1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIỂU LUẬN:“Mô hình khối kim cương của Micheal Porter và đánh giá năng lực cạnh tranh của Hàn Quốc”

29 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 561,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cácquốc gia chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh tranh bền vững trong một số ngành nào đó.. Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực,

Trang 1

MỞ ĐẦU

Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ ba ở châu Á và đứng thứ 10 trên thế giới

theo GDP năm 2006 Sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng,

từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những nước giầu nhất GDP(PPP) bình quân đầu người của đất nước đã nhẩy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục10.000 USD vào năm 1995 và 25.000 USD vào năm 2007 Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từcuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất nhanh chóng và vữngchắc Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn quốc như là "Huyềnthoại sông Hàn", đến nay huyền thoại này vẫn tiếp tục Hàn Quốc cũng là một nước phát triển có

sự tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 5% mỗi năm - mộtphân tích gần đây nhất bởi Goldman Sachs năm 2007 đã chỉ ra Hàn Quốc sẽ trở thành nước giầuthứ 3 trên thế giới vào năm 2025 với GDP bình quân đầu người là 52.000 USD và tiếp 25 nămsau nữa sẽ vượt qua tất cả các nước ngoại trừ Hoa Kỳ để trở thành nước giàu thứ hai trên thếgiới, với GDP bình quân đầu người là 81.000 USD Năm nay, Hàn Quốc đứng thứ 22 thế giới về

năng lực cạnh tranh quốc gia theo đánh giá của Viện nghiên cứu Phát triển kinh doanh quốc tế

của Thuỵ Sỹ IMD, vị trí này tăng 1 bậc so với năm ngoái Các chỉ số cạnh tranh quốc gia tổnghợp của Hàn Quốc do IMD đánh giá: 2003 đứng thứ 32, 2004 đứng thứ 31, 2005 đứng thứ 27,

2006 đứng thứ 32, 2007 đứng thứ 29, 2008 đứng thứ 31 và 3 năm sau lại trên đà tăng bậc, kếtquả năm 2011 của Hàn Quốc cũng là kết quả cao nhất kể từ khi có mặt trong danh sách điều tracủa IMD từ năm 1997 Có được những thành công vượt bậc này là nhờ 1 phần đóng góp rất lớncủa những yếu tố điều kiện và biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hiệu quả của chính phủHàn Quốc Để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng em đã lựa chọn đề tài tiểu luận : “Mô hình khối kim cương của Micheal Porter và đánh giá năng lực cạnh tranh của Hàn Quốc ”.

Xin chân thành cám ơn Th.s Vũ Huyền Phương – Giảng viên bộ môn “Chính sách thương mạiquốc tế” đã giúp đỡ và hướng dẫn nhóm hoàn thành bài tiểu luận này

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

I Khái niệm cạnh tranh: 3

II Lợi thế cạnh tranh: 4

III Mô hình kim cương của Michael Porter: 5

PHẦN 2: ÁP DỤNG 11

I Tổng quan về năng lực cạnh tranh của kinh tế Hàn Quốc: 11

1. Kinh tế Hàn Quốc: 11

2. Năng lực cạnh tranh của Hàn Quốc: 14

II Đánh giá năng lực cạnh tranh 1 số ngành nghề: 15

1 Điện tử - viễn thông 15

2 Công nghệ đóng tàu: 19

III Biện pháp, chính sách thúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh của HQ trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay: 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 3

PH N I: C S LÝ LU N ẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN Ơ SỞ LÝ LUẬN Ở LÝ LUẬN ẬN

I Khái niệm cạnh tranh:

Cạnh tranh được hiểu bằng nhiều cách khác nhau Trong tác phẩm “Sự giàu cócủa các quốc gia” của Adam Smith, tác giả cho rằng cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cáchnhịp nhàng, có lợi cho xã hội Vì sự cạnh tranh trong quá trình của cải quốc dân tăng lên chủ yếudiễn ra thông qua thị trường và giá cả, do đó, cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với cơ chế thịtrường Theo Smith, “Cạnh tranh và thi đua thường tạo ra sự cố gắng lớn nhất Ngược lại, chỉ cómục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khảnăng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào”

