1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo tốt nghiệp "Các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" doc

87 736 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Chính sách tiền tệ
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo haihướng: chính sách tiền tệ mở rộng tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc đẩysản xuất kinh doanh ,giảm thất nghiệp nh

Trang 1

Báo cáo tốt nghiệp

Các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

hoàn thiện

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG I: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 3

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ

CỦA CSTT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

8

2.1 Sự đổi mới trong việc thực hiện CSTT 8

2.2 Việc sử dụng các công cụ của CSTT những năm qua 8

2.2.2 Công cụ hạn mức tín dụng 14

2.2.3 Công cụ dự trữ bắt buộc 16

2.2.4 Công cụ cho vay tái chiết khấu 18

2.2.5 Công cụ nghiệp vụ thị trường Mở 20

2.3 Đánh giá qúa trình thực hiện các công cụ của CSTT những năm

vừa qua.

22

2.3.1 Những thành tựu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô 22

2.3.2 Những vấn đề tồn tại trong quá trình thực hiện các công cụ

của CSTT những năm qua.

3.2.1 Nhóm giải pháp về việc tạo môi trường, điều kiện thuận lơị 29

3.2.2 Nhóm giải pháp về việc hoàn thiện các công cụ của CSTT 30

Trang 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Frederic S Mishkin: “Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính”NXBkhoa học và kỹ thuật Hà nội - 1996

2 PTS Lê Vinh Danh: “Tiền và hoạt động Ngân hàng” NXB H1997

CTQ6-3 PTS Nguyễn Ngọc Hùng: “Lý thuyết tiền tệ - Ngân hàng” NXB tàichính 1998

4 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Ngân hàng Việt Nam, quá trình xâydựng và phát triển” NXB CTQ6-H 1996

5 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Báo cáo thường niên” các năm

1993, 1994, 1995, 1996, 1997, 1998, 1999, “Báo cáo diễn biến khu vực tiềntệ” năm 2000

6 “Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam” NXB CTQG, H 1998

7 PTS Nguyễn Anh Dũng - Lân Hồng Cường: “chính sách tiền tệ trênnền tảng lý luận và thực tiễn Việt Nam TC Ngân hàng số 6/1996

8 Nguyễn Sơn Tùng: “ Về chính sách tiền tệ mềm dẻo” TC Ngân hàng8/1997

9 PTS Mai Bạn: “Xây dựng và điều hành CSTT sát hợp với thực tế ViệtNam” TC Ngân hàng số 12/1998

10 Th.S Tô Kim Ngọc: “ Hạn chế của cơ chế điều chỉnh trực tiếp trongđiều hành CSTT ở Việt Nam” TC Ngân hàng số 1+2/2000

11 Th.S Nguyễn Thị Thuý Vân: “ Hoàn thiện các công cụ điều hànhCSTT ở Việt Nam hiện nay” TC Ngân hàng số 12/1999

12 PTS Nguyễn Văn Thắng: “ Chuyển đổi công cụ của CSTT từ trựctiếp sang gián tiếp” TC Ngân hàng số 12/1999

13 TS Vũ Viết Ngoạn “Toàn cầu hoá - cơ hội và thách thức đối với

Trang 4

14 Th.s Nguyễn Văn Bắc: “ Một số tác động của chính sách lãi suất đốivới hoạt động của NHTM trong thời gian qua” TC Ngân hàng số 6/2000

15 TS Nguyễn Đăng Dờn: “ Vài ý kiến về lãi suất, lãi suất cơ bản và cơ

xu hướng tự do hoá lãi suất ở Việt Nam hiện nay” TC Ngân hàng số 6/2000

16 Th.s Lê Văn Hải: “Một số giải pháp sử dụng nghiệp vụ thị trườngmở”.TC Ngân hàng số 8/2000

17 Nguyễn Hữu Nghĩa: “Vận hành nghiệp vụ thị trường mở trong cơchế thị trường” TC Ngân hàng số 8/2000

18 Đức Hạnh: “Ngân hàng TW và hoạt động nghiệp vụ thị trường mở”

TC khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 4/2000

19 PGS.PTS Lê Văn Tư - Lê Tùng Vân “Vấn đề dự trữ tiền mặt tronghoạt động ngân hàng hiện đại” TC Ngân hàng số 8/1998

20 Ngọc Minh: “Công cụ hạn mức tín dụng hiện nay và những đề xuấttrong thời gian tới” TC Ngân hàng số 23/1998

21 PTS Nguyễn Võ Ngoạn: “Hạn mức tín dụng và lãi suất tín dụngtrong hệ thống công cụ của CSTT quốc gia” TC Ngân hàng số 7/1997

22 PTS Phạm Ngọc Long: “Hoàn thiện CSTT với việc kiềm chế lạmphát và tăng trưởng kinh tế” TC Ngân hàng số 6/1997

Trang 5

Mở đầu

Tính cấp thiết của đề tài : Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết

kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì

nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độtăng trưởng, lạm phát Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thìviệc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định

Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là cáccông cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụngđối với nền kinh tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọncác công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn

là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với cácnhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứukinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiệnnay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể là các công cụ của chínhsách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu

về chính sách tiền tệ ,em quyết định chọn đề tài: “ Các công cụ của chính

sách tiền tệ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện ”

Nội dung, đối tượng, phạm vi nghiên cứu : Đề tài sẽ hệ thống hoá

những vấn đề có tính lý luận về chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trườngđồng thời qua việc khảo sát quá trình sử dụng các công cụ của chính sách tiền

tệ ở Việt Nam (từ năm 1989 đến nay) nhằm đánh giá thực trạng sử dụng, điềuhành các công cụ đó, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp góp phần hoàn thiện

và nâng cao hiệu quả các công cụ của ch`ính sách tiền tệ ở Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu: Lấy phương pháp duy vật biện chứng, duy

vật lịch sử làm phương pháp luận cơ bản kết hợp với quan điểm tiếp cận hệthống và sử dụng các phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phươngpháp phân tích tổng hợp cùng các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác

Trang 6

Kết cấu đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chương

được bố cục như sau:

Chương 1 : Chính sách tiền tệ trong nền kinh tế thị trường

Chương 2: Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ

ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện các công cụ của hính

sách tiền tệ ở Việt Nam

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của cô giáoPhạm Hồng Vân đã giúp em hoàn thành đề án này

Trang 7

Nội dung

Chương 1

0o0 chính sách tiền tệ trong nền kinh tế

thị trường

1.1 Khái niệm, vị trí của chính sách tiền tệ :

Khái niệm chính sách tiền tệ : Chính sách tiền tệ là một chính sách

kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua cáccông cụ , biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu :ổn định giá trị đồngtiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế

Tuỳ điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo haihướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền ,giảm lãi suất để thúc đẩysản xuất kinh doanh ,giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng -chính sách tiền tệchống thất nghiệp) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt(giảm cung tiền , tăng lãisuất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưngthất nghiệp tăng-chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền)

Vị trí chính sách tiền tệ : Trong hệ thống các công cụ đIều tiết vĩ mô

của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọngnhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng cóquan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tàikhoá,chính sách thu nhập,chính sách kinh tế đối ngoại

Đối với Ngân hàng trung ương ,việc hoạch định và thực thi chính sáchchính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất ,mọi hoạt động của nó đều nhằmlàm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn

Trang 8

1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ :

*ổn định giá trị đồng tiền: NHTW thông qua CSTT có thể tác động đến

sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình.Giá trị đồng tiền ổn địnhđược xem xét trên 2 mặt: Sức mua đối nội của đồng tiền(chỉ số giá cả hànghoá và dịch vụ trong nước)và sức mua đối ngoại(tỷ giá của đồng tiền nướcmình so với ngoại tệ).Tuy vậy ,CSTT hướng tới ổn định giá trị đồng tiềnkhông có nghĩa là tỷ lệ lạm phát =0 vì như vậy nền kinh tế không thể pháttriển được,để có một tỷ lệ lạm phát giảm phảI chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệptăng lên

*Tăng công ăn việc làm: CSTT mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng

trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuấtkinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Để cómột tỷ lệ thất nghịêp giảm thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên

*Tăng trưởng kinh tế : Tăng trưởng kinh tế luôn là mục tiêu của mọi

chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô của mình, đểgiữ cho nhịp độ tăng trưởng đó ổn định, đặc biệt việc ổn định giá trị đồng bản

tệ là rất quan trọng ,nó thể hiện lòng tin của dân chúng đối với Chínhphủ Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên đạt được mộtcách hài hoà

Mối quan hệ giữa các mục tiêu :Có mối quan hệ chặt chẽ,hỗ trợ nhau,không tách rời Nhưng xem xét trong thời gian ngắn hạn thì các mục tiêu này

có thể mâu thuẫn với nhau thậm chí triệt tiêu lẫn nhau.Vậyđể đạt được cácmục tiêu trên một cách hài hoà thì NHTW trong khi thực hiện CSTT cần phải

có sự phối hợp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác

1.3 Các công cụ của CSTT :

1.3.1.Nghiệp vụ thị trường mở:

Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực

hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết lượngtiền cung ứng

C

ơ chế tác động :Khi NHTW mua (bán)chứng khoán thì sẽ làm cho cơ

số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi)

Trang 9

Nếu thị trường mở chỉ gồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽlàm thay đổi lượng tiền dự trữ của các NHTM (R ),nếu bao gồm cả côngchúng thì nó sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông(C)

