Khái niệm Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước ủy quyền quản lý trên
Trang 1BÀI 1:KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT HC
I KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Có nhiều cách giải thích khác nhau cho thuật ngữ "hành chính" và "luật hành chính" Tuy
nhiên, tất cả đều thống nhất ở một điểm chung: Luật Hành chính là ngành luật về quản lý
nhà nước Do vậy, thuật ngữ "hành chính" luôn luôn đi kèm và được giải thích thông qua
khái niệm "quản lý" và "quản lý nhà nước"
a Quản lý
Khái niệm quản lý
Một cách tổng quát nhất, quản lý được xem là quá trình "tổ chức và điều khiển các hoạt
động theo những yêu cầu nhất định"[1], đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên
phương diện điều hành Dưới góc độ chính trị: quản lý được hiểu là hành chính, là cai trị;
nhưng dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy Dự duới góc độ nào
đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẳn và nhằm
đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý
Tóm lại, quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào
những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận
động theo đúng ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã đặt ra từ trước Là
một yếu tố thiết yếu quan trọng, quản lý không thể thiếu được trong đời sống xã hội Xã
hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp Từ đó,
quản lý thể hiện các đặc điểm:
Ðặc điểm của quản lý
+ Quản lý là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ thể quản lý
đối với các đối tượng chịu sự quản lý "Ðúng ý chí của người quản lý" cũng đồng nghĩa
với việc trả lời câu hỏi tai sao phải quản lý và quản lý để làm gì
+ Quản lý là sự đòi hỏi tất yếu khiùù có hoạt động chung của con người C.Mác coi quản
lý xã hội là chức năng đặc biệt sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động
+ Quản lý trong thời kỳ nào, xã hội nào thì phản ánh bản chất của thời kỳ đó, xã hội đó
Ví dụ: ở thời kỳ công xã nguyên thủy thì hoạt động quản lý còn mang tính chất thuần túy,
đơn giản vì lúc này con người lao động chung, hưởng thụ chung, hoạt động lao động chủ
yếu dựa vào săn bắn, hỏi lượm, người quản lý bấy giờ là các trưởng làng, tù trưởng Thời
kỳ này chưa có nhà nước nên hoạt động quản lý dựa vào các phong tục, tập quán chứ
chưa có pháp luật để điều chỉnh
Trang 2+ Quản lý muốn được thực hiện phải dựa trên cơ sở tổ chức và quyền uy Quyền uy là thể
thống nhất của quyền lực và uy tín Quyền lực là công cụ để quản lý bao gồm hệ thống
pháp luật và hệ thống kỷ luật nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
trung dân chủ và phân cấp quản lý rành mạch Uy tín thể hiện ở kiến thức chuyên môn
vững chắc, có năng lực điều hành, cùng với phẩm chất đạo đức cách mạng và bản lĩnh
chính trị vững vàng, đảm bảo cả hai yếu tố "tài" và đức" Uy tín luôn gắn liền với việc
biết đổi mới, biết tổ chức và điều hành, thực hiện "liêm chính, chí công, vô tư" Nói một
cách ngắn gọn, có quyền uy thì mới đảm bảo sự phục tùng của cá nhân đối với tổ chức
Quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ đạo cũng như bắt
buộc đối với đối tượng quản lý trong việc thực hiện các mệnh lệnh, yêu cầu mà chủ thể
quản lý đề ra
Nhà nước
Hệ thống chính trị của nhà nước ta bao gồm: Ðảng Cộng sản Việt nam, Mặt trận tổ quốc
Việt nam, các tổ chức thành viên, các tổ chức xã hội khác và Nhà nước Cộng hồ xã hội
chủ nghĩa Việt nam Trong cơ chế tổng hợp quản lý đất nước, nhà nước là chủ thể duy
nhất thực hiện chức năng quản lý (quản lý nhà nước) Sự quản lý của nhà nước trên cơ sở
đại diện cho toàn xã hội, cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân, thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, theo pháp luật
Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực
nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người Ðiểm
khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước và các hình thức quản lý khác (ví dụ: quản lý
của các tổ chức xã hội ), là tính quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước
khi cần Từ khi xuất hiện, nhà nuớc điều chỉnh các quan hệ xã hội được xem là quan
trọng, cần thiết Quản lý nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan
trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước
Khái niệm
Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính
nhà nước, của các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước ủy quyền quản
lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý, điều
hành các quá trình xã hội của nhà nước Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước (nói
tắt là quản lý nhà nước) chính là quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp - được thực