Trong lý luận cạnh tranh của Các Mác, trọng điểm nghiên cứu là cạnh tranh giữanhững người sản xuất và liên quan tới sự cạnh tranh này là cạnh tranh giữa người sản xuất vàngười tiêu dùng Những cuộc cạnh tranh này diễn ra dưới ba góc độ: cạnh tranh giá thành thôngqua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tư bản nhằm thu được giá trị thặng dư siêu ngạch;cạnh tranh chất lượng thông qua nâng cao giá trị sử dụng hang hóa, hoàn thiện chất lượng hanghóa để thực hiện được giá trị hang hóa; cạnh tranh giữa các ngành thông qua việc gia tăng tínhlưu động của tư bản nhằm chia nhau giá trị thặng dư Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn raxoay quanh sự quyết định giá trị, sự thực hiện giá trị và sự phân phối giá trị thặng dư, chúng tạonên nội dung cơ bản trong lý luận cạnh tranh của Các Mác

Đến nửa cuối thế kỷ XIX, các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển mới xâydựng lý luận cạnh tranh trên cơ sở tổng kết sự phát triển lý luận kinh tế ở nửa đầu thế kỷ ấynhằm vạch ra nguyên lý cở bản về sự vận động của chế độ tư bản chủ nghĩa để chỉ đạo cạnhtranh, kết quả là họ đã cho ra đời tư tưởng về nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, lấy thị trường tự

do hoặc chế đọ trao đổi làm cốt lõi Cạnh tranh hoàn hảo là mộ trong những giả thiết cơ bản của

lý luận kinh tế này

Ngược với tư tưởng xem cạnh tranh là một quá trình tĩnh của các nhà kinh tế họcthuộc trường phải cổ điển của thế kỷ XIX, các nhà kinh tế học của trường phái Áo cho rằng:

“Một chỉ tiêu quan trọng về sự ra đời của lý luận cạnh tranh hiện đại là vứt bỏ việc lấy cạnh tranh

Trang 4

hoàn hảo làm giáo điều của lý luận cạnh tranh hiện thực và lý tưởng, cạnh tranh được xem xét ởgóc độ là một quá trình động,, phát triển chứ không phải là quá trình tĩnh”.

Như vậy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho sựphát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia Cạnh tranh giúp khai thác một cáchhiệu quả nguồn lực tự nhiên và tạo ra các phương tiện mới để thỏa mãn nhu cầu cá nhân ở mứcgiá thấp hơn và chất lượng cao hơn Từ đó, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của conngười Nhờ cạnh tranh đã thúc đẩy đổi mới công nghệ và gia tăng năng suất, tạo ra những thànhtựu mới trên nhiều lĩnh vực

Do sự phát triển của thương mại và chủ nghĩa tư bản công nghiệp cùng với ảnhhưởng của tư tưởng kinh tế, cạnh tranh ngày càng được xem như là cuộc đầu tranh giữa các đốithủ Trong thực tế đời sống kinh tế, cạnh tranh ngày càng được xem là một cuộc đấu tranh giữacác đối thủ với mục đích đánh bại đối thủ Đặc biệt, trước xu thế hội nhập như hiện nay, cạnhtranh ngày càng trở nên khốc liệt và phức tạp hơn, trở thành một vấn đề sống còn của doanhnghiệp, doanh nghiệp nào không thể cạnh tranh được với đối thủ sẽ nhanh chóng bị đào thải rathương trường

II Lợi thế cạnh tranh:

Lợi thế cạnh tranh dựa trên lý thuyết tìm cách giải quyết một số những chỉ trích

về lợi thế so sánh Michael Porter đề xuất lý thuyết vào năm 1985 Theo Porter thì không một

quốc gia nào có thể có khả năng cạnh tranh ở tất cả các ngành hoặc ở hầu hết các ngành Cácquốc gia chỉ có thể thành công trên thương trường kinh doanh quốc tế khi họ có lợi thế cạnh

tranh bền vững trong một số ngành nào đó Lợi thế cạnh tranh được hiểu là những nguồn lực, lợi

thế của ngành, quốc gia mà nhờ có chúng các doanh nghiệp kinh doanh trên thương trường quốc tế tạo ra một số ưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp Lợi thế cạnh tranh giúp cho nhiều doanh nghiệp có được “Quyền lực thị trường” để thành công

trong kinh doanh và trong cạnh tranh Porter phê phán các học thuyết cổ điển trước đây cho rằng

ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thương trường cạnh tranh quốc tế là chỉ dựa vào lợithế tuyệt đối của Adam Smith hay chỉ có lợi thế so sánh của David Ricardo Theo ông, khả năngcạnh tranh của một quốc gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động củangành của quốc gia đó Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hóa thì nền tảng cạnh

Trang 5

tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban cho sang nhữnglợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh lâu dài của các doanh nghiệptrên thương trường quốc tế.

