MẠNG XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP. HỒ CHÍ MINH A. PHẦN MỞ ĐẦU ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Tổng quan tư liệu: Thế giới Internet đã cách mạng hoá phương thức con người kết nối với nhau. Internet tại Việt Nam được coi như chính thức bắt đầu từ cuối năm 1997, nói đúng hơn là ngày 19 tháng 11 năm 1997 là ngày Việt Nam được hoà vào mạng Internet toàn cầu. Ngoài tìm kiếm thông tin, quản lý dữ liệu... Internet còn phát triển về mạng xã hội. Dịch vụ mạng xã hội (Socical Networking Service – SNS) là dịch vụ nối kết các cá nhân, thành viên cùng sở thích, cùng mối quan tâm... trên Internet lại với nhau thành một cộng đồng mạng xã hội với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Những người tham gia vào dịch vụ mạng xã hội còn được gọi là cư dân mạng. Dịch vụ mạng xã hội có rất nhiều tính năng như là chat, email, phim ảnh, âm nhạc, voice chat, chia sẻ file, blog, xã luận... Ở mạng xã hội, các cư dân mạng đổi mới hoàn toàn cách liên kết với nhau, không cần phải gặp gỡ trực tiếp hoặc chủ yếu trao đổi thông qua điện thoại khó khăn, tốn kém như trước kia và mạng xã hội đã dần trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên trên khắp thế giới. Các dịch vụ ở mạng xã hội các thành viên có nhiều phương cách để tìm kiếm bạn bè, đối tác... như: Dựa vào group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố). Dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ email hoặc screen name). Dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán... Hiện nay trên thế giới đang có hàng trăm dịch vụ mạng xã hội khác nhau. Nếu phân chia tầm ảnh hưởng của mạng xã hội theo khu vực thì: ở thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu nổi tiếng nhất là MySpace và Facebook, ở Nam Mỹ nổi bật với Orkut, ở châu Á
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH KHOA XÃ HỘI HỌC - CÔNG TÁC XÃ HỘI - ĐÔNG NAM Á.
Đề tài nghiên cứu:
MẠNG XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN - NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
(CƠ SỞ NGUYỄN KIỆM)
Giảng viên Hướng dẫn: ThS Lê Minh Tiến.
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Ngọc Hương 1656010043.
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP.
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 12 NĂM 2019.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TP: Thành phố
Trang 3A PHẦN MỞ ĐẦU - ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tư liệu:
Thế giới Internet đã cách mạng hoá phương thức con người kết nối với nhau
Internet tại Việt Nam được coi như chính thức bắt đầu từ cuối năm 1997, nói đúng hơn là ngày 19 tháng 11 năm 1997 là ngày Việt Nam được hoà vào mạng Internet toàn cầu Ngoài tìm kiếm thông tin, quản lý dữ liệu Internet còn phát triển về mạng xã hội
Dịch vụ mạng xã hội (Socical Networking Service – SNS) là dịch vụ nối kết các cá nhân, thành viên cùng sở thích, cùng mối quan tâm trên Internet lại với nhau thành một cộng đồng mạng xã hội với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Những người tham gia vào dịch vụ mạng xã hội còn được gọi là cư dân mạng
Dịch vụ mạng xã hội có rất nhiều tính năng như là chat, e-mail, phim ảnh, âm nhạc, voice chat, chia sẻ file, blog, xã luận Ở mạng xã hội, các cư dân mạng đổi mới hoàn toàn cách liên kết với nhau, không cần phải gặp gỡ trực tiếp hoặc chủ yếu trao đổi thông qua điện thoại khó khăn, tốn kém như trước kia và mạng xã hội đã dần trởthành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên trên khắp thế giới Các dịch vụ ở mạng xã hội các thành viên có nhiều phương cách để tìm kiếm bạn bè, đối tác như:
Dựa vào group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố)
Dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name)
Dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán
Hiện nay trên thế giới đang có hàng trăm dịch vụ mạng xã hội khác nhau Nếu phân chia tầm ảnh hưởng của mạng xã hội theo khu vực thì: ở thị trường Bắc Mỹ và Tây
Trang 4Âu nổi tiếng nhất là MySpace và Facebook, ở Nam Mỹ nổi bật với Orkut, ở châu Á
và các đảo quốc Thái Bình Dương thu hút bởi Friendster Bên cạnh đó, những dịch
vụ mạng xã hội khác cũng gặt hái được thành công đáng kể theo vùng miền như Bebo tại Anh Quốc, CyWorld tại Hàn Quốc, Mixi tại Nhật Bản, Sina Weibo và Tencent Weibo tại Trung Quốc và tại Việt Nam xuất hiện nhiều dịch vụ mạng xã hội như: Zalo, Zing Me, Yume, Tamtay
(Theo Wikipedia Việt Nam)
Theo “Làm giàu từ mạng xã hội” của tác giả Patrice - Anne Rutledge (Ngô Lan Hương dịch) cho rằng:
Mạng xã hội chỉ là một phần của Web 2.0, thế hệ tiếp nối của các Website và dịch
vụ nhấn mạnh vào sự hợp tác và kết nối Mặc dù các chuyên gia vẫn tiếp tục tranh luận về định nghĩa chính xác của Web 2.0, nhưng có một điều chắc chắn là: Các trang mạng xã hội, blog và wiki vẫn đang kết nối thế giới trực tuyến như chưa từng thấy trước đây Web 2.0 đã thay đổi cách cả thế giới giao tiếp, hợp tác, kết nối và sự phát triển này vẫn đang tiếp diễn Mạng xã hội đã tạo được rất nhiều sự chú ý, thu hút các phương tiện truyền thông đại chúng và những buổi đàm luận trong vài năm trở lại đây
Ở Việt Nam cách đây hơn ba mươi năm, khi mà mọi hoạt động giao tiếp, tương tác của con người chủ yếu là thông qua điện thoại hoặc trực tiếp gặp gỡ nhau, rất khó khăn và tốn kém thì sự ra đời của Internet như thổi một luồng gió mới thổi đời sống sinh hoạt của con người Và với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học thông tin, đặc biệt là sự có mặt của Internet là một trong những đặc trưng nổi bật của xã hội hiện đại Có thể nói rằng Internet như “đôi hia bảy dặm” phát triển và xâm nhập hầu như là mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội từ kinh tế, văn hoá, chính trị, nghệ thuật cho đến sản xuất, buôn bán, học tập, giải trí Đặc biệt với giới trẻ là những con người năng động, cởi mở với thế giới bên ngoài nên họ là những người tiếp cận với Internet sớm nhất và nhanh nhất Tuy nhiên, bên cạch một bộ phận giớitrer biết tận dụng những tiện ích từ Internet để làm giàu vốn hiểu biết và tìm kiếm được nhiều cơ hội như việc làm, du học, học bổng cho bản thân thì cũng
Trang 5không ít người trong số họ đang ngày càng lạm dụng Internet một cách quá mức làm ảnh hưởng đến học tập, công việc, sức khoẻ, thời gian, tiền bạc, thậm chí gây nên những vụ ẩu đả, chém giết lẫn nhau làm mất trật tự an ninh xã hội Trong bài nghiên cứu này nhóm chọn mạng xã hội và đại diện của giới trẻ là sinh viên, ảnh hưởng đến học tập - hoạt động chính yếu của sinh viên.