hiện bởi ít nhất một bên có thẩm quyền hành chính nhà nước trong quan hệ chấp hành,
điều hành
Trang 3Quản lý hành chính nhà nước trước hết và chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương các cấp, không
kể một số tổ chức thuộc nhà nước mà không nằm trong cơ cấu quyền lực như các doanh nghiệp
Ðặc điểm của quản lý hành chính nhà nước
1 Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động vừa mang tính chấp hành, vừa mang tính điều hành
- Các cơ quan hành chính nhà nước thực thi quyền hành pháp, không có quyền lập pháp
và tư pháp nhưng góp phần quan trọng vào qui trình lập pháp và tư pháp Tính chấp hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiện ở sự thực hiện trên thực tế các
văn bản hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của cơ quan lập pháp- cơ quan dân cử
- Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở chổ là để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên thực tế thì các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành các hoạt động tổ chức và chỉ đạo
trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền
- Ðể đảm bảo sự thống nhất của hai yếu tố này đòi hỏi rất nhiều yêu cầu Trong đó, quản
lý hành chính nhà nước trước hết phải bảo đảm việc chấp hành văn bản của cơ quan dân
cử đaị diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, từ đó mà thực hiện quản lý điều hành Mọi hoạt động chấp hành và điều hành đều phải xuất phát từ mục đích nhằm phục
vụ cho nhân dân, đảm bảo đời sống xã hội cho nhân dân về mọi mặt, tương ứng với các lĩnh vực trong quản lý hành chính nhà nước
2 Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính chủ động và sáng tạo Ðiều này thể hiện ở việc các chủ thể quản lý hành chính căn cứ vào tình hình, đặc điểm của từng đối tượng quản lý để đề ra các biện pháp quản lý thích hợp Tính chủ động sáng
tạo còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính để điều chỉnh các hoạt động quản lý nhà nước Tính chủ động sáng tạo được quy định bởi chính bản thân sự phức tạp, đa dạng, phong phú của đối tượng quản lý và đòi hỏi các chủ thể quản lý phải áp dụng biện pháp giải quyết mọi tình huống phát sinh một cách có hiệu quả nhất Tuy nhiên, chủ động và sáng tạo không vượt ra ngoài phạm vi của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật nhà nước Ðể đạt được điều này, đòi hỏi tôn trọng triệt để tất cả các nguyên tắc trong hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước
3 Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được bảo đảm về phương diện tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
- Trước hết là bộ máy cơ quan nhà nước - đây là hệ thống cơ quan nhiều về số lượng, biên chế; phức tạp về cơ cấu tổ chức; đa dạng về chức năng, nhiệm vụ cũng như phương pháp hoạt động; có cơ sở vật chất to lớn, có đối tượng quản lý đông đảo, đa dạng, chủ thể chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước, đó là điều kiện quan trọng để thực hiện nhiệm
Trang 4vụ quản lý Các cơ quan hành chính trực tiếp xử lý công việc hàng ngày của Nhà nước,
thường xuyên tiếp xúc với dân, giải quyết các yêu cầu của dân, là cầu nối quan trọng của
Ðảng, nhà nước với nhân dân Nhân dân đánh giá chế độ, đánh giá Ðảng trước hết thông
qua hoạt động của bộ máy hành chính
- Bảo đảm tính liên tục và ổn định trong hoạt động quản lý Liên tục để tránh lối làm việc
hô hào, theo phong trào Tính ổn định nhằm để đảm bảo các hoạt động như: lưu trữ hồ sơ,
giấy tờ Ðó có thể nói là trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước đối với xã hội
4 Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có mục tiêu chiến lược, có chương trình và
có kế hoạch để thực hiên mục tiêu Công tác quản lý hành chính nhà nước là hoạt động
có mục đích và định hướng Vì vậy, phải có chương trình, kế họach dài hạn, trung hạn và
hàng năm Có các chỉ tiêu vừa mang tính định hướng, vừa mang tính pháp lệnh; có hệ
thống pháp luật vừa được áp dụng thực thi triệt để cho hoạt động quản lý, vừa tạo hành
lang pháp lý cho hoạt động đặt dưới sự quản lý ấy
5 Quản lý hành chính nhà nước XHCN không có sự cách biệt tuyệt đối về mặt xã hội
giữa chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý (chủ thể chịu sự quản lý) Cán bộ quản lý
nhà nước phải là "công bộc" của nhân dân, biết lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân
dân, thu hút được rộng rãi quần chúng nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và
xã hội Chống quan liêu, cửa quyền, hách dịch, ức hiếp quần chúng
6 Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao Ðó chính là nghiệp vụ của một nền hành
chính văn minh, hiện đại Khi nói đến một "nền kinh tế tri thức"- nền kinh tế mà ở đó giá