Lợi thế cạnh tranh quốc gia thường bị hiểu nhầm với lợi thế so sánh Lợi thế sosánh chỉ là những điều kiện đặc thù tạo ra ưu thế một khía cạnh nào đó của một quốc gia hoặcngành kinh doanh của quốc gia đó, như những điều kiện tự nhiên, tài nguyên hay con người.Nguồn nhân công rẻ, tài nguyên dồi dào thường được coi là lợi thế so sánh của các nước đangphát triển Tuy nhiên đây mới chỉ là cơ sở cho một lợi thế cạnh tranh tốt chứ chưa đủ là một lợithế cạnh tranh đảm bảo cho sự thành công trên thị trường quốc tế Lợi thế cạnh tranh phải là khảnăng cung cấp giá trị gia tăng cho các đối tượng có liên quan như: khách hàng, nhà đầu tư hoặccác đối tác kinh doanh và tạo giá trị gia tăng cao cho doanh nghiệp

Chẳng hạn, các nước nổi tiếng về du lịch như Ý và Thái Lan đã tận dụng lợi thế

so sánh về thiên nhiên và các công trình văn hóa di tích lịch sử để phát triển ngành công nghiệpkhông khói này rất thành công và hiệu quả Tuy nhiên, họ thành công không phải chỉ dựa vàonhững di sản văn hóa và thiên nhiên ban cho, mà vì họ đã tạo ra cả một nền kinh tế phục vụ cho

du lịch với rất nhiều dịch vụ gia tăng kèm theo, từ dịch vụ khách sạn, nhà hàng, lễ hội đến cácdịch vụ vui chơi giải trí, các trung tâm mua sắm và các chương trình tiếp thị toàn cầu Điều đó đãtạo cho họ có lợi thế cạnh tranh quốc gia mà các nước khác khó có thể vượt trội

III Mô hình kim cương của Michael Porter:

Mô hình kim cương là một mô hình kinh tế được nghiên cứu và phát triểnbởi Michael Porter trong cuốn sách “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”, trong đó ông nêu ra lýthuyết của mình về lý do tại sao một số ngành công nghiệp đặc biệt trở nên giàu tính cạnh tranh

ở những nơi cụ thể Sau đó, mô hình này đã được mở rộng bởi các học giả khác Mô hình kimcương của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia cung cấp một mô hình giúp thấy được vịthế cạnh tranh của một quốc gia trong cạnh tranh toàn cầu Mô hình này còn có thể sử dụng chocác vùng địa lý lớn khác

Phương pháp tiếp cận nhìn vào các cụm công nghiệp, nơi mà khả năng cạnh tranhcủa một công ty có liên quan đến sự vận hành của các công ty khác và các yếu tố khác liên kết

Trang 6

bối cảnh địa phương hoặc khu vực Các phân tích của Porter được thực hiện theo hai bước Đầutiên, nhóm các ngành công nghiệp thành công đã được đánh dấu trên bản đồ của 10 quốc gia cóthương mại phát triển nhất Trong bước thứ hai, lịch sử cạnh tranh trong các ngành công nghiệpđặc biệt được kiểm tra để làm rõ quá trình bùng nổ mà nhờ thế lợi thế cạnh tranh đã tạo ra.Phương pháp cơ bản trong những nghiên cứu này là phân tích lịch sử Các hiện tượng được phântích được phân loại thành sáu yếu tố khái quát bao gồm: điều kiện các yếu tố sản xuất (factor ofproduction), điều kiện về cầu (demand conditions), các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan(related and supporting industries), chiến lược,cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành(strategies, structures and competition) và 2 yếu tố khác là chính sách của Chính phủ và cơ hội.Các yếu tố này được tích hợp vào mô hình kim cương của Porter và đã trở thành một công cụquan trọng để phân tích khả năng cạnh tranh:

CHIẾN LƯỢC, CƠ CẤU VÀ MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH NGÀNH.

