Kế thừa nội dung quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp 1993Luật PS DN 1993, Luật PS 2004 vẫn tiếp tục dành cho các chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và người lao động
Trang 1I Đặt vấn đề
Cũng như pháp luật phá sản của các nước khác trên thế giới, Luật phá sản của Việt Nam quan tâm trước hết đến quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của các chủ nợ, của người lao động và của doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản Kế thừa nội dung quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp 1993(Luật PS DN 1993), Luật PS 2004 vẫn tiếp tục dành cho các chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và người lao động được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản còn chủ doanh nghiệp hoặc đại người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Ngoài ra, Luật phá sản còn bổ sung quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước, các cổ đông công
ty cổ phần và thành viên hợp danh của công ty hợp danh
Để góp phần hiểu hơn về các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, em xin chọn đề tài :’’Bình luận các quy định pháp luật hiện hành về chủ thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản’’
II Giải quyết vấn đề
1 Thời điểm phát sinh quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sẽ xuất hiện khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản Vậy khi nào doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản theo pháp luật Việt Nam? Theo quy định tại khoản 1 các điều 13, 14, 15, 16, 17 và điều 18 Luật phá sản: ‘’Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản ’’ chủ
nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một phần (Điều 13); người lao động (Điều 14); đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước (Điều 16); các cổ đông
Trang 2công ty cổ phần (Điều 17); thành viên hợp danh Công ty hợp danh đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó; chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó
Việc xác định chính xác thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là rất quan trọng, không chỉ đối với chính doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, mà còn đối với các chủ nợ, với người lao động và những người có quyền nộp đơn khác Nếu nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sớm sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu, họ sẽ bị mất bạn hàng, giảm uy tín, nếu không có sự can thiệp kịp thời có thể do hậu quả đó mà dẫn họ đến tình trạng phá sản thực sự Nhưng nếu nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản muộn sẽ dẫn đến tình trạng lẽ ra doanh nghiệp, hợp tác xã có thể phục hồi được lại không được hưởng lợi từ việc áp dụng thủ tục phục hồi, doanh nghiệp, hợp tác xã không còn tài sản, chủ nợ, những người liên quan không còn khả năng thu hồi tốt nhất khoản nợ của mình Để xác định chính xác thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, cần thiết phải làm rõ khái niệm tình trạng phá sản theo pháp luật Việt Nam
Theo quy định tại pháp luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 thì:’’Doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn’’ Với những điều kiện này, theo chúng tôi, thời điểm hội đủ dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là quá muộn Khi đủ điều kiện để Tòa án thụ lý đơn, giải quyết yêu cầu của người nộp đơn thì chỉ còn mỗi việc là thanh lý tài sản, các khoản nợ và tuyên bố doanh
Trang 3nghiệp bị phá sản Luật phá sản năm 2004 đã quy định một cách mềm dẻo, đủ điều kiện xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản sớm hơn Theo
đó, ‘’Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì là lâm vào tình trạng phá sản’’ Theo quy định này, doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản chỉ cần có các dấu hiệu sau:
- Có khoản nợ đến hạn phải thanh toán;
- Khi có chủ nợ yêu cầu;
- Không có khả năng thanh toán được các khoản nợ này
Tuy nhiên, quy định này cũng có những cách hiểu khác nhau, gây tranh cãi và mâu thuẫn với nhau, khiến cho khó xác định chính xác và thống nhất thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
a Không có khả năng thanh toán được các khoản nợ
Cách hiểu thứ nhất cho rằng, không có khả năng thanh toán là điều kiện bắt buộc