Đặc điểm: Do vận dụng tính linh hoạt của thị trường nên đây được coi là

một công cụ rất năng động ,hiệu quả,chính xác của CSTT vì khối lượngchứng khoán mua( bán ) tỷ lệ với qui mô lượng tiền cung ứng cần đIềuchỉnh,ít tốn kém về chi phí ,dễ đảo ngược tình thế.Tuy vậy, vì được thực hiệnthông qua quan hệ trao đổi nên nó còn phụ thuộc vào các chủ thể khác thamgia trên thị trường và mặt khác để công cụ này hiệu quả thì cần phảI có sựphát triển đồng bộ của thị trường tiền tệ ,thị trường vốn

1.3.2 Dự trữ bắt buộc :

Khái niệm :Số tiền dự trữ bắt buộc là số tiền mà các NH phảI giữ lại,do

NHTW qui định ,gửi tại NHTW,không hưởng lãI,không được dùng để đầutư,cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng sótiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán,sự ổn định của hệthống ngân hàng

Cơ chế tác động :Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp

đến số nhân tiền tệ (m=1+s/s+ER+RR) trong cơ chế tạo tiền của cácNHTM.Mặt khác khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì khả năng cho vaycủa các NHTM giảm (tăng), làm cho lãI suất cho vay tăng (giảm),từ đó làmcho lượng cung ứng tiền giảm (tăng)

Đặc đIểm :Đây là công cụ mang nặng tính quản lý Nhà nước nên giúp

NHTW chủ động trong việc đIều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của

nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnhhưởng tới một lượng rất lớn mức cung tiền) Song tính linh hoạt của nó khôngcao vì việc tổ chức thực hiện nó rất chậm ,phức tạp, tốn kém và nó có thể ảnhhưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của các NHTM

1.3.3 Chính sách tái chiết khấu:

Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn

đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc đIều chỉnh

Trang 10

lãI suất táI chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay táI chiếtkhấu (cửa sổ chiết khấu)

Cơ chế tác động :Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn

chế (khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng chovay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh

tế giảm (tăng).Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu củamình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại

Ngoài ra, ở các nước có thị trường chưa phát triển (thương phiếu chưaphổ biến để có thể làm công cụ táI chiết khấu) thì NHTW còn thực hiệnnghiệp vụ này thông qua việc cho vay táI cấp vốn ngắn hạn đối với cácNHTM

Đặc điểm :Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là

người cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăntrong thanh toán ,và có thế kiểm soát đựoc hoạt động tín dụng của các NHTMđồng thời có thể tác động tới việc đIều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tếthông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể.Tuy vậy ,hiệu qủa củacộng cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho vay của các NHTM, mặt khácmức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó ,sai lệch thông tin về cung cầuvốn trên thị trường

Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lượng tiền cung

ứng,trong một nền kinh tế nếu NHTW sử dụng có hiệu quả cấc công cụ nàythì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác Tuy vậy trong những điềukiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển ;các giai đoạn kinh tế quá nóng ) thì

để đạt được mục tiêu của mình ,NHTW có thể sử dụng các công cụ điều tiếttrực tiếp sau:

1.3.4 Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM

Khái niệm : là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM

không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(mộtnăm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạnmức tín dụng cho toàn nền kinh tế dựa trên cơ sở là các chỉ tiêu kinh tế vĩ

Trang 11

mô(tốc độ tăng trưởng ,lạm phátiêu thụ )sau đó NHTW sẽ phân bổ cho cácNHTM và NHTM không thể cho vay vượt quá hạn mức do NHTW quy định

Cơ chế tác động: Đây là một cộng cụ điều chỉnh một cách trực tiếp đối

với lượng tiền cung ứng,việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụngcho nền kinh tế có quan hệ thuận chiều với qui mô lượng tiền cung ứng theomục tiêu của NHTM

Đặc điểm: Giúp NHTW điều chỉnh ,kiểm soát được lượng tiền cung ứng

khi các công cụ gián tiếp kém hiệu quả ,đặc biệt tác dụng nhất thời của nó rấtcao trong những giai đoạn phát triển quá nóng,tỷ lệ lạm phát quá cao của nềnkinh tế Song nhược điểm của nó rất lớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữacác NHTM,làm giảm hiệu quả phân bổ vốn trong nến kinh tế ,dễ phát sinhnhiều hình thức tín dụng ngoàI sự kiểm soát của NHTW và nó sẽ trở nên quákìm hãm khi nhu cầu tín dụng cho việc phát triển kinh tế tăng lên

1.3.5 Quản lý lãi suất của các NHTM:

Khái niệm : NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một trần lãi

suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó,từ đóảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và NHTW có thể đạt đượcquản lý mức cung tiền của mình

Cơ chế tác động: Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm

sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô huy động và cho vay của các NHTM làmcho lượng tiền cung ứng thay đổi theo

Đặc điểm :Giúp cho NHTW thực hiện quản lý lượng tiền cung ứng theo

mục tiêu của từng thời kỳ,đIều này phù hợp với các quốc gia khi chưa có điềukiện để phát huy tác dụng của các công cụ gián tiếp.Song, nó dễ làm mất đitính khách quan của lãi suất trong nền kinh tế vì thực chất lãI suất là “giá cả”của vốn do vậy nó phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu về vốntrong nến kinh tế Mặt khác việc thay đổi quy định đIều chỉnh lãI suất dễ làmcho các NHTM bị động,tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình

Trang 12

Chương 2

Thực trạng việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt

Nam hiện nay.

2.1 Sự đổi mới trong việc thực hiện chính sách tiền tệ.

Kể khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì quá trình thựchiện chính sách tiền tệ cũng được xây dựng, đổi mới theo đúng ý nghĩa kinh

tế của nó và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số mặt sau: Cách xác định lượng tiền cung ứng: Nếu như trong thời kỳ bao cấpchúng ta chỉ quan niệm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế chỉ bao gồm tiềnmặt và mức cung là bao nhiêu, ở thời kỳ nào là do chính phủ phê duyệt thìngày nay việc quan niệm về lượng tiền cung ứng để thay đổi bên cạnh lượngtiền mặt (C) còn tính đến khả năng tạo tiền của các NHTM, tổ chức tín dụngkhác (D) Bên cạnh đó lượng tiền cung ứng hàng năm phải dựa trên cơ sở: tỉ

lệ lạm phát ước tính, tốc độ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch, vòng quay tiềntệ

Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ: Được sử dụng một cáchlinh hoạt, phù hợp với điều kiện Việt Nam ở các thời điểm cụ thể chứ khôngđông cứng, đóng băng như thời kì bao cấp (lãi mất cố định nhiều năm )

Cơ chế điều hành: Năm 1988, Hệ thlống NH đã được phân thành 2 cấpNHNN và các NHTM, trong đó NHNN là cơ quan quản lý Nhà nước trênlĩnh vực tiền tệ- tín dụng- ngân hàng; trực thuộc chính phủ Thống đốcNHNN có quyền chủ động hơn và chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc thựchiện chính sách tiền tệ quốc gia

2.2 Việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ những năm qua 2.2.1 Công cụ lãi suất:

Trang 13

ở Việt Nam, lãi suất được sử dụng như công cụ chính của chính sáchtiền tệ, nó là yếu tố đánh dấu sự chuyển biến từ cơ chế kinh tế kế hoạch hoástập trung sang cơ chế thị trường, nó còn là công cụ quan trọng để chuyển cácNgân hàng sang cơ chế tự hạch toán kinh doanh.

Giai đoạn 1988- 1991: Chính sách lãi suất được thay đổi cơ bản: Lãi suấttiết kiệm cao hơn tốc độ trượt giá (lạm phát ), nâng lãi suất tiền gửi và tiềnvay của các tổ chức kinh tế tiến gần với lãi suất huy động tiết kiệm.Lãi suấtcho vay vốn lưu động và tốc độ lạm phát (%) ư

Biểu1 : Lãi suất cho vay vốn lưu động và tốc độ lạm phát(%).

6,8-5,5

Việc thi hành chính sách lãi suất thực dương đã được thực hiện nhưng lạichưa triệt để vì thực tế với các ngân hàng thì lãi suất cho vay lại nhỏ hơn lãi

Trang 14

suất huy động: Năm 1991 lãi suất huy động tiết kiệm 45% năm; chỉ số trượtgiá bình quân 43,4% năm ; lãi suất cho vay 40,2% năm

Giai đoạn 1992-1995: Lãi suất đã bắt đầu được sử dụng như công cụchính của CSTT, lãi suất thực dương bắt đầu được duy trì từ cuối 1992, điềuchỉnh linh hoạt cùng với tỉ lệ lạm phát và bám sát thị trường (trong thời gian 2năm từ T8/1992-T8/1994 mức lãi suất được điều chỉnh tới 6 lần), NHNNkhống chế “sàn ” lãi suất tiền gửi, trần lãi suất cho vay và có một bộ phận chovay theo lãi suất thoả thuận (T8/1992: Lãi tiết kiệm loại 3 tháng: 2,3%, lãi chovay 2,5%, lạm phát +0,3%)

Để thực hiện nguyên tắc trên đồng thời tạo điều kiện giảm lãi suất chovay để khuyến khích đầu tư phát triển trong nền kinh tế một số biện pháp sauđây đã được sử dụng:

Thay đổi cơ cấu nguồn vốn ngân hàng theo hướng tăng nhanh nguồnvốn có lãi suất thấp ( tăng tiền gửi giao dịch, vốn tín dụng nước ngoài, vốnngân sách)

Thu hẹp chênh lệch lãi suất huy động và cho vay giữa ngoại tệ và bản

tệ theo hướng tăng lãi suất đối với ngoại tệ: Lãi suất cho vay ngoại tệ năm

1993 là 7,5% lên 8,5% năm 1994 và 9,0% năm 1995 và điều chỉnh hàngtháng lãi suất ngoại tệ theo biến động lãi mất thị trường TCQT SINGAPORE Qua việc quốc hội thông qua dự luật bỏ thuế doanh thu NH đã hỗ trợcho NHNN tiến thêm một bước trong việc cải tiến lãi suất vào cuối T12/1995:Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa giảm từ 2,1% tháng xuống 1,75% tháng ; lãisuất cho vay trung - dài hạn được giữ nguyên không quá 1,7% tháng Mặtkhác có quy định để các NHTM tuân thủ chênh lệch lãi suất bình quân giữahuy động và cho vay là 0,35% tháng

Ngoài ra, từ T8/94: Chính sách lãi suất TD còn được cải cách theohướng nâng lãi suất tiền gửi có kì hạn lên gần với lãi suất tiền gửi tiết kiệmcủa dân cư cùng kì hạn để bảo đảm lợi ích kinh tế chính đáng của họ vàkhuyến khích họ gưỉ tiền vào ngân hàng Đồng thời thực hiện lãi suất cho vay

Trang 15

trung, dài hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn: Năm 1994 giữ nguyên mứclãi suất cho vay ngắn hạn; nâng lãi suất cho vay trung hạn, dài hạn từ 1,2%lên 1,7% tháng.