(Tham khảo đề tài nghiên cứu “Tìm hiểu tình hình sử dụng Internet của một bộ phận giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh” - Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Xã hội học 2005, Trường Đại học Mở TPHCM, sinh viên thực hiện Đặng Thị Minh
Nguyệt)
Nghiên cứu về “Hội chứng nghiện mạng xã hội” - sinh viên Nguyễn Đình Toàn - lớp Cao học của Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Bài nghiên cứu này nhận định rằng: “Nghiện mạng xã hội thực chất là một kiểu lạm dụng, sử dụng mạng thành thói quen một cách có hệ thống và tâm lý bị lệ thuộc vào mạng Đây cũng là một bệnh lý về tâm thần Công nghệ thông tin ở các thành phố lớn phát triển, việc vào mạng một cách dễ dàng như hiện nay là “chất xúc tác” cho sinh viên
- những người nắm công nghệ thông tin, dễ vướng vào tình trạng nghiện”
(http://yume.vn/mitsumilu/article/nghien-mang-xa-hoi-co-nen-hay-khong.35D02A8F.html)
Nghiên cứu Social integration and informal learning at university: “it's more for socialising and talking to friends about work than for actually doing work” cho thấyrằng: hơn 95% sinh viên học sinh ở Anh Quốc thường xuyên sử dụng các hệ thống mạng lưới xã hội, chúng ta vẫn biết rất ít việc hiện tượng này ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của sinh viên và đặc biệt nó ảnh hưởng như thế nào đến sự hội nhập xã hội của sinh viên vào đời sống trường đại học, vào hoạt động học tập của sinh viên Trong bài nghiên cứu này có phát triển thảo luận về các công cụ mạng xã hội được sử dụng có tác động như thế nào đến việc học và tham gia xã hội của sinh viên
(Tham khảo đề tài: “Sinh viên và mạng xã hội Facebook: một phân tích về sự tiến triển vốn xã hội” - Khảo sát tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và
Trang 6Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông – Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học, năm 2014, trường Đại học Khoa học-xã hội-nhân văn tác giả Đoàn Thùy Dương).
Trong cuốn “Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hoá xã hội ở ViệtNam” của tác giả Bùi Thanh Sơn, ông đã đưa ra ý kiến sau:
“Bất kì một công nghệ nào cũng có ảnh hưởng nhất định đối với văn hoá - xã hội Những thay đổi ấy không chỉ dừng lại ở những biểu hiện bên ngoài xã hội hay con người, mà nó còn thấm sâu, làm thay đổi bản chất của xã hội cũng như chính đời sống tâm lý, thói quen của mỗi người Nó khiến cho xã hội chuyển động nhanh hơn
và các khoảng các xã hội được thu hẹp hơn rất nhiều, những giá trị xã hội cũng đang trong quá trình biến đổi”
Điều đó nghĩa là sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông, mạng xã hội đã làmthay đổi thế giới, đặc biệt trong những hoạt động thường nhật của con người
Những tác động nó đã tạo ra những biến đổi về văn hoá - xã hội trên toàn thế giới.Điển hình như sự lên ngôi của trang mạng xã hội Facebook tại Việt Nam, khi nó xuất hiện thì ngay lập tức được đưa vào tầm ngắm của hàng triệu người Giới trẻ đón nhận và khai thác Facebook, trong đó có sinh viên Khi sự phát triển mạnh mẽ của Facebook về cả chiều rộng lẫn chiều sâu là điều ai cũng có thể nhận biết được, đặc biệt là những người sử dụng Facebook, xem Facebook như một phần không thể thiếu trong những hoạt động thường nhật, một thói quen không kiểm soát nổi
Về những ảnh hưởng của mạng xã hội đối với cuộc sống hằng ngày, Hãng Cisco đã tiến hành nghiên cứu với 2.800 người dùng (độ tuổi dưới 30) tại 14 quốc gia trên thế giới Kết quả cuộc nghiên cứu này kết luận mạng xã hội ngày càng trở nên quan trọng đối với các công dân trẻ “không kém gì không khí, nước uống” Cisco gọi đó
là phong cách sống 2.0, cụ thể trong khi những thế hệ trước thích việc gặp gỡ tiến hành các giao lưu xã hội, thì các thế hệ hiện nay đang đưa ra một cách thức mới hướng nhiều hơn đến các giao lưu trực tuyến Nghiên cứu cho thấy trong bốn sinh viên được hỏi thì có hơn một người (khoảng 27%) nói rằng việc sử dụng và duy trì cập nhật thông tin trên Facebook quan trong hơn tiệc tùng, hẹn hò và nghe nhạc,
Trang 7thậm chí ra ngoài với bạn bè Có khoảng 9/10 sinh viên (91%) và nhân viên (88%) nói rằng họ có tài khoản trên Facebook, trong số đó 81% sinh viên và 73% nhân viên cập nhật và kiểm tra trang Facebook ít nhất một lần mỗi ngày và 33% kiểm tra
ít nhất năm lần một ngày