trị của tri thức, của sự hiểu biết được đặt lên hàng đầu-thì đội ngũ quản lý nền kinh tế tri
thức ấy phải có một tầm vóc tương xứng Quản lý nhà nước khác với hoạt động chính trị
ở chổ: trình độ kiến thức chuyên môn và kỹ năng quản lý thực tiễn làm tiêu chuẩn hàng
đầu
7 Tính không vụ lợi: Quản lý hành chính nhà nước lấy việc phục vụ lợi ích công làm
động cơ và mục đích của hoạt động Quản lý hành chính nhà nước không phải vì lợi ích
thù lao, càng không theo đuổi mục đích kinh doanh lợi nhuận Cán bộ hành chính vì vậy
phải bảo đảm "cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư"
II LUẬT HÀNH CHÍNH-MỘT NGÀNH LUẬT ĐỘC LẬP TRONG HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ðối tượng điều chỉnh của một ngành luật nói chung là những quan hệ xã hội xác định các
đặc tính cơ bản giống nhau và do những quy phạm thuộc ngành luật đó điều chỉnh Cùng
với phương pháp điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh là tiêu chuẩn để phân biệt ngành luật
này với ngành luật khác
Ðối tượng điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam là những quan hệ xã hội chủ yếu và
cơ bản hình thành trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, hay nói khác hơn đối
Trang 5tượng điều chỉnh của luật hành chính là những quan hệ xã hội hầu hết phát sinh trong hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước
Nhìn chung, đối tượng điều chỉnh của luật hành chính bao gồm những vấn đề sau:
+ Việc thành lập, cải tiến cơ cấu bộ máy, cải tiến chế độ làm việc, hoàn chỉnh các quan hệ công tác của các cơ quan nhà nước
+ Các hoạt động quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự xã hội trên từng địa phương và từng ngành
+ Trực tiếp phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân Ðây phải được xác định
là mục tiêu hàng đầu của quản lý hành chính
+ Khen thưởng, trao danh hiệu cho các cá nhân tổ chức có đóng góp và đạt được những thành quả nhất định trong lĩnh vực hành chính nhà nước hoặc trong các lĩnh vực của đời sống xã hội theo luật định; xử lý các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước
Căn cứ vào phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam ta có thể chia các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của luật hành chính thành hai nhóm lớn
* Nhóm 1: Những quan hệ quản lý phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính
nhà nước thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trong phạm vi các cơ quan hành chính nhà nước (ngoại trừ hoạt động trong quan hệ công tác nội bộ), với mục đích chính là đảm bảo trật tự quản lý, hoạt động bình thường của các cơ quan hành chính nhà nước
Nhóm này thường được gọi ngắn gọn là nhóm hành chính công Nói một cách ngắn gọn, quan hệ pháp luật hành chính công được hình thành giữa các bên chủ thể đều mang tư cách có thẩm quyền hành chính nhà nước khi tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính
đó
Ðây là nhóm những quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh cơ bản của luật hành chính Thông qua việc thiết lập những quan hệ loại này, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện các chức năng cơ bản của mình Những quan hệ này rất đa dạng, phong phú bao gồm những quan hệ được chia thành 2 nhóm nhỏ như sau:
* Quan hệ dọc
1 Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới theo hệ thống dọc Ðó là những cơ quan nhà nước có cấp trên, cấp dưới phụ thuộc nhau về chuyên môn kỷ thuật, cơ cấu, tổ chức
Trang 6Ví dụ: Mối quan hệ giữa Chính phủ với UBND tỉnh Cần Thơ; Bộ Tư pháp với Sở Tư
pháp
2 Quan hệ hình thành giữa cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên với cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cấp dưới trực tiếp nhằm thực hiện chức năng theo quy định của pháp luật
Ví dụ: Mối quan hệ giữa Bộ Tư pháp với UBND tỉnh Cần Thơ; giữa Sở Thương mại tỉnh
Cần Thơ với UBND huyện Ô Môn
3 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị, cơ sở trực thuộc
Ví dụ: Quan hệ giữa Bộ Giáo dục - Ðào tạo với Trường đại học Cần Thơ, Giữa Bộ Y tế
- Một khi quyết định vấn đề gì thì cơ quan này phải được sự đồng ý, cho phép hay phê chuẩn của cơ quan kia trong lĩnh vực mình quản lý
Ví dụ: Mối quan hệ giữa Bộ Tài chính với Bộ Giáo dục - Ðào tạo trong việc quản lý ngân
sách Nhà nước; giữa Sở Lao động Thương binh -Xã hội với các Sở khác trong việc thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước
- Phải phối hợp với nhau trong một số lĩnh vực cụ thể
Ví dụ: Thông tư liên Bộ do Bộ giáo dục đào tạo phối hợp với Bộ tư pháp ban hành về vấn
đề liên quan đến việc đào tạo cử nhân Luật