Quá trình cải cách lãi suất trên đã nâng cao tính chủ động cho cácNHTM trong việc ấn định mức lãi suất cụ thể theo yêu cầu huy động vốn vànhu cầu tín dụng thị trường, tăng sự cạnh tranh trong hoạt động tín dụng vàlàm giảm chi phí NH có lợi cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các NHTMthực hiện điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo mục tiêu chính sách tín dụng

Giai đoạn từ 1996- Nay: Đến cuối 1996, NHNN chỉ quy định các mứclãi suất :“trần” theo thời hạn cho vay và khống chế tỷ lệ chênh lệch giữa lãisuất cho vay và lãi suất huy động vốn bình quân chung là 0,35%(tháng) (4,2%năm) Trong phạm vi “trần” lãi suất và tỷ lệ chênh lệch lãi suất được công bố,các NHTM được điều chỉnh linh hoạt các mức lãi suất cho vay và huy độngvốn phù hợp với quan hệ cung cầu về vốn và đặc điểm kinh doanh riêng Sau

4 lần điều chỉnh lãi suất kể từ cuối 1995: Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đagiảm từ 22% năm xuống 15% năm, lãi suất cho vay trung- dài hạn giảm 21%năm xuống còn 16,2% năm

Mặt khác nhằm điều chỉnh các luồng vốn dư thừa từ thành thị về nôngthôn thì lãi suất cho vay ở nông thông được duy trì cao hơn một chút so vớilãi suất cho vay ở thành thị

Trong năm 1997, với mục tiêu góp phần tăng trưởng kinh tế và phù hợp

xu hướng giảm lãi suất, việc quy định trần lãi suất cho vay giảm mạnh,T7/1997 lãi suất cho vay ngắn hạn giảm từ 1,2% tháng xuống 1% tháng, lãisuất cho vay trung dài hạn giảm từ 1,35% tháng xuống 1,1% tháng ,chênhlệch lãi suất huy động và cho vay bình quân quy định là 0,35% tháng(4,2%năm)

Tuy nhiên từ quý IV năm 1997, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, đồng USD có xu hướng lên giá và lãixuất tiền gửi bằng USD ở mức cao trong khi lãi suất huy động của

Trang 16

VND ở mức thấp nên đã có hiện tượng người gửi tiền rút VND để chuyểnsang USD Nhiều tổ chức kinh tế và dân cư găm giữ USD gây khó khăn chocác NHTM và tăng sức ép đối với đồng nội tệ, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn chothị trường tiền tệ và việc huy động vốn của các NHTM, đặc biệt là một sốNHTM cổ phần.

Trước tình hình đó, ngày 20/1/1998, thống đốc NHNN ra QĐ số39/1998 / QĐ- NHNN1 với nội dung chủ yếu là:

- Đưa ra mức trần lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng bằng VND:lãi cho vay ngắn hạn từ 1%-1,2% tháng; lãi suất cho vay trung và dài hạn là1,1- 1,25% tháng ; đồng thời xoá bỏ sự chênh lệch về lãi suất giữa 2 khu vựcthành thị và nông thôn Đó là cơ sở tăng lãi suất huy động vốn VND Hạn chếrút tiền VND tích trữ USD ,tăng vốn cho sản xuất kinh doanh

- Quy định trần lãi suất cho vay bằng USD vẫn giữ nguyên 8,5% nămnhư trước đây đồng thời NHNN còn quy định lãi suất tiền gửi tối đa của cácpháp nhân tại TCTD nhằm hạn chế việc quản lí ngoại tệ trên tài khoản tiềngửi góp phần tăng cường cho việc quản lí ngoại hối

- Đến cuối năm, trần lãi suất cho vay bằng USD được điều chỉnh giảm từ8,5 % xuống 7,5% năm để phù hợp với cân bằng lãi suất LiBOR, SiBOR hiệnhành; đồng thời góp phần mở rộng cho vay ngoại tệ đối với nền kinh tế Nhìn chung việc điều chỉnh lãi suất trong năm 1998 là phù hợp với diễnbiến kinh tế vĩ mô và tỷ giá, nó đã có tác động tích cực đối với việc huyđộng vốn và cho vay trong nền kinh tế Tổng số vốn huy động ở hầu hết các

tổ chức tín dụng đều tăng lên điều đó cho thấy mối tương quan giữa lạm phát

và lãi suất tiền gửi được coi là tương đối hợp lý Từ đó, quy mô tín dụng cungứng cho nền kinh tế tăng lên đặc biệt tín dụng bằng VND có tốc độ tăng caohơn Thị trường ngoại tệ ,tỉ giá VND/USD lại trở về trạng thái tương đối ổnđịnh

Bước sang năm 1999, nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng chững lại, đểphù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ

Trang 17

và thực hiện giải pháp kích cầu về đầu tư của chính phủ , NHNN đã 5 lần điềuchỉnh trần lãi suất cho vay bằng VND theo xu hướng giảm: Từ 1,2% tháng(ngắn hạn) và (1,25%tháng -trung dài hạn) xuống mức thấp nhất là 0,85%tháng (thành thị); 1% tháng (nông thôn); 1,15% tháng (NHTMCP nông thôn-Quỹ TDND cơ sở ); 0,7% (NH phục vụ người nghèo) Trần lãi suất cho vaybằng USD là 7,5% năm.

Sự điều chỉnh lãi suất trên là quyết định hết sức kịp thời và phù hợp vớidiễn biến của nền kinh tế, kích thích tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nguy

cơ giảm phát đang là chậm lại tốc độ tăng trưởng

Năm 2000, lãi suất trong nước có những diễn biến khá phức tạp Thựchiện chủ trương kích cầu của chính phủ, lãi suất cho vay bằng VND vẫn tiếptục được điều chỉnh theo xu hướng giảm: lãi suất cho vay phổ biến gỉam từ0,75% tháng xuống 0,70% tháng Trong khi đó lãi suất ngoại tệ lại chịu tácđộng của thị trường tài chính quốc tế, trong năm 2000, lãi suất thị trườngquốc tế liên tục tăng buộc lãi suất ngoại tệ trong nước cũng phải tăng theo (từ3,5% năm lên 4,5% năm ), nhiều khi lãi suất VND thấp hơn lãi suất USD.Ngày 2/8/2000, NHNN đã quyết định thay đổi cơ chế điều hành lãi suất:chuyển từ cơ chế điều hành trần lãi suất sang cơ chế điều hành theo lãi suất cơbản đối với cho vay bằng VND và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đốivới cho vay bằng ngoại tệ: Đối với cho vay VND, lãi suất cho vay không vượtquá lãi suất cơ bản được công bố hàng tháng Hiện nay, lãi suất cơ bản là0,75% tháng, biên độ cho vay ngắn hạn là 0,3% tháng, biên độ cho vay trung

và dài hạn là 0,5% tháng Đối với lãi suất cho vay USD, lãi suất cho vaykhông vượt quá lãi suất USD trên thị trường liên NH Singapore (SiBOR) kìhạn 3 tháng đôí với cho vay ngắn hạn, kì hạn 6 tháng đối với cho vay trungdài hạn tại thời điểm cho vay cộng biên độ do thống đốc NHNN quy định(Hiện nay biên độ cho vay ngắn hạn là 1% năm , biên độ cho vay trung dàihạn là 2,5% năm ) Còn đối với các ngoại tệ khác do chiếm tỷ trọng nhỏ tronghoạt động tiền gửi TD nên cho phép các TCTD tự xác định

Trang 18

Với nội dụng điều hành lãi suất cơ bản như trên cho thấy lãi suất cơ bảnđược xác định trên cơ sở lãi suất thị trường với mức độ rủi ro thấp, đảm bảo

sự kiểm soát lãi suất của NHNN, phù hợp thực tiễn Việt Nam, đây là mộtbước tiến mới, bước đi tiếp theo trong tiến trình tự do hoá lãi suất

Như vậy, chính sách lãi suất linh hoạt và phù hợp cùng với việc ổn định

tỷ giá VND/USD trong những năm qua không những góp phần quan trọngtrong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô mà còn làm tăng tính hấp dẫn của đồngtiền Việt Nam và lòng tin của dẫn chúng vào hệ thống ngân hàng, giảm dầntình trạng sử dụng hay cất trữ USD, từng bước đẩy lùi tình trạng “đô la hoá” ởViệt Nam

Điều đó chứng tỏ rằng: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triểnchưa cao, việc sử dụng lãi suất làm công cụ điều hành chính sách tiền tệ củaNHNN Việt Nam là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn

2.2.2 Công cụ Hạn mức tín dụng:

Đây là công cụ được coi là cần thiết ở Việt Nam trong những năm đầucủa thời kì đổi mới hiệu quả của nó đã thể hiện rõ rệt trong việc chống lạmphát: Những năm 1990-1991do lạm phát còn ở tỉ lệ cao (67,6% tháng ) Đểkhống chế lạm phát, NHNN chủ trương thi hành CSTT “thắt chặt” ngay từđầu năm để giảm bớt lượng tiền cung ứng Dựa trên một số chỉ tiêu vĩ mô dựkiến năm 1992 là: Tăng trưởng kinh tế (4,5%); chỉ số lạm phát (30%/ năm),NHNN đưa ra hạn mức tín dụng đối với tất cả hệ thống NHTM là 34,5%(mức tăng so với năm trước) Bằng nhiều biện pháp kết hợp, năm đó chúng ta

đã đạt được kết quả thực tế rất khả quan: mức tăng trưởng kinh tế tăng gấp 2lần so với dự kiến (8,65%), mức lạm phát thấp hơn dự kiến rất nhiều (17,6%),tiền tệ đi dần vào ổn định

ở thời kỳ đầu, công cụ hạn mức TD chỉ áp dụng cho 4 NHTMQD( NHNgoại thương, NH Công thương, NH Nông nghiệp, NH đầu tư phát triển)nhưng sau vài năm đổi mới, do quy mô mở rộng tín dụng của các NHTM quánhanh, số lượng các NHTM ngày càng nhiều nên NHNN quyết định áp dụng

Trang 19

hạn mức tín dụng cho hầu hết các NHTM Tính đến cuối năm 1997 có 26NHTM trong nước phải áp dụng hạn mức tín dụng còn các NH nước ngoài và

NH liên doanh tuy chiếm thị phần tín dụng đáng kể (10-15% thị phần tín dụngtrong nước) nhưng vẫn chưa phải áp dụng hạn mức tín dụng

Những năm sau đó, đặc biệt là từ 1995 đến 1997, NHNN vẫn tiếp tụcthực hiện chính sách tiền tệ “thắt chặt” để kiểm soát lạm phát từ đó đưa ra rỉ

lệ hạn mức tín dụng ở mức vừa phải cho các NHTM Song kết quả thực tế chothấy hiện tượng phổ biến là hầu hết các NHTM đều có xu hướng vượt qúa chỉtiêu hạn mức tín dụng được giao, cụ thể

Thựchiện

KHgiao

Thựchiện

KHgiao

Thựchiện Tăng so với

năm trước

21% 37,8% 25% 29% 21% 26,4% 4% 4,8%

Hiện tượng trên xuất phát từ hai nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất , trong giai đoạn nay tốc độ huy động vốn nhàn rỗi bình quân

hàng năm của các NHTM tăng nhanh (khoảng 26% đến 37% năm) vì vậy cácNHTM tất yếu phải thực hiện đầu tư tăng trưởng tín dụng đối với nền kinh tế

vì con đường để đầu tư qua thị trường tiền tệ, thị trường vốn là khó khăntrong điều kiện nước ta lúc bấy giờ

Thứ hai, Do diễn biến lãi suất đang có xu hướng giảm trần lãi suất cho

vay trong khi đó để huy động nguồn vốn nhàn rỗi các NHTM phải tăng lãisuất huy động (do tâm lý người dân không muốn gửi), điều đó làm cho chênhlệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động giao động ở mức 0,15% -0,25% tháng, thấp hơn so với trước đây 0,3%-0,45% tháng Với chênh lệch

Trang 20

như vậy để đảm bảo hoạt động kinh doanh đủ bù đắp chi phí hoạt động thìbuộc các NHTM phải tăng dư nợ đối với nền kinh tế.

Hiện tượng trên cũng góp phần giải thích tại sao trong những năm

1995-1997 mặc dù lạm phát được kiểm chế ở mức thấp (bình quân 6,9% năm)nhưng nền kinh tế vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao 9,28% năm

Tuy nhiên, từ năm 1998 đến nay, công cụ hạn mức tín dụng đã mất dầnvai trò của nó trong việc hạn chế sự gia tăng của tổng phương tiện thanh toán

vì lạm phát có xu hướng giảm và thấp dần ; mặt khác nhu cầu vốn của nềnkinh tế ngày càng tăng và cần phải mở rộng tín dụng để thực hiện mục tiêutăng trưởng kinh tế Do đó từ quý II/1998, NHNN đã không áp dụng công cụnày như một công cụ thường xuyên để điều hành chính sách tiền tệ (mặc dù

có thể coi nó như một giải phóng tình thế khi cần thiết)

Công cụ này sẽ được xoá bỏ hoàn toàn khi thị trường tiền tệ ổn định , thịtrường vốn phát triển và thị trường mở đi vào hoạt động có hiệu quả

2.2.3 Công cụ Dự trữ bắt buộc

Đây là công cụ gián tiếp điều chỉnh mức cung tiễn được sử dụng sớmnhất ở Việt Nam (từ 1991), theo pháp lệnh Ngân hàng (1990), tỷ lệ DTBB cóthể ở mức từ 10% đến 30% tổng nguồn vốn huy động của các NHTM

Song trong điều kiện thực tế lúc bấy giờ khi tiềm lực của các NHTMViệt Nam còn nhỏ bé và lạm phát đã được kiềm chế ở mức đáng kể, nênNHNN đã quy định tỉ lệ DTBB là 10%; được áp dụng cho các NHTMQD,NHTM cổ phần ,chi nhánh NH nước ngoài,NH liên doanh và các công ty tàichính

Qua quá trình thực hiện ban đầu cho thấy rất ít NHTM dự trữ đủ 10%nhất là các NHTM cổ phần, do vậy để nâng cao hiệu quả của công cụ này,trong năm 1994, NHNN đã hai lần điều chỉnh tỉ lệ DTBB; quy định mứcDTBB thống nhất đối với tất cả các NHTM(có phân biệt với các loại tiền gửikhác nhau : tiền gửi, tiền tiết kiệm không kì hạn: 13%;tiết kiện kì hạn 3,6

Trang 21

tháng, kì phiếu mục đích, trái phiếu: 8%) ; đồng thời đẩy mạnh việc áp dụngquy chế phạt đối với các TCTD không thực hiện đúng quy chế DTBB.

Năm 1995, NHNN quy định (T10/1995) DTBB chỉ được tính đối vớiloại tiền gửi có kì hạn từ 12 tháng trở xuống, thống nhất ở mức 10% được ápdụng cho tất cả các NHTM( trừ NHTMCP nông thôn, HTX tín dụng, quỹTDND tạm thời chưa phải thực hiện) Số lần tính DTBB hàng tháng tăng lên,lại bỏ dần tín phiếu kho bạc trong cơ cấu tiền gửi DTBB; tiễn gửi DTBB đượchợp nhất với tiền gửi thanh toán của các NHTM vào một tài khoản chung làtài khoản tiền gửi không kì hạn tại NHNN Tiền gửi dự trữ vượt được trả lãi0,1% tháng (Năm 1996) Điều này đã tạo sự linh hoạt hơn cho việc điều chỉnh

dự trữ của các NHTM tại NHNN, góp phần gián tiếp khống chế lãi suất thịtrường và khối lượng tín dụng cung ứng để thực hiện tốt mục tiêu kiềm chếlạm phát

Đến T12/97, Quy chế DTBB có sự thay đổi để đảm bảo tính cụ thể, rõràng hơn: Tiền gửi DTBB tại NHNN được tính bình quân trong cả kì duy trì,

tỷ lệ DTBB vẫn là 10%, tiền dự trữ vượt được hưởng lãi suất 0,2% tháng(bằng VND) và 4,86% năm (đối với USD) Đồng thời NHTM nào thiếu tiềngửi DTBB trong kì duy trì sẽ bị phạt theo mức 200% lãi suất cho vay tái cấpvốn của NHNN (VND), từ đó khuyến khích các NHTM thực hiện đúng quychế DTBB

Để luật NHNN có hiệu lực (từ 1/10/1998) ,từ cuối 1998 và trong năm

1999, quy chế DTBB có những thay đổi đáng kể: Đối tượng áp dụng được

mở rộng thêm (quỹ TDND, NH hợp tác);số tiền DTBB phải gửi tại NHNN đểthực hiện chính sách tiền tệ quốc gia thay cho quy định về cơ cấu tiền DTBBtrước đây: 70% gửi tại NHNN và 30% tiền mặt, ngân phiếu còn thời hạnthanh toán; việc trả lãi tiền DTBB do chính phủ quy định

Để tạo đà khôi phục, phát triển kinh tế trong năm 1999 tỉ lệ DTBB đượcđiều chỉnh nhiều lần theo xu hướng gỉam nhằm nới lỏng tiền tệ, kích thíh đầu

tư, tiêu dùng

Trang 22

Biểu 3: Tỷ lệ DTBB đối với các TCTD năm 1999

TCTD Tỉ lệ DTBB (%)

1/1/99 1/3/99 1/6/99 1/7/99 1/10/99

1 NHTMQD, NHTM của đô thị,

chi nhánh NH nước ngoài, NH

liên doanh & Công ty TC

Trong năm 2000, NHNN tiếp tục áp dụng tỷ lệ DTBB bằng VND nhưnăm 1999 Riêng về tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng ngoại tệ để tạo tín hiệuhạn chế việc các TCTD huy động tiền gửi USD ( qua việc nâng lãi suất huyđộng) để gửi ra nước ngoài hưởng chênh lệch lãi suất, khuyến khích cácTCTD cho vay trong nước, ngày 1/10/2000 NHNN đã điều chỉnh tỷ lệ DTBBđối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 8% kể từ kỳ duytrì DTBB tháng 11/2000 Sau đó nhằm tiếp tục thực hiện chủ trươngtrên ,ngày 1/12/2000 NHNN tiếp tục nâng tỷ lệ DTBB lên 12% áp dụng từ kỳduy trì DTBB 12/2000