Theo dự đoán của các nhà phân tích thị trường, lượng người tham gia mạng xã hội vẫn sẽ tiếp tục tăng lên trong tương lai, nhất là khi mạng xã hội đang được tích hợp vào rất nhiều trang Web hay các ứng dụng và đang dần trở thành một xu thế không thể thiếu của cuộc sống hiện nay, thì liệu sinh viên có còn “tỉnh táo” để làm chủ bảnthân không bị sa đoạ vào mạng xã hội và biết cách sử dụng những tính năng của Facebook nói riêng và mạng xã hội nói chung theo hướng tích cực hay vào mục đích chính của sinh viên là học tập
(https://congnghe.tuoitre.vn/mang-xa-hoi-quan-trong-hon-tiec-tung-ho-hen-540361.htm)
Prof Dr BahireEfe (2012) với tác phẩm “Thái độ của sinh viên Đại học đối với việc sử dụng mạng xã hội” ở Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy phần lớn sinh viên cảm thấy vui khi sử dụng mạng xã hội và họ dành khá nhiều thời gian trong một ngày để sử dụng mạng xã hội, việc sử dụng mạng xã hội để giải trí, giao tiếp, học tập với học khá dễ dàng
Tại Ấn Độ với bài viết: Nghiên cứu để nâng cao hiểu biết về mạng xã hội - trung tâm nghiên cứu về việc sử dụng mạng xã hội ở Ấn Độ đã tìm hiểu về nhận thức mạng xã hội và hành vi sử dụng Qua bài viết tác giả nhận ra được những kẽ hở của mạng xã hội từ đó có thể khai thác và phân tích những yếu tố tiêu cực và tích cực của mạng xã hội từ đó có những đề xuất cải tiến thích hợp Facebook là mạng xã hộiphổ biến nhất ở Ấn Độ (93.26% người sử dụng mạng xã hội) Điều được yêu thích nhất ở Facebook đó là sử dụng dễ dàng, giao diện thân thiện với người dùng
(46.07%) Tiếp đó là khả năng chia sẻ và kết nối người dùng (43.82%) Điều không thích ở Facebook đó là tính riêng tư (29.21%)
Asnat Dor & Dana Weimann-Saks (2012), trường Cao đẳng học viện Kinnerer tại Israel đã nghiên cứu việc sử dụng mạng xã hội ở học sinh: thái độ, hành vi và nhận
Trang 8thức Nghiên cứu đã phân tích nhóm học sinh 13 tuổi ở Israel Các phân tích đi sâu vào các khía cạnh trong cuộc sống hàng ngày của học sinh ở gia đình và ở trường Giữa mối quan hệ cha mẹ con cái và việc sử dụng mạng xã hội trước hay sau cha
mẹ và thường thì chúng được ưu tiên sử dụng máy tính gia đình như một công cụ hỗtrợ học tập đắc lực Nhưng phần lớn nhóm học sinh này sử dụng máy tính để sử dụng mạng xã hội để kết bạn, lập nhóm hội,…Trong đó nghiên cứu sự quan sát của cha mẹ học sinh với hành vi, thái độ và nhận thức của học sinh
Bài viết "Nghiên cứu về hành vi sử dụng Facebook của con người - một thách thức mới cho tâm lí học hiện đại" của tác giả Đào Lê Hòa An đã chỉ ra việc sử dụng mạng xã hội hiện nay là một tất yếu, khi mà với sự phát triển nhanh chóng của côngnghệ và internet này, sự tiếp cận với Facebook trở nên dễ dàng và sức hút ngày cànglớn với những gì nó hấp dẫn giới trẻ và những lợi ích của nó mang lại tuy nhiên, việc lạm dụng mạng xã hội đã và đang để lại rất nhiều hệ lụy và tác hại khôn lường.Tác giả Nguyễn Thị Hậu (2010), với bài viết “Mạng xã hội với lối sống của giới trẻ Thành phố Hồ Chí Minh” cho rằng: mạng xã hội với sự xuất hiện với những tính năng đa dạng, nguồn thông tin phong phú đã cho phép người dùng hiện nay có thể tiếp nhận, cũng như chia sẽ và chọn lọc thông tin một cách dễ dàng không phân biệtkhó khăn về không gian cũng như thời gian Nó giúp nâng cao vai trò của mỗi người công dân trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung trong những cộng đồng thúc đẩy sự liên kết các tổ chức xã hội Tác giả đã nêu rõ ảnh hưởng của mạng xã hội đến lối sống giới trẻ TP Hồ Chí Minh hiện nay, thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, mục đích và hình thức sử dụng mạng xã hội góp phần giúp các bạn trẻ có thể cải thiện được việc sử dụng mạng xã hội của mình
Tác giả Nguyễn Văn Thọ (2011) có viết bài: “Suy nghĩ về tính tự chủ của học sinh trong thời đại thông tin và truyền thông đa phương tiện” Trong đó đã đề cập đến việc sự du nhập và sử dụng truyền thông đa phương tiện như hiện nay, các nhà tâm
lý đang nhìn về khía cạnh cảm xúc và hành vi Các phương tiện truyền thông đa phương tiện là biểu hiện của sự phát triển công nghệ của nên văn minh hiện đại Với
Trang 9tác dụng vô cùng to lớn của nó, nhiều người, nhất là thanh niên đã bị ảnh hưởng rất nhiều vào cuộc sống hàng ngày, trở thành công cụ đắc lực phục vụ công việc của họ… Bản thân Internet là tốt nhưng mạng xã hội có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực do bản thân chính mỗi chúng ta sử dụng.