CHIẾN LƯỢC, CƠ CẤU VÀ MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH NGÀNH.

Trang 7

Điều kiện các yếu tố sản xuất

Yếu tố sản xuất bao gồm những yếu tố có thể được khai thác bởi các doanhnghiệp trong một quốc gia nhất định Điều kiện các yếu tố sản xuất phong phú dồi dào có thểxem như là nhân tố thuận lợi của một quốc gia được các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả đểtạo nên lợi thế cạnh tranh Tuy nhiên, có những trường hợp sự dồi dào về nhân tố sản xuất lạilàm giảm lợi thế cạnh tranh nếu như chúng không được phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả.Ngược lại, những yếu tố khan hiếm nhưng lại có thể tăng cường lợi thế cạnh tranh, ví dụ nhưkhủng hoảng năng lượng hay thiếu hụt lao động do biến động chính trị, chiến tranh đòi hỏi cáccông ty phải tìm cách tăng năng suất lao động, cải tiến công nghệ hay tìm kiếm phân khúc thịtrường có tính bền vững Có thể thấy rõ điều này qua tuyên bố thường được nhắc tới của ngườiNhật “Chúng tôi là một quốc đảo không có tài nguyên thiên nhiên” Đó là cách lý giải răngnhững bất lợi này chỉ phục vụ cho việc kích thích sự đổi mới mang tính cạnh tranh của Nhật Bản

Việc đánh giá năng lực cạnh tranh theo yếu tố đầu vào được xây dựng từ 5 nhómđầu vào: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tri thức, nguồn vốn và cơ sở hạtầng Mỗi nhóm yếu tố đầu vào lại bao gồm nhiều yếu tố cụ thể hơn

Điều kiện về cầu

Nếu như cầu hay mức độ cạnh tranh về một loại sản phẩm của thị trường nội địacao hơn so với thị trường nước ngoài thì các doanh nghiệp trong nước có khả năng tập trung vàođầu tư, cải tiến hơn so với các công ty nước ngoài Điều này làm tăng khả năng cạnh tranh củacác nhà xuất khẩu trong nước Một thị trường trong nước có tốc độ tăng trưởng nhu cầu nhanhđược xem như là động lực lớn cho sự tăng trưởng, đổi mới và cải tiến chất lượng Các công tycủa một quốc gia có khả năng giành được lợi thế cạnh tranh nếu những người tiêu dùng trongnước là những người tiêu dùn có yêu cầu cao nhất và tinh tế, phức tạp bậc nhất cho sản phẩm haydịch vụ đó Những người tiêu dùng tại địa phương cũng có thể giúp cho các công ty của mộtquốc gia tạo được lợi thế cạnh tranh nếu như cầu của họ tiên liệu trước hay thậm chí là định hìnhnhu cầu tại các quốc gia khác Các thay đổi về nhu cầu trong nước cũng tác động tới chiến lược,

cơ cấu của các công ty sản xuất và các ngành hỗ trợ và có liên quan Khi thị trường trong nước

đã bão hòa, trở nên trì trệ đòi hỏi các công ty phải tìm kiếm, mở rộng sản xuất hướng ra thịtrường bên ngoài, đặc biệt với những ngành hiệu quả theo quy mô, kéo theo sự hình thành và

Trang 8

phát triển của các ngành hỗ trợ và có liên quan trong việc quảng bá hình ảnh, sản phẩm, dịch vụthương mại, tài chính.

Các ngành hỗ trợ và có liên quan

Trong một quốc gia, các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan giàu tính cạnhtranh sẽ tạo ra lợi thế tiềm tàng cho doanh nghiệp như cung cấp trong thời gian ngắn và với chiphí thấp Hơn nữa, ngành hỗ trợ là chất xúc tác chuyển tải thông tin và đổi mới từ doanh nghiệpnày đến doanh nghiệp khác, đẩy nhanh tốc độ đổi mới trong toàn bộ nền kinh tế Điều này có thểtạo nên khả năng cạnh tranh lớn hơn cho các doanh nghiệp trong một nước Các ngành sản xuấtđược hưởng lợi từ sự phát triển cao độ của các nhà cung ứng máy móc địa phương, các ngành hỗtrợ, nguồn nguyên liệu sản xuất, dịch vụ và cơ sở hạ tầng khác; sự hiện diện của các ngành hỗ trợtầm cỡ thế giới góp phần quan trọng củng cố sức mạnh, khả năng cạnh tranh của các ngành sảnxuất Nhà cung ứng và các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối gần nhau có thể tận dụng tuyếnliên lạc ngắn, thông tin nhanh, thường xuyên trao đổi những ý tưởng đổi mới, qua đó tác động tới