Thông tư liên ngành do Bộ trưởng Bộ tư pháp phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao liên quan đến lĩnh vực tội phạm ban hành
3 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương với các đơn vị, cơ sở trực thuộc trung ương đúng tại địa phương đó
Ví dụ: quan hệ giữa UBND tỉnh Cần Thơ với Trường đại học Cần Thơ
Trang 7Thực tiễn của hoạt động quản lý hành chính nhà nước cho thấy trong một số trường hợp pháp luật quy định có thể trao quyền thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành cho một
số các cơ quan nhà nước khác (không phải là cơ quan hành chính nhà nước), các tổ chức,
cá nhân Ðiều này có nghĩa là hoạt động quản lý hành chính nhà nước không chỉ do các
cơ quan hành chính nhà nước tiến hành
Hoạt động của các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức hoặc cá nhân được trao quyền có tất cả các hậu quả pháp lý như hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nhưng hoạt động này chỉ giới hạn trong việc thực hiện hoạt động chấp hành điều hành
Ngoài ra, mỗi cơ quan nhà nước đều có chức năng cơ bản riêng và muốn hoàn thành chức năng cơ bản của mình, mỗi cơ quan nhà nước phải tiến hành những hoạt động như kiểm tra nội bộ, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ, phối hợp hoạt động giữa các bộ phận của cơ quan, công việc văn phòng, đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết Ðây là hoạt động tổ chức nội bộ còn gọi là quan hệ công tác nội bộ khác với quan
hệ pháp luật hành chính, nhưng có quan hệ chặt chẽ với hoạt động hành chính Nếu hoạt động này được tổ chức tốt thì hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính ấy sẽ cao và
ngược lại, nếu việc tổ chức nội bộ quá cồng kềnh thì hoạt động hành chính của cơ quan
đó sẽ mang lại hiệu quả không cao
* Nhóm 2: Các quan hệ quản lý hình thành khi các cơ quan hành chính nhà nước
thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trong các trường hợp cụ thể liên quan trực tiếp tới các đối tượng không có thẩm quyền hành chính nhà nước hoặc tham gia vào quan hệ đó không với tư cách của cơ quan hành chính nhà nước, với mục đích chính là phục vụ trực tiếp nhân dân, đáp ứng các quyền và lợi hợp pháp của công dân,
tổ chức
Nói ngắn gọn, đây là quan hệ pháp luật hành chính tư, hình thành giữa một bên chủ thể tham gia với tư cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước và một bên chủ thể tham gia không với tư cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước Nhóm này được gọi ngắn gọn là nhóm hành chính tư" Ðây là mục đích cao nhất của quản lý hành chính nhà nước khi cơ quan hành chính- cơ quan được xem là công bộc của nhân dân, quản lý
hành chính vì quyền lợi nhân dân, vì trật tự chung cho toàn xã hội, bao gồm các quan hệ
cụ thể sau đây:
1 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Các đơn vị kinh tế này được đặt dưới sự quản lý thường xuyên của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền
Ví dụ: Giữa UBND huyện Ô Môn với Hợp tác xã sản xuất nhà nước trên địa bàn huyện
Ô Môn
2 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng
Trang 8Ví dụ: Quan hệ giữa Chính phủ với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên
của Mặt trận
3 Quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch đang làm ăn cư trú tại Việt Nam
Ví dụ: quan hệ giữa cảnh sát với cá nhân (gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài,
người không quốc tịch) vi phạm luật lệ giao thông
* Mối liên hệ giữa hành chính tư và hành chính công
Thật ra mọi sự phân chia chỉ mang tính chất tương đối để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trính nghiên cứu Hai lĩnh vực hành chính tư và hành chính công liên quan trực tiếp và tương hỗ cho mục đích của quản lý hành chính nhà nước Quản lý hành chính công là cơ
sở để bảo đảm hoạt đông bình thườỡng của cơ quan hành chính nhà nước Trong khi đó, quản lý hành chính tư thể hiện rõ trực tiếp mục đích của quản lý hành chính, giữ gìn trật
tự quản lý xã hội theo nguyên vọng của nhân dân Trong quá trình quản lý, có những công việc liên quan đền cả hai lĩnh vực hoặc rất khó phân biệt giữa hai phạm vi: hành chính tư và hành chính công Chẳng hạn như khi nhận được đơn khiếu nại về việc cấp giấy phép xây dựng cho một cá nhân công dân đối với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới, cơ quan cấp trên trực tiếp ra chỉ thị buộc cơ quan hành chính cấp dưới phải xem xét lại quyết định của cơ quan ấy Trường hợp này phát sinh này có 3 quan hệ pháp luật hành chính (hai quan hệ pháp luật hành chính tư, một quan hệ pháp luật hành chính công)
Trên cơ sở phân tích đặc điểm của các vấn đề liên quan đến luật hành chính, đối tượng điều chỉnh của luật hành chính, có thể đưa ra định nghĩa luật hành chính như sau:
Luật hành chính là một ngành luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước, các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan nhà nước xây dựng và ổn định chế độ công tác nội bộ của mình, các quan hệ xã hội trong quá trình các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cá nhân thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước đối với các vấn đề cụ thể do pháp luật quy định
Ngoài ra có thể định nghĩa luật hành chính một cách ngắn gọn hơn: Luật hành chính là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước
Như vậy, qua định nghĩa trên ta thấy rằng chỉ có thể nói đến điều chỉnh bằng pháp luật hành chính khi trong quan hệ quản lý phải có ít nhất một bên có thẩm quyền với tư cách
là chủ thể thực hiện chức năng chấp hành và điều hành của nhà nước Nếu cơ quan hành chính nhà nước hoạt động không phải trong phạm vi, lĩnh vực thẩm quyền của mình,
không sử dụng quyền lực nhà nước, thì hoạt động đó được thực hiện không phải thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật hành chính
Trang 92 Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính Việt Nam TOP
Phương pháp điều chỉnh của một ngành luật là cách thức tác động đến các quan hệ xã hội
bằng pháp luật Phương pháp điều chỉnh là yếu tố quan trọng để xác định ngành luật đó
có phải là ngành luật độc lập hay không Ngoài ra, phương pháp điều chỉnh còn góp phần
xác định phạm vi điều chỉnh của các ngành luật trong trường hợp những quan hệ xã hội
có chỗ gần kề hoặc đan xen với nhau
Ðặc trưng của phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là tính mệnh lệnh đơn
phương, xuất phát từ quan hệ quyền uy - phục tùng giữa một bên có quyền nhân danh nhà
nước và ra những mệnh lệnh bắt buộc đối với bên có nghĩa vụ phục tùng Sự áp đặt ý chí
được thể hiện trong các trường hợp sau:
- Cả hai bên đều có những quyền hạn nhất định do pháp luật quy định nhưng bên này
quyết định vấn đề gì thì phải được bên kia cho phép, phê chuẩn Ðây là quan hệ đặc trưng
của hành chính công
- Một bên có quyền đưa ra những yêu cầu, kiến nghị còn bên kia có thẩm quyền xem xét,
giải quyết, có thể thỏa mãn những yêu cầu, kiến nghị này hoặc có thể bác bỏ
- Một bên có quyền ra các mệnh lệnh yêu cầu còn bên kia phải phục tùng các yêu cầu,
mệnh lệnh đó
- Một bên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính buộc đối tượng quản lý
phải thực hiện mệnh lệnh của mình Sự bất bình đẳng còn thể hiện rõ nét trong tính chất
đơn phương và bắt buộc của các quyết định hành chính
Các cơ quan hành chính nhà nước và các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, dựa vào
thẩm quyền của mình trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình có quyền ra những mệnh
lệnh hoặc đề ra các biện pháp quản lý thích hợp đối với từng đối tượng quản lý cụ thể
Những quyết định ấy có tính chất đơn phương vì chúng thể hiện ý chí của chủ thể quản lý
hành chính nhà nước trên cơ sở quyền lực đã được pháp luật quy định
Ngoài ra, có những trường hợp phương pháp thoả thuận được áp dụng trong quan hệ
pháp luật hành chính, còn gọi là "quan hệ pháp luật hành chính theo chiều ngang" Cụ thể
như khi ban hành các văn bản liên bộ, liên ngành, liên tịch (ví dụ: Thông tư Liên Bộ của
Bộ Tư pháp và Bộ Xây dựng; Thông tư liên tịch giữa Mặt trận Tổ Quốc Việt nam và Bộ
giáo dục ) Tuy nhiên, các "quan hệ pháp luật hành chính theo chiều ngang" cũng là tiền
đề cho sự xuất hiện "quan hệ pháp luật hành chính theo chiều dọc" Suy cho cùng, các
quan hệ pháp luật hành chính cũng không hoàn toàn bình đẳng tuyệt đối Trên những đặc
quyền hành chính và thể chế hành chính, các bên chấp nhận những đề nghị của nhau,
cùng phục vụ cho mục đích quản lý hành chính nhà nước
Tóm lại: Phương pháp điều chỉnh chủ yếu của luật hành chính Việt Nam là phương pháp
mệnh lệnh đơn phương Nó được xây dựng trên các nguyên tắc sau:
Trang 10- Một bên được nhân danh nhà nước sử dụng quyền lực để đưa ra các quyết định hành
chính còn bên kia phải tuân theo những quyết định ấy
- Quyết định hành chính phải thuộc phạm vi thẩm quyền của bên nhân danh nhà nước, vì
lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội, trên cơ sở pháp luật có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với
các bên hữu quan và được đảm bảo thi hành bằng sự cưỡng chế nhà nước
Từ các phân tích trên, có thể kết luận được Luật Hành chính là ngành luật độc lập trong
hệ thống pháp luật Việt nam, có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh đặc thù
gắn liền với khái niệm quản lý hành chính nhà nước
III MỐI QUAN HỆ GIỮA LUẬT HÀNH CHÍNH VỚI MỘT SỐ NGÀNH LUẬT
KHÁC
Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật khác nhau, mỗi ngành luật điều