Đề tài “Nhu cầu sử dụng mạng xã hội của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Thái Bình” luận văn Thạc sỹ Tâm lý học của Đặng Thị Nga (2013) đã khái quát chung về tình hình sử dụng mạng xã hội của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình Qua nghiên cứu đề tài đã chỉ ra rằng, mạng xã hội trong xã hội ngày nay đóng một vai trò to lớn trong đời sống của mỗi người và có ảnh hưởng lớn đối với hoạt động sống
-và học tập của sinh viên
(Tham khảo đề tài “Hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Hải Dương” - sinh viên Nguyễn Thị Bắc, Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học Xã hội, Năm 2018)
Ngày nay, ở thời đại 4.0 với sự phát triển và tiến bộ của công nghệ khoa học kỹ thuật, thế giới đang thay đổi nhanh chóng từng ngày Đặc biệt hơn nữa là sự bùng
nổ của công nghệ thông tin đã tạo thêm nhiều điều kiện và cơ hội cho con người được giao lưu, liên kết, chia sẻ những sở thích, những sự quan tâm, những ý tưởng hay những việc làm bằng các phương tiện truyền thông hiện đại - nhất là sự phát triển ngày càng đa dạng của Internet, tất nhiên trong đó có các trang mạng xã hội.Mạng xã hội đã cho phép người dùng tiếp nhận, chia sẻ và chọn lọc thông tin một cách có hiệu quả nhờ sự xuất hiện của những tính năng đa dạng, nguồn thông tin phong phú Ở đây, thông tin được truyền tải vượt qua trở ngại về không gian và thời gian, vượt qua khoảng cách giữa các thế hệ Và từ những thuận lợi mà nó manglại, mạng xã hội đã có tác động làm thay đổi nhiều thói quen cũ của con người và hình thành nên những biểu hiện mới của tư duy, lối sống, văn hoá ở một bộ phận khá lớn những người sử dụng
Không thể chối cải rằng đối với sinh viên, những tiện ích mà mạng xã hội mang lại như sử dụng nó trong hoạt động học tập, giao tiếp và cả tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp Như ở mạng xã hội có những trang, những nhóm được lập ra với mục đích
Trang 10giúp đỡ nhau học tập về môn học nào đó (ví dụ như Tiếng Anh, các môn học
chuyên ngành ), qua đó giúp người tham gia nâng cao hiệu quả học tập cũng như chia sẻ kiến thức và tài liệu liên quan đến môn học đó hay đơn giản là sinh viên lập nhóm trên mạng xã hội để cùng nhau trao đổi, chia sẻ, làm bài tập trên lớp, bài tập
về nhà hoặc bài tập nhóm Ngoài học tập, cũng thông qua mạng xã hội mà sinh viên
có thể liên kết hợp tác với nhau thành các nhóm người có cùng sở thích, cùng sự quan tâm để gặp gỡ, trao đổi trên mạng xã hội rồi từ đó tiến tới thực hiện những việc làm, hành động có ý nghĩa tích cực như thành lập các câu lạc bộ để rèn luyện, giải trí, đam mê, chia sẻ sở thích chung với nhau hay tổ chức các hoạt động từ thiện,
tổ chức những sinh hoạt văn hoá lành mạnh
Nhưng nếu không có sự cân bằng, mạng xã hội cũng khiến nhiều sinh viên sao nhãng việc học tập cũng như tham gia các hoạt động ngoại khóa Quỹ thời gian hoạtđộng học tập của các bạn sinh viên giảm đi là do dành quá nhiều thời gian cho các hoạt động trên các trang mạng xã hội Ở mạng xã hội còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khi
mà những thông tin, nội dung, hình ảnh riêng tư được đưa lên mạng để chia sẻ với người thân, bạn bè… nhưng vô tình bị kẻ xấu lợi dụng và sử dụng vào mục đích xấu, hoặc là người sử dụng mạng xã hội chưa có ý thức, vô trách nhiệm trong việc đưa thông tin xấu lên mạng gây ảnh hưởng không tốt đến suy nghĩ của sinh
viên. Tất cả những vấn đề này có tác động tiêu cực đến đời sống và việc học của sinh viên
Quan tâm cuộc cuộc nghiên cứu này là tác động, ảnh hưởng của mạng xã hội đến mục đích chính của sinh viên là học tập Vì học tập đóng vai trò quan trọng Học tậpthường được xem là hoạt động chủ đạo của sinh viên để chuẩn bị hành trang về kiếnthức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, giúp họ sẵn sàng bước vào môi trường lao động nghề nghiệp trong tương lai Nguyễn Thạc (2009) đã định nghĩa về hoạt động học tập ở đại học là “một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triểntoàn diện sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao” Là một loại hoạt động tâm lý, học tập ở đối tượng sinh viên mang những nét đặc trưng bao gồm sự căng thẳng mạnh
Trang 11mẽ về trí tuệ, các quá trình tâm lý cấp cao, các hoạt động khác nhau cũng như nhân cách người sinh viên nói chung Học tập chỉ thực sự mang lại hiệu quả đối với người học khi và chỉ khi người đó chủ động, tích cực tập trung vào hành vi và thao tác học Nói cách khác, hoạt động học tập với cấu trúc phức tạp bao gồm các yếu tố như nhận thức, thái độ và hành vi là biểu hiện rõ nét nhất của vấn đề sinh viên tham gia học hay không học Do vậy, sự tham gia học tập trên lớp của sinh viên đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng, hướng dẫn và hỗ trợ cho sinh viên cách thức tìm kiếm tri thức, hình thành và rèn luyện năng lực nghề cũng như hun đúc, củng cố tình cảm đối với công việc mình đã lựa chọn.