nỗ lực kỹ thuật, đổi mới công nghệ của toàn bộ nhóm ngành Một số ngành có liên quan cũng giatăng khả năng nắm bắt các khả năng mới và cung cấp 1 nguồn những người mới tham gia và sẽmang lại cách tiếp cận mới trong cạnh tranh

Chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh ngành

Cơ cấu và hệ thống quản lý của các công ty ở các nước khác nhau có thể ảnhhưởng đến khả năng cạnh tranh Những khác biệt về trình độ quản lý và kỹ năng tổ chức nhưtrình độ học vấn và hướng đích của cán bộ quản lý, sức mạnh động cơ cá nhân, các công cụ raquyết định, quan hệ với khách hang, thái độ đối với các hoạt động quốc tế, quan hệ giữa ngườilao động với bộ máy quản lý,… tạo ra lợi thế hoặc bất lợi thế cho doanh nghiệp Tình huống, bốicảnh quốc gia tạo ra xu hướng mạnh mẽ trong cách các doanh nghiệp được thành lập, tổ chức vàquản lý Ở một số quốc gia, các doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế thành công thường là các doanhnghiệp quy mô vừa và nhỏ, thuộc sở hữu tư nhân; trái lại, ở một số quốc gia khác, các doanhnghiệp có xu hướng tuân theo thứ bậc chặt chẽ và những nhà quản lý cấp cao nhất thường có nềntảng kiến thức về kỹ thuật

Cạnh tranh trong nước có tác động mạnh hơn cạnh tranh quốc tế trong nhữngtrường hợp mà cải tiến và đổi mới là yếu tố cơ bản của lợi thế cạnh tranh Tạo ra sức ép làm thay

Trang 9

đổi các thức cải tiến lợi thế cạnh tranh: lợi thế cạnh tranh dựa nhiều hơn vào tính độc đáo của sảnphẩm, hàm lượng công nghệ hơn là lợi thế về tài nguyên và chi phí lao động thấp Các đối thủcạnh tranh thúc đẩy lẫn nhau trong cắt giảm chi phí, nâng cao chất lượng, dịch vụ khách hàng,sản xuất ra các sản phẩm và quy trìn mới, qua đó tác động làm cầu nội địa tăng và tinh vi hơn.

Vai trò của Chính phủ đối với lợi thế cạnh tranh quốc gia

Chính phủ có thể tác động tới lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua 4 nhóm nhân

tố xác định lợi thế cạnh tranh Các tác động của Chính Phủ có thể là tích cực hoặc tiêu cực, cóthể thúc đẩy hoặc gây bất lợi cho lợi thế cạnh tranh Chính phủ có thể tác động tới các điều kiệnđầu vào thông qua các công cụ trợ cấp, chính sách thị trường vốn, chính sách giáo dục, y tế…(điều kiện các yếu tố sản xuất) Các cơ quan Chính phủ có thể xác lập các tiêu chuẩn hoặc quyđịnh về sản phẩm trong nước có ảnh hưởng tới cầu của người mua; Chính phủ cũng có thể làngười mua lớn đối với nhiều loại hàng hóa (điều kiện về cầu) Chính phủ có thể kiến tạo hệthống các ngành hỗ trợ và liên quan theo rất nhiều cách khác nhau, ví dụ như kiểm soát phươngtiện quảng cáo hoặc các quy định về các dịch vụ hỗ trợ Chính phủ cũng có thể tác động tới chiếnlược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh bằng các công cụ như các quy định về thị trường vốn,chính sách thuế và luật chống độc quyền