chỉnh những quan hệ xã hội nhất định với những đối tượng riêng và bằng những phương
pháp điều chỉnh nhất định Ngoài việc phân biệt các ngành luật với nhau nhằm làm rõ sự
đặc thù của mỗi ngành luật, còn phải thấy được mối quan hệ giữa chúng trong một chỉnh
thể hoàn chỉnh: hệ thống pháp luật Việt nam
Luật hiến pháp là ngành luật có đối tượng điều chỉnh là những quan hệ xã hội cơ bản
nhất, quan trọng nhất như chính sách cơ bản của nhà nước trong lĩnh vực đối nội đối
ngoại; chế độ kinh tế - chính trị; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính
trị của nước ta; thiết lập bộ máy nhà nước Ðối tượng điều chỉnh của luật hiến pháp rộng
hơn đối tượng điều chỉnh của luật hành chính
Luật hành chính giữ vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa, chi tiết hóa các quy phạm
pháp luật nhà nước để từ đó điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động
chấp hành và điều hành của nhà nước Ngược lại, các vấn đề quyền công dân, về tổ chức
bộ máy bộ máy nhà nước được qui định cơ bản trong hiến pháp, thể hiện rõ tính ưu việt
trong các qui phạm pháp luật hành chính
2 Luật hành chính và luật đất đai
Luật Hành chính nói ngắn gọn là ngành luật về quản lý nhà nước Quản lý hành chính
nhà nước trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội là những mảng tương ứng của luật hành
chính Luật đấi đai là một ví dụ Luật đất đai, về phương diện hành chính là ngành luật về
quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đất đai, xuất hiện, thay đổi và chấm dứt khi
cú quyết định giao đất của cơ quan nhà nước
Tuy nhiên, các quan hệ pháp luật này có những nét đặc thù riêng ở nước ta, "đất đai
thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý"[1] Vì vậy không có khái niệm
"chuyển nhượng quyền sở hữu đất", mà chỉ có khái niệm "chuyển nhượng quyền sử dụng
đất" Hơn nữa, luật đất đai không chỉ được cơ quan hành chính nhà nước điều chỉnh như
Trang 11một lĩnh vực có tính đặc thù riêng, mà còn được điều chỉnh trên cơ sở quan hệ pháp luật
dân sự liên quan đến các hợp đồng cầm cố, thế chấp đất đai Vì vậy, theo quan điểm được
nhiều nhà nghiên cứu hiện nay thống nhất, luật đất đai là một ngành luật trong hệ thống
pháp luật Việt nam, có quan hệ chặt chẽ sơ khởi với quan hệ pháp luật hành chính:
- Luật đất đai là ngành luật điều chỉnh quan hệ giữa nhà nước, với tư cách là chủ sở hữu
duy nhất đối với đất đai
- Trong quan hệ pháp luật đất đai, nhà nước có tư cách vừa là chủ sở hữu, vừa là người
thực hiện quyền lực nhà nước
Cả hai ngành luật này đều có các chế định pháp lý quy định hành vi vi phạm pháp luật và
các hình thức xử lý đối với người vi phạm Trong cả hai quan hệ pháp luật này, ít nhất là
một bên trong quan hệ nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước
- Hơn nữa, việc phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm hành chính đôi khi khá phức tạp,
nhất là những trường hợp vi phạm hành chính "chuyển hoá" thành tội phạm
- Luật hành chính qui định nhiều nguyên tắc có tính bắt buộc chung, ví dụ như: qui tắc an
toàn giao thông, qui tắc phòng cháy chữa cháy, qui tắc lưu thông hàng hoá, văn hoá
phẩm Trong một số trường hợp, khi vi phạm qui tắc ấy có thể bị truy cứu trách nhiệm
hình sự Ví dụ như: hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, trốn thuế Những
hành vi nêu trên nếu được thực hiện lần đầu với số lượng không lớn thì là vi phạm hành
chính, còn nếu với số lượng lớn hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn tái phạm thì đó là tội
phạm Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác biệt cơ bản sau:
Luật hình sự quy định hành vi nào là tội phạm, hình phạt nào áp dụng cho hành vi phạm
tội, điều kiện, thủ tục áp dụng Ðể xác định hành vi nào thuộc đối tượng điều chỉnh của
luật hình sự cần phải xem xét các yếu tố cấu thành của tội phạm về mặt chủ quan, khách
quan, chủ thể, khách thể Thêm nữa, luật hình sự phân biệt với luật hành chính ở tính chất
hành vi có tính chất nguy hiểm cao, mức độ thiệt hại lớn hơn
Còn luật hành chính lại quy định về các hành vi vi phạm hành chính, các hình thức xử lý
vi phạm hành chính và các vấn đề khác liên quan đến việc xử lý đối với cá nhân, tổ chức
vi phạm hành chính Sự khác nhau giữa hai ngành luật này là ở tính chất, mức độ của
hành vi vi phạm
Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính không phải là
hình phạt vi phạm hành chính mà là chế tài đối với vi phạm hành chính "Hình phạt"
trong hệ thống pháp luật Việt nam chỉ được qui định và áp dụng trong luật hình sự mà
thôi
4 Luật hành chính và luật dân sự
Trang 12Ðối tượng điều chỉnh của luật dân sự là những quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa
tiền tệ và các quan hệ nhân thân phi tài sản Luật dân sự quy định nội dung quyền sở hữu,
những hình thức chuyển nhượng, sử dụng, định đoạt tài sản và phương pháp điều chỉnh
của luật dân sự là phương pháp bình đẳng, thỏa thuận Trong quan hệ pháp luật dân sự
các chủ thể bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ Trong khi đó đối tượng điều chỉnh
của luật hành chính là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chấp hành-điều hành
Luật hành chính quy định những vấn đề như thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong
quản lý nhà vắng chủ, trưng mua tài sản
Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là mệnh lệnh đơn phương, dựa trên nguyên
tắc quyền uy - phục tùng Các cơ quan quản lý hành chính nhà nước có thể trực tiếp điều
chỉnh quan hệ tài sản thông qua việc ban hành quyết định chuyển giao tài sản giữa các cơ
quan, tổ chức đó Một số cơ quan quản lý có quyền ra quyết định tịch thu, kê kiên tài sản
hoặc phạt tiền Nhưng trong cơ chế quản lý mới hiện nay, các cơ quan quản lý nhà nước
chủ yếu điều chỉnh quan hệ tài sản một cách gián tiếp thông qua các quyết định về kế
hoạch, tiêu chuẩn, chất lượng, về cơ chế định giá
Mặt khác, trong nhiều trường hợp, các cơ quan quản lý nhà nước cũng tham gia trực tiếp
vào quan hệ pháp luật dân sự Nhưng ở đây, các cơ quan đó không hoạt động với tư cách
trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước, mà tham gia với tư cách một pháp nhân,
do vậy không thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật hành chính
Nhiều qui phạm của Luật Hành chính và Luật lao động đan xen, phối hợp để điều chỉnh
những vấn đề cụ thể liên quan tới hoạt động công vụ, lao động viên chức, tuyển dụng,
cho thôi việc đối với viên chức nhà nước, nhưng điều chỉnh từ những góc độ khác nhau
Nếu luật lao động "nội dung" của việc quản lý trong lĩnh vực quan hệ lao động, "trình tự
ban hành" các quan hệ lao động ấy lại được qui định trong luật hành chính Nói một cách
cụ thể:
Luật lao động điều chỉnh những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của người
lao động như quyền nghỉ ngơi, quyền được trả lương, quyền hưởng bảo hiểm xã hội và
bảo hộ lao động
Luật hành chính xác định thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh
vực lao động, đồng thời điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến việc tổ chức quá
trình lao động và chế độ công vụ, thủ tục tuyển dụng, thôi việc, khen thưởng
Hai ngành luật này quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện:
- Quan hệ pháp luật hành chính là phương tiện thực hiện quan hệ pháp luật lao động
Ví dụ: Sau khi thi đậu và được công nhận vào ngạch công chức, cán bộ A được hưởng
các chế độ nghỉ lễ, tử tuất do luật lao động qui định
Trang 13- Quan hệ pháp luật lao động lại là tiền đề của quan hệ pháp luật hành chính
Ví dụ: Sau khi ký hợp đồng lao động với xí nghiệp (doanh nghiệp nhà nước), cá nhân A
với tư cách là thành viên của tập thể lao động xí nghiệp đó, có quyền tham gia quản lý
trong doanh nghiệp theo nhiệm vụ được phân công
Luật tài chính là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động tài
chính của nhà nước, trong đó bao gồm cả các lĩnh vực về thu chi ngân sách, phân phối
nguồn vốn của nhà nước mang tính chất tiền tệ liên quan đến nguồn thu nhập quốc dân
Nhìn một cách tổng quát, luật tài chính và luật hành chính đều điều chỉnh hoạt động tài
+ Luật hành chính chứa đựng các QPPL qui định thẩm quyền của các cơ quan của các
công tác tài chính vừa là qui phạm của luật hành chính, đồng thời là nguồn của luật tài
chính
Tuy vậy, không chỉ có nguồn gốc liên quan chặt chẽ đến luật hành chính, mà còn có mối
quan hệ với luật hiến pháp và một phần của luật dân sự Các nguyên tắc của luật dân sự
được áp dụng trong một số hoạt động tài chính như tín dụng, thuế còn luật tài chính đa
phần là điều chỉnh chính các quan hệ tín dụng, thuế ấy
IV HỆ THỐNG NGÀNH LUẬT HÀNH CHÍNH VÀ VAI TRÒ LUẬT HÀNH
CHÍNH VIỆT NAM
Luật hành chính gồm tổng thể những quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ quản
lý nhà nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, có mối quan hệ mật thiết với
nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất gọi là hệ thống ngành luật hành chính Việt Nam
Hệ thống này được phân chia theo các tiêu chí sau:
1 Theo chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý:
- Qui phạm pháp luật Hành chính công
- Qui phạm pháp luật Hành chính tư
Trang 142 Theo phạm vi quản lý:
- Quản lý hành chính nhà nước nói chung
- Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực đời sống xã hội
Trên cơ sở kết hợp các cách phân loại trên, luật hành chính sẽ được nghiên cứu tập trung