Tóm tắt cho bài viết này:
Mạng xã hội mang tính chất trung tính, việc con người sử dụng chúng sẽ quyết địnhđến hiệu quả và sự ảnh hưởng đến đời sống xã hội, cũng như việc cách sinh viên sử dụng mạng xã hội như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ, nhất là ảnh hưởng đến hoạt động học tập của sinh viên Bên cạnh những mặt tích cực để sinh viên giao lưu, học tập, kết nối, giải trí, tìm kiếm cơ hội việc làm thì việc sử dụng mạng xã hội một cách “mù quáng” cũng gây ra những tác động, ảnh hưởng không tốt đối với sinh viên về hoạt động học tập - nhiệm vụ chính yếu của sinh viên, ngoài ra còn ảnh hưởng đến sức khoẻ, thời gian, tiền bạc
Để tìm hiểu sâu hơn về mạng xã hội và hoạt động học tập của sinh viên trong thời điểm hiện tại, nhóm thiết kế cuộc nghiên cứu khai thác thông tin từ các sinh viên, khai thác tác động, ảnh hưởng của mạng xã hội đến hoạt động học tập của sinh viên
1.2 Điểm lại thư tịch:
Đề tài: “Tìm hiểu tình hình sử dụng Internet của một bộ phận giới trẻ tại thành phố
Hồ Chí Minh” - Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Xã hội học 2005, Trường Đại học
Mở TP Hồ Chí Minh, sinh viên thực hiện Đặng Thị Minh Nguyệt
Trong nghiên cứu này, sinh viên sử dụng cả phương pháp định lượng và định tính
Trang 12để bổ sung cho nhau, sinh viên sử dụng kỹ thuật phỏng vấn bằng bảng câu hỏi, bao gồm 39 câu hỏi về mục đích, thái độ, hành vi truy cập Internet và các thông tin cá nhân liên quan đến đối tượng
Về phương pháp định tính, sinh viên sử dụng phỏng vấn sâu với 3 đối tượng
Về mặt nghiên cứu thư tịch: các nguồn tài liệu báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử
Về cách thức phát bản câu hỏi, sinh viên trực tiếp gửi đến các đối tượng và chia kháđều cho 70 nam và 70 nữ để có sự so sánh giữa hai đối tượng
Đề tài: “Sinh viên và mạng xã hội Facebook: một phân tích về sự tiến triển vốn xã hội” - Khảo sát tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Học viện Côngnghệ Bưu chính Viễn thông – Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học, năm
2014, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, tác giả Đoàn Thùy Dương
Qua nghiên cứu đã cung cấp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thực trạng sử dụng
Facebook trong sinh viên Đồng thời thấy được một số khía cạnh ảnh hưởng của Facebook đối với đời sống sinh viên, đặc biệt là việc tiến triển vốn xã hội
Facebook có những tác động đa chiều đến hoạt động học tập, giải trí, các mối quan
hệ xã hội của sinh viên Nhìn chung, Facebook làm cho lối sống của sinh viên trở nên năng động hơn, hướng ngoại nhiều hơn Dù vậy vẫn còn rất nhiều vấn đề đặt ra trong các nghiên cứu tiếp theo
Đề tài phân tích và chỉ ra những tác động (dương tính, âm tính và ngoại biên) của mạng xã hội (Facebook) đến vốn xã hội của sinh viên hiện nay Qua đó đưa ra những kết luận, khuyến nghị hướng tới mục tiêu cao nhất là quản lý việc sử dụng Facebook sao cho hiệu quả
Bên cạnh nguồn tư liệu này, sinh viên còn thu thập được các bài viết trên báo, tạp chí, các diễn đàn thảo luận trên mạng, báo điện tử,… đây là nguồn tài liệu quan trọng giúp sinh viên có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn với vấn đề Mạng xã hội đôis với sinh viên hiện nay
Tuy vậy, sinh viên vẫn chủ yếu thu thập tài liệu qua các cuộc thăm dò thực tế, thăm
Trang 13dò trên mạng, các cuộc tiếp xúc, phỏng vấn sâu đối tượng nghiên cứu.
Trang WhatIs định nghĩa việc mở rộng kết nối xã hội là việc gia tăng số lượng người liên hệ trong công việc và/hoặc xã hội thông qua các kết nối giữa các cá nhân, thường là trên các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter, LinkedIn hay Google+
Đặc điểm cơ bản của mạng xã hội đó chính là : bao gồm 2 đặc điểm cơ bản Đặc điểm thứ nhất là có sự tham gia trực tuyến của các cá nhân hay các chủ thể Đặc điểm thứ hai là mạng xã hội sẽ có các trang web mở, người chơi tự xây dựng nội dung trong đó và các thành viên trong nhóm đấy sẽ biết được các thông tin mà người dùng viết Ngày nay có rất nhiều các mạng xã hội, một số các loại mạng xã hội tiêu biểu hay được sử dụng ở nước ta phải đến ở đây là: Facebook, Zalo, Viber, Tango… Việc sử dụng mạng xã hội nũng có cái tốt nhưng cũng có nhiều cái bất cập.Cái tốt mà nó đem lại đó là người dùng biết thêm nhiều thông tin mới ,bổ ích và kết nối được nhiều bạn bè Tuy nhiên cái xấu ở đây là mạng xã hội chính là một thế giới
ảo, không có thật nhưng nhiều người sử dụng nó quá lâu sẽ gây ra hội chứng cho rằng mọi điều trên mạng xã hội là thật, nó tạo sự phụ thuộc của nhiều người vào nó
1.3 Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, khoa học và công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, nhất là
sự phát triển của công nghệ thông tin đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của con người Trong đó phải kể đến Internet, từ khi du nhập vào nước ta mang theo baođiều mới lạ, hấp dẫn và đã đem lại nhiều lợi ích cho cuộc sống con người, đặc biệt
là quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá tại Việt Nam, sự ảnh hưởng của Internet trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, kinh tế, văn hoá, chính trị, học tập, giải trí Internet đã và đang kết nối mọi người trên thế giới với nhau, nó phá vỡ mọi khoảng cách biên giới, không gian, thời gian, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc giao tiếp xã hội Từ khi có Internet thì cũng dần xuất hiên các loại hình tìmkiếm thông tin, giải trí, kết nối xã hội, trong đó không thể thiếu các trang mạng xã