Vai trò của cơ hội

Cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan tới tình trạng hiện tại của quốc gia vàthường nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của các công ty Những cơ hội đặc biệt quan trọng ảnhhưởng đến lợi thế cạnh tranh như sự thay đổi bất ngờ về công nghệ, sự xuất hiện của các côngnghệ mới; Thay đổi lớn về chi phí đầu vào như giá dầu mỏ tăng đột ngột; Thay đổi đáng kể trênthị trường chứng khoán thế giới, tỷ giá hối đoái; Biến động chính trị trên thế giới

Các cơ hội rất quan trọng vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ, làm dịch chuyển vịthế cạnh tranh Chúng có thể xóa đi lợi thế của những công ty đã thành lập trước đó và tạo ratiềm năng mà các công ty mới có thể khai thác để có được lợi thế đáp ứng những điều kiện mới

và khác biệt

Trang 10

Mối quan hệ giữa các yếu tố:

Mô hình kim cương là 1 hệ thống chặt chẽ Mỗi một trong số 4 thuộc tính này xácđịnh 1 điểm trên mô hình của lợi thế quốc gia và ảnh hưởng của một điểm thường tùy thuộc vàotrạng thái của các điểm khác Ví dụ, những người mua tinh tế sẽ không thể hiện thành các sảnphẩm cao cấp trừ phi chất lượng nguồn nhân lực cho phép các công ty đáp ứng những nhu cầucủa người mua Những bất lợi có chọn lọc trong các yếu tố sản xuất sẽ không thúc đẩy sự đổimới trừ phi sự cạnh tranh trong nước là mạnh mẽ và các mục tiêu của công ty hỗ trợ cho khoảnđầu tư bền vững Ở cấp độ rộng nhất, điểm yếu trong bất kỳ định tố nào sẽ hạn chế tiềm năng củamột ngành về sự tiến bộ và nâng cấp Tuy nhiên, các đỉnh của mô hình kim cương cũng tự củng

cố lẫn nhau: chúng tạo thành một hệ thống Hai yếu tố, sự cạnh tranh trong nước và sự tập trung

về địa lý có tác động mạnh mẽ tới sự cải thiện trong tất cả các yếu tố khác

Vai trò của sự cạnh tranh trong nước minh họa cách thức mà mô hình kim cươnghoạt động như là 1 hệ thống tự củng cố lẫn nhau Sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nước kích thích

sự phát triển của các nguồn duy nhất về các nhân tố chuyên môn hóa Các đối thủ cạnh tranh tíchcực cũng làm nâng cấp nhu cầu nội địa trong một ngành Ví dụ trong ngành đồ gõ và giày, ngườitiêu dùng Ý đã học cách mong đợi các sản phẩm nhiều hơn và tốt hơn bởi vì nhịp độ nhanhchóng trong việc phát triển sản phẩm mới được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh nội địa khốc liệt giữahàng trăm công ty cùng hoạt động trong những ngành này Sự cạnh tranh trong nước cũng thúcđẩy sự hình thành các ngành hỗ trợ và có liên quan Ví dụ, nhòm các nhà sản xuất chất bán dẫnhàng đầu thế giới của Nhật Bản đã làm xuất hiện các nhà chế tạo thiết bị bán dẫn hàng đầu thếgiới tại Nhật Các tác động này theo nhiều phương hướng: đôi khi các nhà cung cấp có đẳng cấpthế giới trở thành nững người mới tham gia vào ngành mà họ cung cấp hay những người muatinh tế cao có thể tự mình tham gia và một ngành cung ứng, đặc biệt khi họ có các kỹ năng liênquan và xem ngành mới này là chiến lược Một tác động khác của bản chất mang tính hệ thốngcủa mô hình kim cương là tạo ra một môi trường mà thúc đẩy các cụm ngành có khả năng cạnhtranh chứ không chỉ duy nhất một ngành đơn lẻ Các ngành có khả năng cạnh tranh không nằmrải rác trong nền kinh tế mà thường được kết nối lẫn nhau Các cụm ngành không nằm rải ráctheo quy luật tự nhiên mà có xu hướng tập trung về mặt địa lý Một ngành có khả năng cạnhtranh giúp tạo ra một ngành có khả năng cạnh tranh khác theo một quy trình tự củng cố lẫn nhau.Một khi một cụm ngành hình thành, toàn bộ nhóm các ngành trở nên hỗ trợ lẫn nhau Sự cạnh