Như vậy, công cụ DTBB ngày càng được hoàn thiện và trở thành công

cụ đắc lực của NHNN Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ

2.2.4 Công cụ Cho vay tái chiết khấu

Trang 23

ở Việt Nam, cho vay tái chiết khấu đã được sử dụng như là một công cụcủa CSTT ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới Tuy vậy, vì chưa hội

đủ những điều kiện nên việc áp dụng nó còn giản đơn làm cho hiệu quả của

nó còn nhiều hạn chế Mặc dù vậy trong những năm gần đây nó đã trở thànhcông cụ đắc lực góp phần thực hiện tốt các mục tiêu của CSTT quốc gia.Thời kỳ đầu, cho vay chiết khấu được thực hiện qua việc NHNN choNHTM vay ngắn hạn căn cứ vào khế ước tín dụng ( có chất lượng ) doNHTM đem thế chấp tại NHNN, lãi suất tái cấp vốn được xác định dựa theolãi suất cho vay (cao nhất ) của các NHTM và được điều chỉnh linh hoạt theomục tiêu CSTT quốc gia ở mỗi thời kỳ Năm 1994 với mục tiêu kiềm chế lạmphát, NHNN hạn chế tới mức thấp nhất mức tái cấp vốn cho các NHTM quaviệc nâng lãi suất tái cấp vốn từ 85% -100% lãi suất cho vay các NHTM,riêng NH nông nghiệp là 95% Năm 1995 để đẩy mạnh mục tiêu trên, NHNN

đã ngưng tái cấp vốn cho các NHTM nhằm đẩy mạnh công tác thu hồi nợ vàgiảm cho vay tín dụng của các NHTM Nhờ đó, đến cuối 1995 dư nợ cho vaychiết khấu của NHNN đã giảm xuống 13% so với 1994 Năm 1996 ,để giảiquyết tình trạng khó khăn trong thanh toán của các NHTM, NH đã thực hiệnviệc cho vay ngắn hạn đối với các NHTM trong trường hợp tạm thời thiếukhả năng thanh toán (qua các phiên thanh toán bù trừ trên từng địa bàn).Nhưng áp dụng lãĩ suất tái chiết khấu ở mức tối đa Điều này một mặt bảođảm được sự ổn định của hệ thống ngân hàng, mặt khác hạn chế được khảnăng cung ứng vượt qúa về tín dụng của các NHTM đồng thời khuyến khíchviệc huy động vốn của các NHTM, cũng hạn chế bớt việc các NHTM vay tiềncủa NHNN, vì vậy cuối năm 1996, dư nợ cho vay tái chiết khấu chỉ tăng3,5% so với 1995

Trong năm 1997 NHNN đã sử dụng phương thức tái cấp vốn có thế chấp(bằng chứng từ, tiền gửi ngoại tệ tại NHNN) nhằm bù đắp khó khăn tạm thờitrong thanh toán cho các NHTM Lãi suất tái cấp vốn được điều chỉnh từ quyđịnh 100% lãi suất cho vay của các NHTM đối với nền kinh tế sang quy địnhmức lãi suất cụ thể (từ tháng 3-tháng 7năm 1997) Mức lãi suất tái cấp vốn

Trang 24

quy định là 1,1% tháng, từ T8/1997là 0,9% ) Do trong năm 1997 các NHTM

đã tích cực hơn trong việc trả nợ NHNN và khả năng huy động vốn tăng nênđến cuối 1997, dư nợ tái cấp vốn của NHNN giảm 11,9% so với 1996

Năm 1998, để thực hiện chính sách tiền tệ “thắt chặt” nhằm hạn chế sựgia tăng lạm phát do ảnh hưởng cuả cuộc khủng hoảng tài chính khu vực,NHNN đã tăng lãi suất tái chiết khấu từ 1% tháng 1,1% tháng (thấp hơn tiềnlãi suất cho vay ngắn hạn là 0,1% tháng

Năm 1999, với mục tiêu khuyến khích tăng trưởng kinh tế, khắc phụcnguy cơ giảm phát NHNN đã 4 lần điều chỉnh giảm lãi suất cho vay tái cấpvốn từ mức 1,1% tháng đầu năm xuất 0,5% tháng đồng thời quy chế vềnghiệp vụ chất khấu, tái chiết khấu đã được ban hành để phát triển một bướchiệu quả công cụ này trong chính sách tiền tệ và tạo khả năng cân đối nguồnvốn hoạt động cho các ngân hàng Các giấy tờ có giá ngắn hạnh được chiếtkhấu tại NHNN là tín phiếu kho Bạc, trái phiếu NHNN và các giấy tờ có giángắn hạn khác do NHNN quy định ở mỗi thời kỳ Mức lãi suất tái chiết khấuđược công bố là 0,45% tháng

Từ đầu năm đến cuối tháng 7/2000, nhằm khuyến khích mở rộng tíndụng của các TCTD, NHNN đã 2 lần giảm lãi suất tái cấp vốn từ 0,5% thángxuống 0,45% tháng (31/3/2000) và xuống 0,4% tháng (31/7/2000) Đồng thờiNHNN cũng giảm lãi suất tái chiết khấu từ 0,45% tháng xuống còn 0,4%tháng (T3/2000) và xuống 0,35% tháng (T7/2000) Tuy vậy cho đến T9 /2000

để hạn chế các TCTD bù đắp thiếu hụt thanh toán qua hình thức vay tái cấpvốn, tái chiết khấu từ NHNN và khuyến khích thực hiện bù đắp qua thị trường

mở nhằm thúc đẩy sự phát triển của thị trường này, đồng thời tạo tín hiệu chocác TCTD tăng lãi suất huy động, ngày 2/11/2000 NHNN đã điều chỉnh tănglãi suất tái cấp vốn lên 0,5% tháng và tăng lãi suất tái chiết khấu lên 0,45%tháng

Như vậy công cụ cho vay chiết khấu đã dần được áp dụng theo đúng bảnchất của nó là tín hiệu cho các NHTM điều chỉnh lãi suất cùng với sự phát

Trang 25

triển của thị trường ở Việt Nam , trở thành một công cụ đắc lực của chínhsách tiền tệ quốc gia

2.2.5 Công cụ Nghiệp vụ thị trường mở

Luật NHNN Việt Nam quy định “NHNN thực hiện nghiệp vụ thị trường

mở thông qua việc mua, bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếuNHNN các loại giấy tờ có giá ngắn hạn khác trên thị trường tiền tệ để thựchiện CSTT quốc gia”

Trước khi thị trường mở chính thức được đưa vào vận hành ở Việt Nam,NHNN đã từng bước tạo lập cơ sở cho nó qua việc tổ chức đấu thầu và pháthành các loại tín phiêú, đó là:

Tín phiếu kho bạc Nhà nước (KBNN): từ năm 1996 đến hết năm 1998NHNN đã phối hợp với KBNN tổ chức đấu thầu tín phiếu và trái phiếu khobạc Năm 1996, KBNN đã phát hành gần 100 tỷ đồng tín phiếu qua NHNN,sau đó chủ yếu là phát hành trái phiếu kho bạc (thời hạn một năm) Tổngmệnh giá trúng thầu năm 1997 là 2917,5 tỷ VND (37 đợt ); năm 1998 là4020,7 tỷ VND (46 đợt),năm 1999 là 3011.6 tỉ VND(46 đợt) , năm 2000 là4441.0 tỉ VND (43 đợt) Các đối tượng trúng thầu chủ yếu là các NHTMQuốc doanh, các NHTM cổ phần và các Công ty Bảo hiểm Song nếu theoquy định của luật NHNN thì các trái phiếu này không thể sử dụng làm côngcho thị trường mở được

Tín phiếu NHNN: Do NHNN Việt Nam phát hành từ năm 1995, tính đếnthời điểm tháng 7/1999 NHNN đã tổ chức được 6 đợt phát hành tín phiếuNHNN Các đợt này đều được tổ chức vào các thời điểm khi mà tổng phươngtiện thanh toán và lạm phát có xu hướng gia tăng nhằm rút bớt tiền trong lưuthông Tổng mệnh giá đã phát hành của cả 6 đợt là 3.400 tỉ VND; phần lớncác tín phiếu này đều có thời hạn 3 tháng

Cho đến ngày 12/7/2000, NHNN chính thức khai trương đưa nghiệp vụthị trường mở vào hoạt động theo phương hướng sử dụng nó như là một công

cụ điều tiết tiền tệ linh hoạt và có hiệu quả của NHNN

Trang 26

Trong năm 2000, NHNN đã thực hiện được 17 phiên giao dịch thịtrường mở, trong đó có 14 phiên mua được 1353,50 tỷ đồng đạt 71,24% khốilượng chào mua với lãi suất trong khoảng 4,20%- 5,58% năm và 3 phiên bánđược 550 tỷ đồng đạt 100% khối lượng chào bán với lãi suất trong khoảng4,0%- 4,6% năm Đến 31/12/2000 ; NHNN đã bơm 405 tỷ đồng qua thịtrường mở sau khi loại trừ các khoản mua, bán đã đến hạn thanh toán.