và khi nộp đơn người nộp đơn phải chứng minh được doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán, không còn tài sản, không có nguồn tài chính cần thiết đủ để thanh toán các khoản nợ đến hạn
Cách hiểu thứ hai thì doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi không thanh toán khoản nợ đến hạn bất kể lý do gì Do vậy, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì chủ
nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Nếu cho rằng doanh nghiệp, hợp tác xã mình chưa lâm vào tình trạng phá sản thì doanh nghiệp, hợp tác xã phải chứng minh những lý do chưa thanh toán các khoản nợ đến hạn
Trang 4Hai cách hiểu theo hai dấu hiệu khác nhau Cách hiểu thứ nhất theo dấu hiệu nội dung: phải có đủ cơ sở chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã đó lâm vào tình trạng phá sản Cách hiểu thứ hai theo dấu hiệu hình thức: doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán các khoản nợ vì bất kể lý do gì và nghĩa vụ chứng minh thuộc về chính doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ
b Thời hạn không thanh toán
Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 thì sau thời hạn 30 ngày, kể từ ngày gửi giấy đòi nợ đến hạn mà không được doanh nghiệp thanh toán nợ, chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn đến Tòa án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Tuy nhiên, luật phá sản năm 2004 không quy định về thời hạn nộp đơn mà chỉ quy định ‘’khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó (điều 13 khoản 1) Tương tự, quyền và nghĩa vụ nộp đơn được quy định tại các điều 14, 15, 16, 17 và
18 đều có chung một dấu hiệu là ‘’khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản ’’
Như vậy, khác với luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, luật phá sản năm 2004 chỉ quy định dấu hiệu doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà không quy định một thời hạn cụ thể Nếu chỉ theo dấu hiệu xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản như tiêu chí của Luật phá sản năm 2004 thì dấu hiệu đó có thể sớm, có thể muộn và như vậy sẽ dẫn đến việc áp dụng pháp luật tùy tiện
Trang 5Theo chúng tôi, tuy Điều 3 Luật phá sản năm 2004 không quy định thời hạn không
có khả năng thanh toán là bao lâu nhưng không nên máy móc áp dụng ngay sau khi quá hạn và đã có yêu cầu tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã đó lâm vào tình trạng phá sản Yêu cầu thanh toán của chủ nợ ở đây cần đươc hiểu là yêu cầu này được đưa ra sau khi hết hạn thanh toán và định một thời hạn cho doanh nghiệp, hợp tác
xã mắc nợ thanh toán Sau khi hết thời hạn này thì mới phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Nếu trong hợp đồng hoặc tại văn bản xác nhận nợ, hai bên có thỏa thuận, định thời hạn được chậm thanh toán thì chỉ qua thời hạn chậm này và chủ nợ đã yêu cầu thanh toán nhưng không được thanh toán thì mới phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản
c.Thời điểm nộp đơn và tổng số chủ nợ, tổng số nợ
Vấn đề tiếp theo để xác định chính xác thời điểm nộp đơn là có hay không cần thiết việc xác định tổng số chủ nợ, tổng số nợ
Khái niệm về tình trạng phá sản tại Điều 3 luật phá sản năm 2004 chỉ nêu đến các khoản nợ đến hạn, không nói đến số nợ đó có giới hạn là bao nhiêu và bao nhiêu chủ nợ Quy định này cũng gây không ít khó khăn trong thực tiễn áp dụng, bởi khái niệm tình trạng phá sản là khái niệm quan trọng quyết định của một quá trình tiến hành thủ tục phá sản Theo pháp luật các nước, tình trạng phá sản được quan niệm rất khác nhau Có nước căn cứ vào dòng tiền mặt của doanh nghiệp khi không có tiền để thanh toán được một khoản nợ nhất định Có nước xác định tình trạng phá sản khi cân đối giữa tổng các khoản nợ và tổng tài sản của doanh nghiệp Khi nào tổng số nợ nhiều hơn tổng tài sản có của doanh nghiệp thì doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản
Trang 6Vậy các khoản nợ đến hạn cần được hiểu như thế nào Xuất phát từ đây có quan điểm cho rằng phải có ít nhất là hai khoản nợ và phải có từ hai chủ nợ trở lên thì Tòa án mới nhận đơn và xem xét khả năng có thụ lý đơn và mở thủ tục phá sản hay không Nếu chỉ có một chủ nợ nộp đơn thì Tòa án không nhận đơn, Tòa án chỉ nhận đơn khi có hai chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trở lên và khi đó Tòa án không cần thiết phải xem xét mỗi chủ nợ có số nợ là bao nhiêu Quan niệm này dẫn đến tình trạng các chủ nợ phải rủ nhau hoặc thông báo cho nhau, liên kết với nhau để chống lại doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ Đây cũng là nội dung cần xem xét hướng dẫn thi hành hoặc có những qui định chi tiết, cụ thể hơn Nếu chỉ có một chủ nợ thì chủ nợ đòi theo thủ tục dân sự Quan điểm thứ hai xuất phát từ khái niệm tình trạng phá sản quy định quy định tại Điều 3, luật phá sản, luật không yêu cầu số nợ là bao nhiêu và bao nhiêu chủ nợ Do vậy, khi chủ nợ có khoản nợ đến hạn không được thanh toán mặc dù đã có yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ thanh toán thì chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và Tòa án phải nhận đơn Ủng hộ quan điểm này có ý kiến cho rằng, dù chỉ có một khoản nợ nhưng khi quá hạn không thanh toán thì nợ gốc, lãi phát sinh và còn cả việc bồi thường thiệt hại, cho nên được hiểu đó là ‘’các khoản nợ’’
Trên thực tế, không ai muốn đòi nợ theo thủ tục phá sản bởi thủ tục vừa kéo dài mà khoản nợ đòi được không biết sẽ là bao nhiêu % Nếu chỉ có một chủ nợ thì chủ nợ
đó sẽ đòi nợ theo thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự ( tại Tòa kinh tế hoặc Tòa dân sự) Trường hợp các chủ nợ độc lập với nhau thì các chủ nợ sẽ đòi bằng các vụ án dân sự Do vậy, đây cũng là nội dung cần được hướng dẫn và khi có điều kiện thì quy định rõ và cụ thể hơn
d.Về thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trang 7Cũng như các quy định về quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khoản 1 Điều 15 quy định:’’1.Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp, hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác
xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã đó’’ So với những đối tượng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ hơn ai hết là người hiểu được tình trạng thực của doanh nghiệp, hợp tác xã mình
Do vậy, nếu ý thức được lợi ích của việc nộp đơn xin tự nguyện phá sản thì doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ sớm nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản Tuy nhiên, Luật không định ra một thời hạn cụ thể thì còn rất nhiều lý do để cho chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn đúng thời hạn Theo chúng tôi, khi quy định nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì cần phải quy định thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ đó, như vậy mới đảm bảo được hiệu lực của điều luật
Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 cũng không định ra một thời hạn cụ thể đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, mà chỉ quy định:’’Trong trường hợp
đã thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn về mặt tài chính để thanh toán các khoản nợ đến hạn, kể cả hoãn nợ mà doanh nghiệp vẫn không thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải nộp đơn đến Tòa án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp’’ (Điều 9) Theo chúng tôi , cần quy định thời điểm phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ doanh nghiệp, đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp
Trang 8tác xã đã lâm vào tình trạng phá sản sớm hơn thời điểm phát sinh quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
2 Người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 quy định 3 đối tượng có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp, đó là chủ nợ không có bảo đảm và chủ
nợ có bảo đảm một phần (Điều 7); người lao động (Điều 8) và chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (Điều 9) Theo luật phá sản năm 2004, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định cho chủ nợ; người lao động; chủ doanh nghiệp, hợp tác xã; đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước;
cổ đông công ty cổ phần; thành viên hợp danh công ty hợp danh; doanh nghiệp, hợp tác xã khi lâm vào tình trạng phá sản thì có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Như vậy, so với Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, Luật phá sản năm 2004 đã mở rộng đối tượng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, ngoài chủ
nợ, người lao động, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc đại diện hợp pháp của họ còn có chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước (Điều 16), cổ đông công ty cổ phần (Điều 17) và thanh viên hợp danh công ty hợp danh
a Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ
Khoản 1 Điều 13 Luật phá sản năm 2004 quy định:’’Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ không có bảo đảm, hoặc có bảo đảm một phần đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó’’
- Khái niệm chủ nợ: Theo pháp luật về phá sản, chủ nợ sẽ được hiểu rộng, nguyên nhân trở thành chủ nợ đa dạng hơn, và mối quan hệ giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ cũng phong phú hơn, không đơn thuần chỉ là quan hệ giữa
Trang 9người cho vay và người vay Tuy nhiên, kết cục cũng là một bên có khoản nợ không thanh toán (không có khả năng thanh toán) cho bên được thanh toán Theo quy định của Luật phá sản, chỉ có chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền làm đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
- Chủ nợ có bảo đảm một phần: Chủ nợ có bảo đảm một phần là chủ nợ có khoản
nợ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ ba
mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó (khoản 2 điều 6 Luật phá sản) Thông thường khi áp dụng biện pháp bảo đảm, các bên thỏa thuận bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ theo hợp đồng, nhưng khoản nợ có bảo đảm một phần vẫn luôn diễn ra Nguyên nhân là do: khi thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, các bên thỏa thuận bằng một số tiền cụ thể, một tài sản nhỏ hơn; mặc dù lúc ký kết hợp đồng, khi thiết lập quan hệ các bên thỏa thuận bảo đảm 100% nghĩa
vụ hoặc cao hơn để bảo đảm, phòng ngừa rủi ro, nhưng trogn quá trình thực hiện nghĩa vụ, tài sản bị giảm giá hoặc một trong những tài sản bảo đảm bị mất đi do những lý do khách quan
- Chủ nợ không có bảo đảm: chủ nợ không có bảo đảm là chủ nợ có khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc của người thứ
ba Khoản nợ không có bảo đảm thường phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thông qua các hợp đồng
Như vậy, Luật phá sản năm 2004 cũng thống nhất với Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 về thành phần chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản: đó
là chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần Quy định này tạo điều kiện cho các chủ nợ không có sự bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có
Trang 10cơ hội lựa chọn một thủ tục thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
Luật chỉ phân biệt chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ không bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần (Điều 6) Các chủ nợ khác nhau thì có địa vị pháp lý khác nhau trong thủ tục phá sản Chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ không có bảo đảm có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong quá trình tham gia vào thủ tục phá sản Điều này thấy rõ trong so sánh về quyền và nghĩa vụ giữa chủ nợ có bảo đảm và chủ nợ không có bảo đảm
Về nguyên tắc, Luật phá sản 2004 đã thể hiện tinh thần bảo vệ lợi ích của chủ nợ
có bảo đảm triệt để hơn so với chủ nợ không có bảo đảm Đó là lẽ đương nhiên Nếu lợi ích của chủ nợ không có bảo đảm không được bảo vệ trong thủ tục phá sản thì bản thân chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Bộ luật Dân sự sẽ không còn
ý nghĩa Tuy nhiên một số quy định của Luật phá sản 2004 không phù hợp với tinh thần chủ đạo đó Cụ thể, ngay từ khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì quyền được thanh toán nợ đến hạn của chủ nợ có bảo đảm đã bị hạn chế – bị tạm đình chỉ cho đến khi có quyết định thanh lý tài sản (Điều 27, Điều 35), trừ trường hợp được Tòa án cho phép Trong khi đó, các chủ nợ không có bảo đảm vẫn có thể được thanh toán các khoản nợ đến hạn của mình sau khi có quyết định thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.Việc thanh toán các khoản nợ không có bảo đảm chỉ bị cấm sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 31)
Chúng tôi cho rằng quy định này là không hợp lý, thủ tục phá sản là một phương thức đòi nợ đặc biệt, việc không cho chủ nợ có bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã làm mất đi quyền lựa chọn phương thức đòi nợ hữu hiệu này của chủ nợ có bảo đảm Việc cho phép các chủ nợ có bảo đảm nộp đơn yêu cầu mở thủ