Trang 14hội được rất nhiều người sử dụng như: Google+, Facebook, YouTube
Trường đại học là nơi đào tạo, trang bị cho người học những kiến thức và hiểu biết giúp họ đạt tới những giới hạn mới của tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống Hoạt động là phương thức của quá trình hình thành và phát triển tâm lí,
ý thức và nhân cách hình thành một lối sống của con người Trong đó, học tập đóng vai trò to lớn trong hành trình sống của con người Đặc biệt đối với sinh viên, hoạt động học tập được nâng cao hơn với tính chất là hoạt động học tập – nghiên cứu khoa học Việc học là bước đầu chuẩn bị cho nghề nghiệp tương lai Không như những cấp bậc học khác, đại học đòi hỏi hoạt động học tập của sinh viên phải mang tính độc lập cùng với sự tự ý thức và nỗ lực của bản thân để tiếp thu tri thức, kĩ năng từ sự hướng dẫn của giảng viên Nếu hoạt động học trên lớp là sự tham gia củasinh viên vào tiến trình dạy học có sự hướng dẫn của giảng viên thì các hoạt động học tập diễn ra ngoài lớp là tiếp nối việc học ở trên lớp đòi hỏi sinh viên cần tự giác tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng lý thuyết vào thực tế Hoạt động học tập của sinh viên được thể hiện qua những biểu hiện cụ thể như : luôn say mê, hứng thú học tập;
đi học đầy đủ, chú ý nghe giảng; ghi chép bài đầy đủ; tích cực tìm tòi, khám phá tri thức; thường xuyên trao đổi với thầy cô và bạn bè; đến thư viện tìm tài liệu học tập,
tự học; tích cực phát biểu, đóng góp ý kiến trong giờ học; tham gia các hội thảo, sinh hoạt chuyên đề Phương pháp học ở môi trường đại học không giống những môi trường tại trường tiểu học, trung học cơ sở hay trung học phổ thông, người học không thể học vẹt, không chỉ học những điều được dạy trong sách vở hay từ giáo viên mà ở đại học đòi hỏi sinh viên phải tìm tòi và khám phá, nghiên cứu thêm bên ngoài sách vở và giáo trình Hoạt động học tập của sinh viên cho phép người học học theo nhịp độ riêng phù hợp với năng lực của bản thân, chủ động lựa chọn và quyết định phong cách học hiệu quả Sinh viên tự vận động biến lý thuyết thành vốntri thức riêng của cá nhân Hoạt động học tập của sinh viên đòi hỏi họ phải hình thành và rèn luyện năng lực, hứng thú, thói quen và phương pháp tự họ Có thể thấyhoạt động học tập của sinh viên đóng vai trò quan trọng đối với chất lượng giáo dụcđại học cũng như kết quả đạt được từ những mong muốn của bản thân trong tương
Trang 15Ngày nay, với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kĩ thuật, thế giới đang thay đổi nhanh chóng từng ngày Đặc biệt, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tạo những điều kiện và cơ hội cho mọi người giao lưu, liên kết, chia sẻ sở thích, sự quan tâm, ýtưởng, những việc làm bằng các phương tiện truyền thông hiện đại – nhất là sự phát triển ngày càng đa dạng của internet, trong đó có các mạng xã hội
Sự xuất hiện với những tính năng đa dạng, nguồn thông tin phong phú, mạng xã hội
đã cho phép người dùng tiếp nhận, chia sẻ và chọn lọc thông tin một cách có hiệu quả Từ những thuận lợi mà nó mang lại, mạng xã hội đã có tác động làm thay đổi nhiều thói quen cũ và hình thành những biểu hiện mới của tư duy, lối sống, văn hóa…ở một bộ phận khá lớn những người sử dụng Đặc biệt có ảnh hưởng đến nhóm đối tượng trẻ, ở đây là sinh viên - bộ phận tiếp nhận nhanh nhất những thay đổi mới của xã hội Những tiện ích mà mạng xã hội mang lại như sử dụng nó trong học tập, giao tiếp và tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp Sinh viên thông qua mạng xã hội liên kết hợp tác với nhau thành các nhóm người có cùng sở thích, cùng sự quan tâm,cùng ý nguyện có thể gặp gỡ, trao đổi trên mạng rồi tiến tới sinh thực hiện những hành động có ý nghĩa tích cực như tổ chức các hoạt động từ thiện nhân những ngày
Lễ Tết, giúp đỡ trẻ đường phố, tổ chức những sinh hoạt văn hóa lành mạnh; nhiều nhóm chia sẻ sở thích du lịch kết hợp việc làm từ thiện ở vùng cao biên giới hẻo lánh…Không chỉ vậy, rất nhiều sinh viên từ các trường đại học khác nhau trên mọi miền tổ quốc đã lập ra những trang giúp đỡ nhau học tập tiếng anh hoặc các môn học chuyên ngành Đây là một trong những kênh giúp các bạn nâng cao hiệu quả học tập, chia sẻ kiến thức và tài liệu
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì việc sử dụng mạng xã hội cũng gây ra những tác động không tốt đối với sinh viên Mạng xã hội đã khiến nhiều sinh viên sao nhãng việc học tập cũng như tham gia các hoạt động ngoại khóa Quỹ thời gian
tự học của các bạn giảm đi do dành quá nhiều thời gian cho các hoạt động trên các trang mạng Theo khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo với 2.000 học sinh, sinh viên 4 tỉnh, thành phố như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Hải Phòng, có