Từ 1/1/2001- 7/2/ 2001, NHNN đã thực hiện được 3 phiên giao dịch muađược 160 tỉ đồng chỉ đạt 50% khối lượng chào mua với mức lãi suất 3,5-4,6

%năm Đã có 18 tổ chức tín dụng đăng kí là thành viên của thị trường (tuyvậy mỗi phiên giao dịch chỉ có thường xuyên từ 1 đến 3 thành viên thamgia)Phương thức giao dịch chủ yếu là Mua- Bán có kì hạn (15 ngày -4tháng )hoặc mua hẳn- bán hẳn

Như vậy,ở Việt Nam thị trường mở đã tìm được con đường đi riêng chomình và tính ưu việt của nó đã được phát huy tác dụng ở một mức độ nhấtđịnh (đã giúp cho các NHTM được chủ động hơn trong việc điều chỉnh lượngvốn khả dụng của mình, qua đó NHNN phần nào đã thực hiện được mục tiêuCSTT quốc gia).Tuy vậy ,đây mới chỉ là giai đoạn khởi đầu và mang tính chấtthử nghiệm nên đòi hỏi nó phải được tiếp tục đổi mới và hoàn thiện

2.3 Đánh giá quá trình thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ những năm qua

2.3.1 Những thành tựu trong việc ổn định kinh tế vĩ mô.

*Góp phần ổn định giá trị đồng bản tệ: Có thể nói đây là thành tựu

đáng được ghi nhận ở Việt Nam, bằng các công cụ điều tiết, NHNN đã kiểmsoát chặt chẽ khối lượng tiền cung ứng hàng năm và đó được xem như mộtbàn tay hữu hiệu đẩy lùi và kiềm chế làm phát, ổn định sức mua của đồng tiềnViệt Nam, làm cho giá cả ổn định, đời sống người dân không ngừng được cảithiện

Bi u 4: M i quan h gi a t ng phối quan hệ giữa tổng phương tiện thanh toán với tỷ lệ lạm ệ giữa tổng phương tiện thanh toán với tỷ lệ lạm ữa tổng phương tiện thanh toán với tỷ lệ lạm ổng phương tiện thanh toán với tỷ lệ lạm ương tiện thanh toán với tỷ lệ lạmng ti n thanh toán v i t l l mệ giữa tổng phương tiện thanh toán với tỷ lệ lạm ới tỷ lệ lạm ỷ lệ lạm ệ giữa tổng phương tiện thanh toán với tỷ lệ lạm ạm

phát

Trang 27

N

ăm

Chỉ tiêu

199 1

199 2

199 3

199 4

Bi u 5: T c ối quan hệ giữa tổng phương tiện thanh toán với tỷ lệ lạm độ tăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam ăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam t ng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Namng xu t nh p kh u c a Vi t Namất nhập khẩu của Việt Nam ập khẩu của Việt Nam ẩu của Việt Nam ủa Việt Nam ệ giữa tổng phương tiện thanh toán với tỷ lệ lạm

* Góp phần tăng trưởng kinh tế :Việc ổn định giá trị VND đã tạo lòng

tin của nhân dân vào đồng bản tệ, tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thu hútđược nguồn vốn đáng kể từ trong và ngoài nước Đặc biệt việc điều chỉnh cáccông cụ CSTT: lãi suất, tỉ lệ dự trữ bắt buộc của NHNN ở các giai đoạn cụthể đã có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới việc huy động và phân bổ nguồnvốn có hiệu quả trong nền kinh tế của các TCTD Cũng từ đó mà góp phầnthúc đẩy tăng trưởng kinh tế liên tục qua các năm

Bi u 6:Tình hình t ng trăng trưởng xuất nhập khẩu của Việt Nam ưởng xuất nhập khẩu của Việt Namng kinh t (GDP) c a Vi t Namế (GDP) của Việt Nam ủa Việt Nam ệ giữa tổng phương tiện thanh toán với tỷ lệ lạm

Trang 28

N

ăm

Chỉ tiêu

91

36.735

39.982

195.567

213.833

231.264

244.676

256.269

273.439

* Ngoài ra, việc sử dụng các công cụ của CSTT cũng góp phần gián tiếp

chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế, tạo thêm công

ăn việc làm Năm 1999 cả nước giải quyết được việc làm cho 1,2 triệu laođộng và thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệpnông thôn (năm 2000,tỉ lệ hộ nghèo giảm còn 11%)

Trang 29

2.3.2 Những vấn đề tồn tại trong qúa trình thực hiện các công cụ của CSTT những năm qua.

Trong những năm qua, chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến việc kiểmsoát và điều hành toàn bộ quá trình cung ứng tiền (phương pháp dự đoánkhông phù hợp, phương thức điều hành MS không linh hoạt cùng với các biếnđổi kinh tế, mới chỉ quan tâm đến khối lượng tiền phát hành hàng năm cho 2mục tiêu (cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế thông qua cho vaychiết khấu các NHTM và mua ngoại tệ, chưa đánh giá đúng khả năng tạo tiềncủa các NHTM)

Từ đó dẫn đến việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ nhằmđiều tiết sự tăng, giảm khối lượng tiền trong nền kinh tế của NHNN thời gianqua cũng bị hạn chế ở nhiều mặt

Nhóm các công cụ trực tiếp: Được sử dụng chủ yếu trong việc điều tiếtcung tiền thời gian qua, những công cụ này chỉ phù hợp với quá trình chuyểnđổi kinh tế trong giai đoạn đầu nhưng trong tương lai sẽ không còn phù hợpnữa (rõ nhất là công cụ hạn mức tín dụng đã bị loại bỏ từ quý II/98)

Lãi suất là công cụ được sử dụng thường xuyên nhất trong điều hành

CSTT ở Việt Nam vừa qua Tuy nhiên, cũng như tình trạng ở các nứơc đangphát triển khác, ở Việt Nam lãi suất không nhạy cảm lắm với đầu tư Điều nàyđược thể hiện rõ rệt trong hai năm (1998, 1999) khi trần lãi suất cho vay giảmliên tục nhưng đầu tư vẫn chưa tăng mạnh, giá cả và sản lượng không nhữngkhông tăng mà còn tiếp tục giảm (tuy điều này còn liên quan đến các yếu tốthực của nền kinh tế chứ không hoàn toàn xuất phát từ yếu tố tiền tệ danhnghĩa)

.Việc NHNN luôn tiếp điều chỉnh lãi suất trong một khoảng thời gianngắn (từ 1/6/99-4/9/99) đã 3 lần giảm lãi suất cho vay )đã gây khó khăn chocác tổ chức tín dụng.Vì lãi suất cho vay được điều chỉnh giảm (liên tục) trongkhi đó lãi suất nhận gửi ở thời kì trước vẫn giữ nguyên từ đó xuất hiện khảnăng tiềm tàng về rủi ro lãi suất bất khả kháng.Việc điều chỉnh theo xu hướng

Trang 30

giảm trong thời gian qua ít có tác dụng tích cực đến việc tăng cường huy độngvốn trong và dài hạn Việc các NHTM tự quy định lãi suất tiền gửi thanh toántrong khung trần lãi suất cho vay tối đa đã dẫn tới các NHTM tranh giànhkhách hàng bằng việc tăng lãi suất tiền gửi thanh toán lên khá cao, khiến chotổng số vốn huy động của toàn ngành NH không tăng mà chỉ chuyển từ NHnày sang NH khác, gây bất ổn định trong kinh doanh.

Các NHTMQD đang còn phải bao cấp qua lãi suất cho vay theo chỉ đạocủa NHNN, nếu điều này kéo dài sẽ triệt tiêu tính kinh doanh của các NHTM Việc điều chỉnh lãi suất của NHNN nhiều khi còn chậm so với thịtrường vì thế nó có tác dụng khẳng định hơn là hướng dẫn diễn biến thực tế.Mặt khác cơ sở để NHNN điều chỉnh lãi suất còn nặng về quan điểm trườngphái trọng tiền ( căn cứ vào sự thay đổi của chỉ số giá cả thị trường là chủ yếu,

sự ảnh hưởng của thị trường vốn còn hạn chế)

Hơn nữa, trong nền KTTT về mặt nguyên tắc thì lãi suất phải được hìnhthành trên cơ sở quan hệ cung cầu vốn trên thị trường Việc kiểm soát lãi suấtcủa NHNN hiện nay chính là một kiểu can thiệp giá của nhà nước Nếu cứnhư vậy sẽ là không phù hợp trong tương lai khi hệ thống thị trường ở ViệtNam phát triển hoàn thiện hơn

Công cụ dự trữ bắt buộc : Trong nhiều năm liền (kể từ khi có pháp lệnh

NH T5/1990 ) chúng ta duy trì một cách cứng nhắc tỉ lệ DTBB 10%, điều nàychỉ phù hợp trong thời kỳ đầu nhưng sau đó khi đồng tiền Việt Nam đi vào ổnđịnh thì đó là tỉ lệ không hợp lý, thiếu linh hoạt song NHNN trong thời gian

đó vẫn không có quyền thay đổi vì để sửa đổi pháp lệnh phải có thời gian

Kể từ khi luật NHNN được thực hiện, tỉ lệ DTBB tuy có được điều chỉnhgiảm đi (0-20%) và linh hoạt hơn nhưng theo nhiều chuyên gia đánh giá thì

nó vẫn ở mức cao

Việc thực hiện các quy định về DTBB của các TCTD chưa nghiêm, tiềm

ẩn các nguy cơ khủng hoảng khả năng thanh toán Mặt khác đối tượng phải ápdụng quy chế DTBB còn chưa đầy đủ, các đối tượng áp dụng thì mức độ tỉ lệ

Trang 31

DTBB còn khác nhau- có nhiều yếu tố khộng hợp lý Như vậy NHNN vẫnchưa thực sự tạo ra được một “sân chơi bình đẳng”đối với các TCTD.

