1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngữ Văn 9 Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

4 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 131,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu ôn tập môn ngữ văn, tài liệu trọng tâm ôn thi vào 10, tài liệu quan trọng Tài liệu ôn tập ngữ văn ôn thi vào 10, tài liệu trọng tâm, tài liệu quan trọng ôn thi vào 10, Tài liệu ôn tập ngữ văn ôn thi vào 10, tài liệu trọng tâm, tài liệu quan trọng ôn thi vào 10, tài liệu ôn tập ngữ văn 9, ghi chép đầy đủ văn bản Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính , môn ngữ văn 9,

Trang 1

Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả: Phạm Tiến Duật (1941 - 2004)

- Quê: Phú Thọ

- Ông hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của các nhà thơ trẻ chống Mỹ cứu nước

- Giọng thơ sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch và sâu sắc

- Đề tài chủ yếu: Hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thông qua hình

tượng người lính và những cô thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn

2 Tác phẩm:

a Hcst: 1969

- Thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt

- Tác giả hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn

b Ý nghĩa nhan đề:

- Nhan đề có vẻ dài và thừa chữ “bài thơ" bởi vì văn bản vốn là một bài thơ Nhưng chính điều đó đã làm nên nét độc đáo

- Từ xưa các phương tiện đi vào thơ ca không hiếm nhưng thường được mĩ lệ hóa, còn Phạm Tiến Duật lại khai thác hình ảnh những chiếc xe không kính thực đến trần trụi để phản ánh hiện thực khốc liệt của chiến tranh và vẻ đẹp của những người lính lái xe

Trường Sơn Tác giả đã khai thác chất thơ từ chính hiện thực gian khổ để ca ngợi cuộc đời người lính đẹp như một bài thơ, cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc đẹp như một bài thơ

c Hình ảnh thơ độc đáo:

- Hình ảnh những chiếc xe không kính vẫn băng ra chiến trường → vẻ đẹp hiên ngang, dũng cảm của người lính lái xe Trường Sơn

d Vẻ đẹp của người lính Trường Sơn

- P1: Khổ 1 + 2 : Tư thế ung dung hiên ngang

- P2: Khổ 3 + 4 : Thái độ coi thường bất chấp khó khăn, hiểm nguy

- P3: Khổ 5 + 6 : Tình đồng chí, đồng đội ngời sáng

- P4: Khổ 7: Lòng yêu nước, căm thù giặc và ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam

II Tìm hiểu chi tiết:

1 Tư thế ung dung hiên ngang của những người chiến sĩ lái xe Trường Sơn (2 khổ đầu)

- Trước hết, tư thế ung dung hiên ngang của những người lính lái xe Trường Sơn được thể

hiện ở cách giải thích lý do vì sao xe không có kính:

“Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi"

+ Ba từ “không" đi liền nhau, kết hợp với điệp từ “bom" 2 lần và động từ “giật”, “rung" làm

cho câu thơ gần như văn xuôi Câu thơ đầu với cấu trúc phủ định dùng để khẳng định,

chiếc xe ban đầu có kính nhưng vì bom đạn chiến tranh tàn phá dữ dội khiến cho xe bị hư

Trang 2

hỏng, từ có kính thành không có kính Qua cách giải thích đó ta thấy được sự ngang tàng

và bản lĩnh kiên cường của những người lính lái xe Trường Sơn

- Tư thế ung dung hiên ngang còn được thể hiện ở tư thế ngồi rất đẹp, đĩnh đạc và làm chủ hoàn cảnh: “Ung dung buồng lái ta ngồi" Với nghệ thuật đảo ngữ, tác giả đã thể

hiện và nhấn mạnh tư thế sẵn sàng đối mặt với khó khăn, hiểm nguy

- Tư thế của những người lính lái xe còn được thể hiện ở cái nhìn trước chiến trường rộng lớn:

“Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Thấy con đường chạy thẳng vào tim

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái"

+ Những câu thơ sử dụng điệp từ “nhìn",”nhìn thấy" để nhấn mạnh cái nhìn bao quát,

rộng mở trước chiến trường rộng lớn “Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng" là nhìn thấp, nhìn

cao, nhìn xa, nhìn vào những khó khăn gian khổ mà không hề run sợ, né tránh

+ Bằng nghệ thuật nhân hoá và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, tác giả đã cho thấy hiện

thực khắc nghiệt mà các anh phải trải qua cùng tâm hồn bay bổng, lãng mạn “gió vào

xoa mắt đắng" Xe hành quân thâu đêm, xe không kính nên gió, bụi bay vào mắt các anh

khiến cảm giác mắt cay xè, cộm lên như “mắt đắng" Nhưng gió lại trở thành những người

bạn đồng hành làm xoa dịu đôi mắt các anh

+ Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim" là hình ảnh vừa thực vừa ẩn dụ:

Thực: Xe lao đi vun vút trên đường Trường Sơn, có cảm giác con đường đâm thẳng vào tim người lính lái xe (nói quá)

Ẩn dụ: Con đường ở đây là con đường cách mạng, con đường ra tiền tuyến

+ Xe không kính, người lính phải đối mặt với bao nhiêu khó khăn khi mọi thứ có thể quăng quật, sa, ùa đột ngột làm che khuất tầm nhìn của các anh Nhưng với cách dùng điệp từ

“như", nhịp thơ nhanh khiến người đọc có cảm giác các anh đang biến những khó khăn thành những điều thi vị bởi vẫn hướng đến vẻ đẹp của những vì sao toả sáng, tự do → Một niềm sảng khoái bất tận

2 Thái độ coi thường, bất chấp những khó khăn, hiểm nguy (Khổ 3 + 4)

- Trên con đường Trường Sơn, những chiếc xe không kính đã nếm đủ mùi gian khổ

Những ngày nắng, con đường Trường Sơn đất đỏ, bụi mù mịt

- Gió, bụi kết hợp với động từ “phun" đã cho thấy những khó khăn mà các anh đang phải

đối mặt Bụi bám tóc khiến mái đầu xanh trở nên bạc trắng như người già Những câu thơ

sử dụng khẩu ngữ để thể hiện khẩu khí ngang tàng “ừ thì", “chưa cần" đã cho thấy thái độ

coi thường bất chấp những khó khăn, hiểm nguy với một tinh thần chủ động, cứng cỏi:

“Không có kính, ừ thì có bụi

Bụi phun tóc trắng như người già

Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha"

- Thậm chí trong hoàn cảnh ấy, họ vẫn rất lạc quan, yêu đời Không khí sôi động, rộn rã được thể hiện qua cách hút thuốc “phì phèo” rất lính tráng và tiếng cười “ha ha",

Trang 3

tiếng cười sảng khoái vang lên từ trong mưa bom bão đạn không một thế lực nào dập tắt được

Những ngày mưa, con đường Trường Sơn trơn như đổ mỡ, ngồi trên xe không kính, quần áo ướt sũng, cái lạnh ngấm vào da thịt nhưng các anh vẫn không hề nao núng:

- Dù thời tiết khắc nghiệt, dữ dội nhưng với họ tất cả chỉ là chuyện nhỏ Từ “ừ thì” và

“chưa cần" vang lên đầy bản lĩnh của những người lính lái xe Trường Sơn Nhiệt tình của

họ được đo bằng những cung đường 100 km trên con đường nguy hiểm, đầy mưa bom bão

đạn nhưng lời thơ nhẹ nhàng gợi cảm giác ung dung, lạc quan Các anh coi khó khăn là điều kiện để tôi luyện ý chí và lòng dũng cảm Câu thơ cuối có 7 tiếng mà có tới 6 thanh bằng gợi sự nhẹ nhàng, phơi phới, thênh thang Cấu trúc câu thơ cân đối, nhịp nhàng theo nhịp rung của những bánh xe

→ Vậy là, với những câu thơ ngang tàng, khoẻ khoắn, tác giả đã thể hiện bản lĩnh kiên cường và lòng dũng cảm của những người lính lái xe Trường Sơn

3 Tình đồng chí, đồng đội ngời sáng:

Trước hết tình đồng chí, đồng đội thể hiện ở cuộc gặp gỡ đầy xúc động của những người đi ra từ trong mưa bom bão đạn của chiến tranh với biết bao mất mát và hi sinh:

- Được gặp nhau là biết bạn mình còn sống, gặp gỡ là chiến thắng trở về Niềm vui chiến thắng cứ trải dài suốt trên tuyến đường Trường Sơn:

“Những chiếc xe từ trong bom rơi

Đã về đây họp thành tiểu đội

Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi”

- Chính sự khốc liệt của chiến tranh đã tạo nên tiểu đội xe không kính, những chiếc xe từ

khắp mọi miền tổ quốc về đây họp thành tiểu đội Cái bắt tay của các anh thật trẻ trung, tinh nghịch Cửa kính vỡ của ô tô lại là điều kiện để học thể hiện tình cảm, để họ

xích gần nhau hơn Cái bắt tay để thể hiện niềm tin, sức mạnh, tình cảm, ý chí của họ Đó

là cái bắt tay của tinh thần đoàn kết, gắn bó, keo sơn, bền chặt

- Cùng là cái bắt tay nhưng mỗi thời mỗi khác Anh lính vệ quốc quân trong thời chống Pháp lặng lẽ nắm tay nhau trong giá rét của rừng hoang sương muối, còn những người lính