Trang 1692,5% sinh viên và 84,5% học sinh cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông thường xuyên sử dụng mạng xã hội Facebook, ngoài ra còn sử dụng một số mạng xãhội khác như Zalo, Yahoo, Youtube, Zingme…Trong đó, 26% số người sử dụng dưới 1 giờ/ngày, 40% sử dụng từ 1 - 3 giờ và 34% sử dụng trên 3 giờ Về thời điểm truy cập, có tới 45% cho biết sử dụng mạng bất kỳ lúc nào và có thiết bị truy cập trong tay Về mục đích sử dụng, phần lớn để giao lưu, kết bạn, trò chuyện, nhắn tin (trên 92%); cập nhật thông tin bạn bè và xã hội (trên 82%); phục vụ mục đích học tập và việc làm (81%); tìm kiếm nghề nghiệp và việc làm (trên 32%)
Bên cạnh mặt tích cực bao giờ cũng có mặt tiêu cực Hiện nay, giới trẻ - nhất là bộ phận giới sinh viên - đang phải đối mặt trước một cuộc hội nhập văn hoá công nghệ thông tin quá nhanh chóng mà dường như họ không đủ sức để kháng cự và chọn lựa
để tiếp cho phù hợp, đề cập đến trong bài nghiên cứu này là việc ảnh hưởng của mạng xã hội đến hoạt động học tập của sinh viên
Sinh viên nằm trong những đối tượng sử dụng mạng xã hội nhiều nhất Mạng xã hội
đã trở thành một xu hướng không thể thiếu đối với giới trẻ nói chung và đối với sinhviên nói riêng, trong đó có sinh viên trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh Với đặc thù là những người trẻ tuổi, có tri thức, có tính năng động nên sinh viên là đối tượngrất dễ dàng tiếp cận những cái mới, dẫn đến việc thường xuyên sử dụng mạng xã hội, trở thành công dân mạng có thể làm thay đổi các hoạt động giao tiếp và một số quan niệm của họ về giá trị các quan hệ xã hội mà họ tiếp xúc và cách đối xử với quan hệ đó, làm ảnh hưởng đến hoạt động học tập của họ Đã có rất nhiều nghiên cứu nói về sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến sinh viên, nhưng nhìn chung chỉ đưa
ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực như ảnh hưởng đến sức khỏe, tâm lý, hình thành lối sống ảo, tách biệt với các mối quan hệ xung quanh Tuy nhiên, vẫn chưa
có nhiều nghiên cứu nói về sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến hoạt động học tập của sinh viên, trong khi thực tế cho thấy, nhiều sinh viên đang học kiểu đối phó, có mặt điểm danh, không thực sự hứng thú và chú tâm vào việc học Vì vậy mà em chọn đề tài “Mạng xã hội và hoạt động học tập của sinh viên (nghiên cứu tại đại học
Mở TP Hồ Chí Minh, cơ sở Nguyễn Kiệm)” để thực hiện nghiên cứu Tìm hiểu
Trang 17thực trạng sử dụng mạng xã hội của sinh viên cũng như thực trạng hoạt động học tập của sinh viên đại học Đồng thời cũng như sẽ tìm hiểu những tác động, ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đến hoạt động học tập và hệ quả của việc lạm dụng sử dụng mạng xã trong hoạt động học tập trong đại đa số sinh viên hiện nay
CHƯƠNG II: Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận:
Về khía cạnh khoa học, đề tài đóng góp thêm góc nhìn của sự ảnh hưởng của mạng
xã hội đến sinh viên nói chung cũng như sinh viên trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh nói riêng sau sự bùng nổ của mạng xã hội ở nước ta
2.2 Cơ sở thực tiễn:
Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, đề tài chỉ ra được những thực trạng của việc sử dụng, tiếp nhận mạng xã hội của sinh viên trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh Đề tài cũng đưa ra được những mặt tích cực, mặt tiêu cực và những tác động nhiều hướng của mạng xã hội đến sinh viên
Góp phần cung cấp thêm một số thông tin, tư liệu để hỗ trợ nhà giáo dục tham khảo trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác sinh viên cũng như tuyên truyền vận động để hình thành và củng cố việc sử dụng mạng xã hội trong hoạt động học tập của sinh viên
2.3 Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu chung của cuộc nghiên cứu này là nhằm tìm hiểu tác động, ảnh hưởng của mạng xã hội đến hoạt động học tập của sinh viên tại trường Đại học Mở TP Hồ Chí
Trang 182.4 Mục tiêu cụ thể:
Cụ thể hơn, việc nghiên cứu và phân tích kết quả nhằm:
Tìm hiểu, nắm bắt được mức độ tham gia hoạt động học tập cửa sinh viên hiện nay.Tìm hiểu, nắm bắt được mức độ sử dụng mạng xã hội của sinh viên hiện nay
Tìm hiểu những suy nghĩ của sinh viên về việc sử dụng mạng xã hội ảnh hưởng đếnkết quả học tập
Sự tác động và ảnh hưởng của việc sự dụng mạng xã hội đến hoạt động học tập của sinh viên
Đưa ra kết luận từ cuộc nghiên cứu, mạng xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động học tập của sinh viên Từ đó đưa ra được những khuyến nghị giảm bớt những ảnh hưởngtiêu cực, thúc đẩy sự gia tăng về hoạt động học tập và kiểm soát mức độ sử dụng mạng xã hội cho sinh viên một cách phù hợp
CHƯƠNG III: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.1 Khung lý thuyết:
Trong bài nghiên cứu mang tên “ Ảnh hưởng của mạng xã hội đối với sinh viên” -
Lê Thị Cẩm Nhung, trường Đại học Hà Tĩnh đã phần nào khái quát lên được tính tích cực và tiêu cực của mạng xã hội, mạng xã hội đã mang lại cho sinh viên những tiện ích cả trong hoạt động học tập lẫn giao tiếp và tìm kiếm cơ hội việc làm Cũng nhờ sự phát triển của mạng xã hội mà đa phần sinh viên có thể cải thiện được khả năng giao tiếp cũng như trình độ ngoại ngữ cá nhân Tuy nhiên theo phân tích của tác giả, có thể kết luận rằng mạng xã hội là “ con dao hai lưỡi” vì bên cạnh những mặt tích cực thì việc sử dụng mạng xã hội cũng gâu ra không ít những tác động xấu đến sinh viên mà cụ thể ở đây chính là việc sinh viên bị mất đi quỹ thời gian tự học
do dành quá nhiều thời gian để tham gia các hoạt động trên mạng xã hội, sao nhãng