Trong điều kiện thực tế Việt Nam, tác dụng của công cụ nay còn hạnchế, chưa biểu hiện rõ nét, thời gian gần đây cùng với lãi suất thị trường, lãisuất tái cấp vốn, chúng ta đã liên tục hạ thấp tỉ lệ DTBB tuy nhiên vẫn chưathúc đẩy nền kinh tế phát triển rõ rệt, kết quả biểu hiện còn khá khiêm tốn.Thực tế đó chứng tỏ ở Việt Nam hiện nay chưa có một cơ chế đầy đủ đểCSTTC (cụ thể là các công cụ của CSTT) phát huy tác dụng, mối liên hệ - tácđộng của nó với các biến số kinh tế vĩ mô còn rất hạn chế

Công cụ cho vay tái chiết khấu : Chúng ta còn thiếu tiền đề quan trọng

để thực hiện nghiệp vụ này đó là việc sử dụng thương phiếu chưa phát triểnphổ biến trong các giao dịch thương mại; công cụ mà NHNN thực hiệnnghiệp vụ này là các tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN Theo lý thuyết,lương tiền phát hành vào lưu thông qua con đường tái chiết khấu sẽ là phùhợp hơn nếu nó được dựa trên các thương phiếu(vì lượng tiền đó được bảođảm bằng sự gia tăng khối lượng hàng hoá của nền kinh tế)

Việc cho vay tái cấp vốn ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu thanh toán củacác NHTM hiện nay phải chăng là quá dễ dãi theo nguyên lí phát hành tiền

Nó có thể đáp ứng nhu cầu trước mắt của các NHTM nhưng nó cũng dễ phátsinh các tiêu cực trong qúa trình thực hiện , chưa kích thích sự năng động củacác NHTM Như vậy sẽ tiềm ẩn nguy cơ lạm phát, gây bất ổn đối với giá trịđồng tiền quốc gia

.Trong việc điều chỉnh chính sách chiết khấu dường như chúng ta chỉnặng về điều chỉnh lãi suất chiết khấu mà chưa chú ý đến “cửa sổ chiết khấu”của NHTW đối với các NHTM (vì quy mô cung ứng cho vay chiết khấu củaNHNN đối với các NHTM cũng phải căn cứ vào thực lực của chính các NHđó)

Trang 32

Mặt khác việc áp dụng lãi suất chiết khấu nhiều khi còn mang nặng tínhbao cấp ( ưu tiên NHTMQD) do vậy vai trò “người cho vay cuối cùng” đốivới mọi TCTD của NHNN chưa thực sự thể hiện rõ nét

Công cụ nghiệp vụ thị trường mở : Về cơ bản thì đây chưa thực sự trở

thành một công cụ điều tiết linh hoạt, chủ yếu của NHNN ở Việt Nam mặc dùtheo lý thuyết vai trò của nó là rất to lớn

- Vấn đề nêu trên có thể biểu hiện ở các khía cạnh sau:

Quá trình tạo “hàng hoá” còn chậm chạp, việc tổ chức đấu thầu tínphiếu kho bạc, phát hành tín phiếu NHNN của NHNN còn mang nặng tínhhành chính, các chủ thể tham gia không nhiều chủ yếu là các NHTM quốcdoanh, Công ty Bảo hiểm với mục đích đơn giản là giải quyết nguồn vốn khảdụng dư thừa của họ

Việc mua bán lại tín phiếu còn chưa phổ biến đối với công chúng khiếncho lượng tín phiếu mà các TCTD sau khi mua được hầu như lại nằm imtrong két của họ điều đó cũng làm giảm ý nghĩa và sự sôi động của thị trường

sơ cấp

.Trên thị trường mở ,khối lượng giao dịch còn thấp , số thành viên thamgia chưa nhiều nên tác độngcủa thị trường mở đến lượng vốn khả dụng củacác NHTM còn rất hạn chế

Như vậy,từ các tồn tại trên đòi hỏi phải có những định hướng cơ bản vàcác giải pháp cụ thể để có thể sử dụng các công cụ của CSTT một cách cóhiệu quả ở Việt Nam

Trang 33

Chương 3

định hướng và giảI pháp hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam

3.1 Định hướng

3.1.1.Bối cảnh trong nước và quốc tế

Bước sang thế kỷ 21,đất nước chúng ta có những điều kiện thuận lợi đểphát triển đó là : sự ổn định về chính trị-xã hội,sự phát huy các lợi thế so sánhcủa đất nước phục vụ cho sự phát triển Tuy vậy nền kinh tế của chúng ta từkhi đổi mới đến nay sau những năm phát triển liên tục,cao thì lại đang có xuhướng chững lại, tình hình giảm phát đã thể hiện rõ điều này.Lý do được giảithích có thể là do hậu quả thiên tai ,lũ lụt đã liên tiếp xảy ra hoặc xuất phát từchính các yếu tố,lĩnh vực của sản xuất đang bộc lộ rõ sự yếu kém tụt hậutương đối so với khu vực và thế giới

Quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế của chúng ta đã tiến triển rất tốtđẹp tạo cơ hội để phát triển đất nước ;chúng ta đã có quan hệ với rất nhiều cácquốc gia trong khu vực và thế giới ,tham gia nhiều hiệp ước kinh tế nhưAFTA,WTO đặc biệt có nhiều quan hệ tốt đẹp với các tổ chức,định chế tàichính lớn như IMF,WB,ADB

Mặt khác ,nền kinh tế thế giới và khu vực Đông á,Đông Nam á đang códấu hiệu phục hồi sau thời kỳ khủng hoảng tài chính tiền tệ những nămqua.Đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần ổn định thị trườngtàI chính tiền tệ ở nước ta

Trong xu hướng tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền tệ thì việc nâng caohiệu quả các công cụ của CSTT cho phù hợp điều kiện thực tiễn VN là vấn đềcòn phải lưu tâm rất nhiều

Trang 34

3.1.2 Một số định hướng cơ bản:

-Việc vận hành các công cụ của CSTT một mặt từng bước hoà nhập vớithông lệ quốc tế, mặt khác cần đảm bảo tính độc lập tự chủ theo đúng địnhhướng của Đảng và Nhà nước

-Nhất quán quan điểm cơ bản là: từng bước một chuyển đổi từ việc sửdụng các công cụ trực tiếp sang gián tiếp để quản lý mức cung tiền có hiệuquả hơn

-Việc áp dụng ,điều chỉnh các công cụ của CSTT phải chú ý đến tínhthực tiễn đó là thực trạng nền kinh tế VN và đặt trong mối quan hệ với cácchính sách kinh tế vĩ mô khác để đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh

tế

3.2.Giải pháp :

3.2.1.Nhóm giải pháp nhằm tạo điều kiện ,môi trường thuận lợi

-Việc hoạch định CSTT cũng như các công cụ của CSTT cần đặt nótrong một chỉnh thể thống nhất có tính đến sự linh hoạt của thị trường CSTTcần được độc lập với chính sách tài chính và đảm bảo tính thống nhất trong hệthống các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước

-Thị trường tiền tệ và thị trường liên ngân hàng cần tiếp tục được củng

cố và phát triển để một mặt tạo ra tín hiệu cho việc hoạch định CSTT mặtkhác là cơ chế lan truyền tốt nhất để phát huy có hiệu quả các công cụ củaCSTT

-Theo hướng đó cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình hoàn thiện,cơ cấu lại hệthống NH để đảm bảo một môi trường cạnh tranh lành mạnh sôi động

-Năng lực kỹ thuật của NHNN cần được nâng cao đặc biệt là trong việcthu thập ,xử lý thông tin và ra quyết định điều hành CSTT

-Cần hoàn thiện hành lang pháp lý về hệ thống ngân hàng ,tài chính để

cơ chế thực thi CSTT nói chung ,các công cụ của CSTT nói riêng đượcnghiêm minh và có hiệu quả hơn

Trang 35

-Cần có các biện pháp khuyến khích phù hợp nhằm tạo ra những nếp thóiquen mới trong tâm lý của các cá nhân ,các doanh nghiệp để giúp việc thựchiện các công cụ của CSTT có hiệu quả hơn ,ví dụ: tạo thói quen thanh toánqua ngân hàng của các tổ chức kinh doanh ,thói quen sử dụng hoạt động thịtrường mở của các tổ chức tín dụng

3.2.2 Nhóm giải pháp về việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ

Để nâng cao hiệu quả của qúa trình thực thi CSTT đòi hỏi phải nhanhnhanh chóng hoàn thiện và tiếp tục phát triển hệ thống các công cụ bám sátthực tiễn VN -phục vụ đắc lực cho quá trình đổi mới CSTT.Hệ thống cáccông cụ phải được xây dựng và hoàn thiện theo hướng hỗ trợ ,phối hợp thúcđẩy lẫn nhau tránh tình trạng triệt tiêu hiệu quả của nhau Cụ thể:

*Đối với công cụ hạn mức tín dụng:

NHTN tuy không coi đây là một công cụ thường xuyên nhưng cũngcần phải theo dõi tổng số dư nợ của các NHTM ở các giai đoạn cụ thể vàNHNN sẽ can thiệp vào hoạt động này trong điều kiện cụ thể

*Đối với công cụ lãi suất :

Việc điều chỉnh lãi suât cần linh hoạt gắn với thị trường trên nguyên tắcđảm bảo lợi ích của cả người gửi tiền,tổ chức tín dụng và người vay tiền, tạođiều kiện tập trung tối đa các nguồn vốn để tài trợ cho phát triển kinh tế

Do vậy để điều chỉnh lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay một cách phùhợp các tổ chức tín dụng phải căn cứ vào các nhân tố:Lợi nhuận bình quâncủa các doanh nghiệp;sự biến động của quan hệ cung cầu;vốn đầu tư; mức độlạm phát và diễn biến lãi suất trên thị trường

NHNN cần tiếp tục duy trì việc điều chỉnh mức lãi suất tiền gửi và tiềnvay dài hạn cao hơn lãi suất tiền gửi và tiền vay ngắn hạn nhằm huy động vốndài hạn đầu tư cho nền kinh tế Việc xác định lãi suất cho vay dài hạn có tínhđến xu hướng tăng hay giảm lãi suất ngắn hạn trong từng thời kỳ

Trang 36

Việc duy trì các mức lãI suất ưu đãi cho các đối tượng dân cư gặp điềukhó khăn là phù hợp ; tuy vậy chính phủ cần tìm các nguồn ngân sách và cáckênh tài trợ hoạt động này đặt ngoài hoạt động kinh doanh của các NHTMquốc doanh.