Trang 11

tranh tích cực trong một ngành lan tỏa sang những ngành khác trong cụm thông qua những công

ty mới thành lập tách ra từ các công ty cũ, thông qua sự thực hiện quyền mặc cả và thông qua sự

đa dạng háo của các công ty đã định hình Sự gia nhập từ các ngành khác trong nội bộ cụmngành thúc đẩy sự nâng cấp qua việc kích thích sự đa dạng trong các phương pháp nghiên cứu vàphát triển và qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự áp dụng các chiến lược và kỹ năng mới.Thông qua nguồn các nhà cũng ứng hay khách hàng mà có nhiều liên hệ với nhiều công ty cạnhtrah, thông tin được lưu chuyển tự do và những sự đổi mới lan tỏa một cách nhanh chóng Cụmngành trở thành một động lực cho việc duy trì sự đa dạng và khắc phục được sự tập trung hướngnội, sự không linh hoạt và quá trình thích nghi giữa các đối thủ cạnh tranh mà làm chậm hay cảntrở sự nâng cấp mang tính cạnh tranh và sự gia nhập của các công ty mới

Trong giai đoạn 1962-1992, Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 9%.Năm 2008, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP củaHàn Quốc chỉ đạt 2,5% và năm 2009 tiếp tục sụp giảm là 0,2% Trong sáu tháng đầu năm 2010,kinh tế Hàn Quốc đã đạt mức tăng trưởng 7,1%, kim ngạch xuất khẩu tăng cao (đạt 222,4 tỷUSD, tăng 35% so với năm 2009 và là mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay) Cùng với sựphục hồi kinh tế, thị trường việc làm ở Hàn Quốc cũng cải thiện đáng kể Số người có việc làm

Trang 12

cũng đã đạt mức cao nhất trong vòng 56 tháng qua, đẩy tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống mức 3%(đây là mức thấp nhất trong số 30 quốc gia thành viên thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Pháttriển - OECD).

Tính theo đồng USD, tổng GDP của Hàn Quốc qua các năm như sau:

(Theo Ngân hàng thế giới, chỉ báo phát triển thế giới 2011)

Tốc độ tăng trưởng GDP qua các năm của Hàn Quốc

Trang 13

(Theo Ngân hàng thế giới, chỉ báo phát triển thế giới 2011)

* Về Công nghiệp: Tổng giá trị các sản phẩm công nghiệp chiếm 39,4% GDP và thu hút 25,1%

- Sản phẩm nông nghiệp chính: Khoai tây, khoai lang, đại mạch, lúa, bắp cải, hành, tỏi

* Về dịch vụ: Tổng giá trị lĩnh vực dịch vụ, du lịch chiếm 57,6% GDP và thu hút 67,7% lực

lượng lao động

* Xuất khẩu: 373,6 tỷ USD (năm 2009)

- Các mặt hàng xuất khẩu chính: Máy móc, ôtô, thép, hàng điện tử cao cấp, tàu thủy, hàng dệt,hàng may mặc, thực phẩm và hải sản

- Các bạn hàng xuất khẩu chủ yếu: Trung Quốc (22,1%), Mỹ (12,4%), Nhật Bản (7,1%),Hongkong (Trung Quốc) (5,0%)

Giá trị xuất khẩu theo phần trăm GDP

Trang 14

(Theo ngân hàng thế giới, chỉ báo phát triển thế giới 2011)

Giá trị nhập khẩu theo phần trăm GDP

(Theo ngân hàng thế giới, chỉ báo phát triển thế giới 2011)

2 Năng lực cạnh tranh của Hàn Quốc:

Một kết quả điều tra đã cho thấy năng lực cạnh tranh của Hàn Quốc mạnh nhất trong số các quốc gia ở khu vực châu Á.

Ngày 8/4/2011, Viện nguyên cứu diễn đàn Boao đã đưa ra “Báo cáo về năng lực cạnhtranh châu Á năm 2011”, theo bản báo cáo này thì khả năng cạnh tranh tổng hợp của Hàn Quốcmạnh nhất trong số 35 quốc gia châu Á thuộc đối tượng điều tra

Ngày đăng: 11/02/2022, 23:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w