Trang 19việc học tập, mất dần sự chủ động tham gia các hoạt động ngoại khóa Việc sinh viên ngày nay sử dụng mạng xã hội một cách vô ý thức, không có chọn lọc đã vô tình đẩy sinh viên vào sự lệch lạc của nhận thức, hoặc có xu hướng nghiện mạng xã hội, sống ảo,…
Tác giả Diah Wisenberg Brin với bài “Internet làm thay đổi tư duy và hành vi của giới trẻ” trên tạp chí Magazin của nước Anh cho rằng các phương tiện truyền thông hiện đại đã góp phần làm thay đổi nhận thức và hành vi của giới trẻ, đặc biệt là internet, phương tiện làm thế giới xích lại quá gần nhau trên mọi phương diện.Trong công trình nghiên cứu “Lý thuyết về hành vi được lên kế hoạch và áp dụng cho việc sử dụng các trang web mạng xã hội của những người trẻ” tác giả Pelling
EL thuộc Đại học công nghệ Queensland Úc đã nhận định rằng việc sử dụng mạng
xã hội không chỉ chịu ảnh hưởng bởi thái độ mà còn phụ thuộc bởi các yếu tố thuộc
về bản sắc của con người nói chung và giới trẻ nói riêng Việc phát hiện vấn đề này
có thể được sử dụng để thiết kế các chiến lược nhằm mục đích giúp giới trẻ thay đổimức độ sử dụng mạng xã hội của bản thân
Tác giả G.Witzlack đã có nhận định cơ bản về thái độ học tập của sinh viên: sự nổ lực nhận thức, sự sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ học tập, tự đặt ra những nhu cầu cao về thành tích học tập của bản thân, sự phản ứng trước thành công, thất bại trong học tập, sự chủ động vận dụng kiến thức học tập vào thực tiễn Từ những quan niệm trên có thể thấy rằng thái độ học tập của sinh viên sẽ là yếu tố tạo ra tính tích cực, giúp sinh viên gặt hái được thành công khi tham gia hoạt động học tập Hoạt động học tập của sinh viên đòi hỏi tính năng động và tính độc lập vì thế thái
độ và ý thức của sinh viên là một yếu tố vô cùng quan trọng cần được rèn luyện , phát huy
3.2 Các khái niệm và thao tác hoá các khái niệm chính:
Mạng xã hội?
Trang 20Mạng xã hội là khái niệm mà rất nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực đã định nghĩa với nhiều góc nhìn và cách diễn giải khác nhau nhưng chưa có một định nghĩachung chính thức.
Dưới góc nhìn xã hội học, Nguyễn Hải Nguyên đưa ra khái niệm về mạng xã hội: Mạng xã hội là dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Tác giả giải thích thêm, mạng xã hội được hình thành khi một nhóm người khởi xướng gửi đi thông điệp mời những người chưa quen gia nhập và thành bạn bè trong trang web của mình Các thành viên mới sẽ lặp lại quá trình trên và tạo nên một mạng liênkết rộng lớn không phân biệt không gian địa lý của các thành viên
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa trong tạp chí khoa học của mình đã có nhận định, mạng xã hội là một sự liên kết giữa các cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với cộng đồng được biểu hiện dưới nhiềut hình để thực hiện chức năng xã hội
Theo định nghĩa của Fitcher (1957), mạng lưới xã hội (social network) bao gồm nhiều mối quan hệ đôi Mỗi người trong mạng lưới có liên hệ với ít nhất 2 người khác nhưng không ai có liên hệ với tất cả các thành viên khác” Dựa trên định nghĩa
đó, Barry Wellman đã định nghĩa: “Khi mạng máy tính kết nối con người, nó là mộtmạng xã hội
Nguyễn Thị Lê Uyên đã định nghĩa mạng xã hội là một trang web mà nơi đó một người có thể kết nối với nhiều người thông qua chia sẻ những sở thích của cá nhân với mọi người như nơi ở, đặc điểm, học vấn Tác giả giải thích thêm, mạng xã hội được hình thành khi một nhóm người khởi xướng gửi đi thông điệp mời những người chưa quen gia nhập và thành bạn bè trong trang web của mình Các thành viên mới sẽ lặp lại quá trình trên và tạo nên một mạng liên kết rộng lớn không phân biệt không gian địa lý của các thành viên
Theo bách khoa toàn thư Wekipedia: Dịch vụ mạng xã hội (tiếng Anh: Social
Networking Service) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lạivới nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Hay nói cách khác, mạng xã hội thường được hiểu là các trang web, ứng dụng trực
Trang 21tuyến, blog kết nối mọi người với nhau, tạo ra môi trường trên mạng để mọi người trao đổi và chia sẻ cùng nhau Những người tham gia vào dịch vụ mạng xã hội còn được gọi là cư dân mạng
Mạng xã hội hay còn có thể biết đến dưới những tên gọi khác như "cộng đồng ảo" hay "trang hồ sơ", là một trang web mang mọi người đến với nhau để nói chuyện, chia sẻ ý tưởng và sở thích, hay làm quen với những người bạn mới
Trên cơ sở những quan điểm và định nghĩa về mạng xã hội của các tác giả và các đặc điểm chung của mạng xã hội, nhóm thống nhất đi đến một khái niệm chung về mạng xã hội như sau: Mạng xã hội (social network) là một website mở trong đó người dùng có thể tự xây dựng nội dung nhằm kết nối và tương tác với mọi người thông qua các tính năng riêng biệt của mạng xã hội
Dịch vụ mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết vớinhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán (Theo báo dvms.vn)
Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người
sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác
(Trích nghị định 97/2008)
Sinh viên?
Theo từ điển tiếng Việt xếp “sinh viên” là danh từ và định nghĩa sinh viên là những người học ở bậc Đại học, không phân biệt tuổi tác Theo luật Giáo dục quy định bậcĐại học bao gồm Đại học và Cao đẳng