Duy trì mức chênh lệch giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoạt tệ một cáchhợp lý ,từng bước giảm dần và đi đến chấm dứt hiện tượng “đô la hoá” trênđất Việt Nam

Trước mắt, trong những tháng đầu năm 2001 nền kinh tế đang có nhữngbiểu hiện thiếu vốn, trong khi đó việc huy động và cung ứng vốn của cácTCTD đang gặp phải một số khó khăn; có ý kiến cho rằng việc NHNN điềuchỉnh lãi suất cơ bản với biên độ như hiện nay là còn rộng, từ đó làm nảy sinhnhững hiện tượng thiếu tích cực trong cạnh tranh giữa các NHTM Do vậy,NHNN có thể nên điều chỉnh giảm biên độ dao động của mức lãi suất cơ bản

Về phía Nhà nước nên có chính sách tài chính phù hợp với các tổ chức tíndụng, các NHTM ở Việt Nam đang phải chịu một tỷ lệ thuế vốn khá cao, dovậy thuế đánh vào các tổ chức tín dụng cần được điều chỉnh lại cho phù hợptheo hướng giảm tỷ lệ thuế hoặc tính thuế trên lợi nhuận trước thuế

Hiện nay chúng ta chưa thể tiến hành tự do hoá lãi suất tuy vậy cần phảihướng theo mục tiêu đó và thực hiện từng bước bởi một lẽ đó là xu hướng tấtyếu và khi đó vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước bằng công cụ lãi suất vẫnđược thể hiện qua sự định hướng theo tín hiệu thị trường

* Đối với công cụ dự trữ bắt buộc :

-Vì dự trữ bắt buộc có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng huy động vàcung ứng tín dụng cho nền kinh tế của các tổ chức tín dụng ,do vậy trong cơchế thị trường thì NHNN cần phải có cơ chế quản lý dự trữ bắt buộc thích hợp

để tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh,bình đẳng giữa các tổ chức tíndụng: nên mở rộng đối tượng áp dụng qui chế dự trữ bắt buộc,tỷ lệ dự trữ bắtbuộc đưa ra phải phù hợp với diễn biến thị trường tiền tệ ,với mục tiêu CSTT

Trang 37

và đặc điểm cụ thể của các tổ chức tín dụng trong toàn bộ hệ thống tổ chức tíndụng ở Việt Nam

- Cần phải có những biệp pháp tăng cường kiểm tra việc chấp hành dựtrữ bắt buộc, đi đôi với việc xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm qui chế

dự trữ để đảm bảo sự lành mạnh của hệ thống tài chính ,ngân hàng thực hiệntốt mục tiêu CSTT

-NHNN nên có các biện pháp khuyến khích các NHTM thực hiện tốt cácqui chế dự trữ như:quy định số tiền phải chịu qui chế dự trữ bắt buộc phùhợp, tiếp tục trả tiền lãi cho số tiền gửi dư thừa của các tổ chức tín dụng vớimức lãi suất phù hợp với khả năng tài chính NHNN

-Trong thời gian trước mắt ,để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ,tỷ lệ dự trữbắt buộc cần phải giảm bớt ở mức độ phù hợp để tạo điều kiện cho cácNHTM thúc đẩy quá trình huy động và cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế

-Trong tương lai, khi thị trường tiền tệ ,thị trường vốn đã phát triển, cáccông cụ khác có thể phát huy tác dụng một cách một cách mạnh mẽ thì ngânhàng Nhà nước nên có dự kiến giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các NHTM

để họ được linh động, mạnh dạn hơn trong hoạt động kinh doanh của mình

* Đối với công cụ cho vay tái chiết khấu:

-Thương phiếu, hối phiếu chính là sự ghi nhận của các quan hệ tín dụngthương mại trong nền kinh tế thị trường ,ở nước ta hiện nay các hình thức tíndụng thương mại đã xuất hiện,doanh số hoạt động mua bán chịu có thờihạn ,giao nhận hàng thanh toán gối đầu giữa các doanh nghiệp là rất lớn Dovậy cần thúc đẩy việc sử dụng rộng rãi các thương phiếu trong các quan hệ tíndụng thương mại Muốn vậy nó cần phải có một cơ sở pháp lý đảm bảo ,trướcmắt đó là việc xúc tiến các hoạt động để đưa pháp lệnh thương phiếu (hiệu lực

từ 1/7/2000) đi vào thực tiễn

Trang 38

-NHNN nên có cơ chế phù hợp để kiểm soát một cách chặt chẽ các dự áncho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu vì điều này nó ảnh hưởng quan trọng tớihiệu quả việc điều chỉnh mức cung tiền

-Nên xoá bỏ tình trạng bao cấp trong thực hiện cho vay chiết khấu vànên mở rộng đối tượng được vay chiết khấu để phát huy vai trò “người chovay cuối cùng” của NHNN và đảm bảo sự ổn định, lành mạnh của hệ thốngngân hàng

- Phát triển thị trường nội tệ liên ngân hàng (qui mô,chất lượng) đểNHNN có cơ sở chính xác hơn trong việc định ra mức lãi suất cho vay táichiết khấu ,tạo ra tín hiệu tốt đối với hoạt động kinh doanh của cácNHTM Mặt khác ,cùng với xu hướng tự do hoá lãi suất thì vai trò của mứclãi suất tái chiết khấu sẽ ngày càng tăng lên ,trở thành một công cụ gián tiếpđiều tiết lãi suất thị trường một cách hữu hiệu ,thúc đẩy sự phát triển kinh tế

* Đối với công cụ nghiệp vụ thị trường mở:

Phải phát triển thị trường mở theo hướng đưa nó trở thành một công cụhữu hiệu ,linh hoạt nhất của CSTT ở Việt Nam.Muốn vậy cần phải:

-Theo dõi ,tính toán ,dự đoán vốn khả dụng của các ngân hàng ,diễn biếnlạm phát lãi suất ,đầu tư để trên cơ sở đó NHNN có quyết định can thiệp vàothị trường mở như thế nào (mua bán tín phiếu) ,với lượng là bao nhiêu

-NHNN cần có các quy định rõ về các công cụ, đối tượng tham gia thịtrường mở và linh hoạt trong cơ chế mua bán tại thi trường mở

-Thúc đẩy quá trình tạo hàng hoá cho nghiệp vụ thị trường mở: làm đại

lý phát hành tín phiếu ,trái phiếu kho bạc, phát hành tín phiếu NHNN, chophép NHTM phát hành các loại chứng chỉ tiền gửi Muốn vậy NHNN phảInắm được ( quản lý) được các hoạt động này đồng thời tạo ra tính “thanhkhoản”, hấp dẫn cao của các công cụ trên thị trường mở

-Có cơ chế thích hợp, để khuyến khích các tổ chức tín dụng coi nghiệp

vụ thị trường mở là một “thói quen” trong hoạt động của họ

Trang 39

-Để thị trường mở hoạt động có hiệu quả cần có sự phát triển đồng bộcủa các thị trường khác đặc biệt là thị trường tiền tệ liên ngân hàng và thịtrường thứ cấp

Trang 40

Kết luận

Như vậy, chính sách tiền tệ, đặc biệt là các công cụ của nó có vài trò rấtquan trọng trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế Việt Namnói riêng Việc sử dụng các công cụ đó như thế nào sẽ có ảnh hưởng rất lớntới sự phát triển của nền kinh tế ở từng thời điểm cụ thể

ở Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trườngthì việc áp dụng các công cụ của CSTT luôn đòi hỏi phải có sự phù hợp, hiệuquả Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới việc áp dụng các công cụ điềutiết trực tiếp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát vàthúc đẩy trưởng kinh tế Tuy vậy thời gian gần đây chúng đã bộc lộ rõ nhữnghạn chế khi nền kinh tế bước sang một giai đoạn phát triển mới Trong khi đócác công cụ điều chỉnh gián tiếp mới được đưa vào sử dụng và chưa thực sựphát huy hết, hoặc chưa thể hiện rõ vai trò của nó do nhiều nguyên nhân gắnvới thực lực của nền kinh tế

Từ đó đòi hỏi chúng ta phải có những định hướng và giải pháp đúngtrong việc hoàn thiện các công cụ đó Để có được điều này, bên cạnh sự địnhhướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, cần phải có sự phát triển đồng bộ vềnăng lực NHNN, hệ thống NHTM và nhiều sự phối hợp đồng bộ khác

Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu về các công cụ của chính sách tiền tệ ởViệt Nam phải được coi là cả một quá trình lâu dài và cần được tiếp tục pháttriển về sau

Môc lôc

T rang

Ngày đăng: 25/01/2014, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu 2: Tình hình thực hiện hạn mức TD tín dụng (1995-1998). - Tài liệu Báo cáo tốt nghiệp "Các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" doc
i ểu 2: Tình hình thực hiện hạn mức TD tín dụng (1995-1998) (Trang 60)
Tình hình tăng trởng kinh tế (G6DP) của Việt Nam Năm C    chỉ tiêu9192939495 96 97 98 992 73.439 6,7  2000 - Tài liệu Báo cáo tốt nghiệp "Các công cụ của chính sách tiền tệ ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" doc
nh hình tăng trởng kinh tế (G6DP) của Việt Nam Năm C chỉ tiêu9192939495 96 97 98 992 73.439 6,7 2000 (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w