Trường Sơn thì bắt tay một cách hồn nhiên, trẻ trung, tinh nghịch Tuy cái bắt tay ở hai thời khác nhau nhưng đều ấm áp tình đồng chí

Tình đồng chí đồng đội còn được thể hiện ở sự sẻ chia mọi sinh hoạt trên con đường ra trận:

“Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Võng mắc chông chênh đường xe chạy

Lại đi, lại đi trời xanh thêm"

- Trước hết, học cùng nhau ăn một bữa cơm trên đường Trường Sơn Câu thơ gần như văn xuôi đã thể hiện sự trẻ trung, hồn nhiên của các anh Hình ảnh bếp Hoàng Cầm là bếp

dã chiến mang tên người anh nuôi Hoàng Cầm, anh đã sáng tạo ra loại bếp đặt dưới lòng đất, khi đun khói toả ra hai bên tránh sự phát hiện của địch

Trang 4

- Cách định nghĩa về gia đình thật tếu táo, hóm hỉnh và sâu sắc Chỉ cần chung bát

chung đũa, cùng nhau ăn một bữa cơm tại trạm dừng chân có thể trở thành thành viên gia đình người lính Việt Nam, họ trở nên thân thiết như ruột thịt Bữa cơm có thể đạm bạc: bát canh rau rừng, vài thanh lương khô nhưng nhưng vẫn toát lên vẻ đàng hoàng,

sang trọng của cuộc đời người lính Từ “chung” được dùng rất gợi, nó vừa là “chung bát đũa" vừa là chung lý tưởng

- Sau giờ ăn là giờ nghỉ với hình ảnh “võng mắc chông chênh" “Chông chênh" là từ láy

tượng hình, gợi sự chênh vênh, không vững chắc Câu thơ vừa cho thấy những khó khăn các anh trải qua khi võng được mắc vội, mắc tạm trên con đường gập ghềnh đèo dốc; vừa cho thấy sự tinh nghịch, trẻ trung khi võng có thể được móc vắt vẻo trên cành cây, trên thùng xe, đầu xe với đuôi xe

- Sau giờ nghỉ, đoàn xe hối hả lên đường Điệp từ “lại đi" diễn tả hình ảnh đoàn xe mải

miết nối đuôi nhau hăm hở ra trận “Trời xanh" là vừa là hình ảnh thực vừa là hình ảnh

ẩn dụ:

+ Thực: Đoàn xe ra trận trong một ngày đẹp trời

+ Ẩn dụ: “Trời xanh" là bầu trời trong khát vọng của những người lính Trường Sơn - bầu trời của độc lập, tự do

4 Lòng yêu nước, căm thù giặc và ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam:

- Lòng yêu nước, căm thù giặc và ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam của những người lính lái xe Trường Sơn đã được Phạm Tiến Duật thể hiện sâu sắc qua khổ cuối:

“Không có kính, rồi xe không có đèn

Không có mui xe, thùng xe có xước

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

Chỉ cần trong xe có một trái tim"

- Trải qua mưa bom bão đạn của chiến tranh, những chiếc xe ban đầu không có kính, nay càng trở nên hư hỏng nặng nề Nghệ thuật liệt kê được sử dụng để làm nổi bật sự biến dạng của chiếc xe: không kính, rồi xe không có đèn, không có mui xe, thùng xe bị xước

Điệp từ phủ định “không có" được nhắc lại 3 lần vừa cho ta thấy sự thiếu thốn đến trần trụi của những chiếc xe vừa thấy mức độ ác liệt của chiến trường

- Nhưng không gì cản được sự di chuyển của những chiếc xe không kính ra tiền tuyến

Bom đạn của quân thù có thể phá huỷ những chiếc xe nhưng không đè bẹo được tinh thần, ý chí chiến đấu của những chiến sĩ lái xe

- Xe vẫn chạy băng băng ra chiến trường không chỉ vì động cơ xe máy và còn vì động cơ tinh thần “vì miền Nam phía trước"

- Đối lập với cái “không có" ở trên là cái “có" duy nhất “có một trái tim" Hình ảnh

“một trái tim" là hình ảnh hoán dụ để nói đến người lính lái xe Trường Sơn với lòng yêu

nước, rực lửa căm hờn Hình ảnh trái tim trở thành trở thành nhãn tự của bài thơ, cô đúc

vẻ đẹp toàn bài Khổ thơ hướng người đọc đến chân lý của thời đại: chiến thắng không phải là vũ khí tối tân hiện đại mà là lòng yêu nước, căm thù giặc và ý chí quyết tâm của những người lính

Ngày đăng: 11/02/2022, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w