết khiếu nại khởi kiện nếu xét thấy việc thi hành quyết định xử phạt bị khiếu nại, khởi kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó”

Từ 2 quy định trên cho thấy có thể áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời

 Kết luận việc áp dụng BPKCTT trong hồ sơ này là đúng, không có vi phạm nghiêm trọng tố tụng  không dùng căn cứ vi phạm tố tụng để kháng cáo

Trang 10

VI BẢN LUẬN CỨ

Kính thưa Hội đồng xét xử;

Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát;

Vị Luật sư đồng nghiệp;

Và tất cả quý vị có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay

Tôi là Luật sư …… , thuộc Văn phòng luật sư ……, Đoàn luật sư ………

Tham gia phiên tòa phúc thẩm này với vai trò là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Chủ tịch UBND TP H là người bị kiện, đồng thời là người kháng cáo trong vụ án hành chính này

Thưa Quý Tòa, sau đây tôi xin phép được trình bày các yêu cầu kháng cáo của thân chủ tôi cũng như các luận cứ bảo vệ như sau:

I Về lý do và căn cứ kháng cáo

Tại Bản án số 08/2021/HC-ST ngày 05/03/2021 của TAND tỉnh H nhận định cho rằng, hành vi vi phạm của ông Nguyễn Bá Sao được UBND thành phố H lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 273/QĐ-KPHQ ngày 29/8/2019 là hành vi vi phạm trong quan hệ dân sự nhưng UBND TP H đã dùng các quy phạm pháp luật hành chính để giải quyết là không đúng quy định pháp luật,

và theo đó làm cơ sở để Tòa án nhân dân Tỉnh H tuyên hủy các Quyết định số 152/QĐ-CCXP và Quyết định 2004/QĐ-UBND Lập luận trên của TAND tỉnh H là không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án

Căn cứ quy định tại Điều 204 Luật TTHC 2015, thân chủ tôi kháng cáo một phần nội dung bản án, cụ thể là nội dung Tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn

Bá Sao:

- Hủy Quyết định hành chính số 273/QĐ-KPHQ ngày 29/8/2019 của Chủ tịch UBND TP H về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả;

- Hủy Quyết định số 152/QĐ-CCXP ngày 09/1/2020 của Chủ tịch UBND TP H về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và

- Hủy Quyết định 2004/QĐ-UBND ngày 24/9/2020 của Chủ tịch UBND TP H về việc giải quyết khiếu nại

Tôi cho rằng, Bản án sơ thẩm đã không đi thẳng vào việc giải quyết các nội dung của vụ án một cách đầy đủ, từ đó xâm phạm quyền lợi hợp pháp của thân chủ tôi

Ngày đăng: 13/02/2022, 11:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w