các phần cơ bản và thiết yếu nhất, sẽ được trình bày chi tiết ở phần: môn học luật Hành
chính
Luật hành chính Việt Nam là một ngành luật về quản lý nhà nước, đúng một vai trò hết
sức quan trọng trong mọi mặt của đời sống xã hội Cụ thể:
a Về phương diện chính trị:
- Tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện bộ máy nhà nước,
việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;
- Góp phần quan trọng trong việc bảo vệ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
b Về phương diện kinh tế
- Ðóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân;
- Thúc đẩy các lĩnh vực kinh tế phát triển đồng bộ, nâng cao đời sống nhân dân
c Về phương diện xã hội
- Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tập thể, của nhà nước;
- Hướng tới mục tiêu cao cả nhất của thể chế hành chính, đồng thời cũng là bản chất của
Trang 15V KHOA HỌC LUẬT HĂNH CHÍNH
Khoa học luật hănh chính lă một ngănh khoa học phẫp lý chuyín ngănh, bao gồm một
hệ thống những cơ sở lý luận, học thuyết khoa học, phạm trù, quan niệm về ngănh Luật
Hănh chính Sự phât triển của môn khoa học năy liín quan chặt chẽ đến quâ trình ra đời
vă phât triển của hệ thống văn bản phâp luật điều chỉnh hoạt động quản lý hănh chính nhă
nước
Lă hoạt động quản lý hănh chính nhă nước, những quan hệ hình thănh trong quâ trình
quản lý hănh chính nhă nước vă việc điều chỉnh những quan hệ ấy, hệ thống phâp luật
hănh chính vă hiệu quả của hoạt động quản lý hănh chính nhă nước Cụ thể như sau:
- Quản lý hănh chính nhă nước, chủ thể quản lý vă chủ thể của quản lý hănh chính nhă
nước
- Câch thức quản lý hănh chính nhă nước
- Những phương thức nhằm bảo đảm phâp chế XHCN vă kỷ luật nhă nước
- Quản lý hănh chính nhă nước trong trong lĩnh vực qui hoạch xđy dựng: những phât hiện
mới mẻ trong lĩnh vực hănh chính tư
- Tố tụng hănh chính vă câc vấn đề có liín quan
- Quản lý hănh chính nhă nước trong một số lĩnh vực của đời sống xê hội
2 Nhiệm vụ của khoa học luật hănh chính
Lăm sâng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý nhă nước, nghiín cứu tổng kết thực tiễn
hoạt động của câc cơ quan hănh chính nhă nước, thực tiễn xđy dựng vă âp dụng phâp luật
trong quản lý hănh chính nhă nước, đề xuất những ý kiến nhằm hoăn thiện câc chế định
phâp luật hănh chính Cải câch nền hănh chính, đảm bảo bộ mây hănh chính thực sự lă
công bộc của nhđn dđn
a Khâi niệm
Phương phâp luận của luật hănh chính lă câch thức tiếp cận vấn đề mă luật hănh chính
điều chỉnh
b Câc phương phâp
Trang 16- Theo phép duy vật biện chứng (nhìn nhận sự vật hiện tượng trong trạng thái vận động
không ngừng)
- Theo chủ nghĩa Mac-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Ðặc biệt, những tác phẩm, bài
viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật, pháp chế; nhiệm vụ của chính
quyền các cấp, về bộ máy nhà nước, về cán bộ, về mối quan hệ giữa cán bộ nhà nước và
nhân dân là những tài liệu hết sức quớ báu cho việc định hướng hoạt động quản lý nhà
nước
- Các nghị quyết của đại hội Ðảng Cộng Sản Việt nam với những chủ trương đường lối,
chính sách, đề ra những nguyên tắc cơ bản, những biện pháp chủ yếu nhằm đổi mới, hoàn
thiện bộ máy nhà nước, mà trước hết là bộ máy hành chính nhà nước
- Khoa học luật hành chính có mối quan hệ mật thiết với các ngành khoa học xã hội cơ
bản như: triết học, kinh tế chính trị, lý luận nhà nước và pháp luật, khoa học luật hiến
pháp
- Khoa học luật hành chính cũng có mối liên hệ mật thiết với nhiều môn khoa học nghiên
cứu về hoạt động nghiên cứu, đặc biệt là khoa học quản lý Sự phát triển của cả các
ngành khoa học này là yếu tố quan trọng góp phần và tăng cường hiệu lực quản lý của
nhà nước
Ngoài ra, khoa học luật hành chính cũng sử dụng hàng loạt phương pháp cụ thể để nghiên
cứu về những quan hệ xã hội về hành chính như: phương pháp lịch sử, phương pháp so
sánh pháp luật, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp
điều tra xã hội học, phương pháp thực nghiệm
4 Nguồn tài liệu
Nghiên cứu luật hành chính và quản lý hành chính nhà nước trên cơ sở đường lối, chính
sách của Ðảng, học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước "dân
là gốc"
Thông qua thực tiễn của hoạt động quản lý, bổ sung và rút kinh nghiêm
Luật hành chính là một ngành Luật độc lập, gắn liền với sự phát triển nhà nước và pháp
luật, có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt nam Ðể đánh giá
hiệu quả hoạt động của một bộ máy nhà nước, người ta không thể không xem xét đến
hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan được xem là "bộ mặt" của bộ máy
nhà nước, trãi dài từ trung ương đến địa phương với đội ngũ viên chức đông đảo nhất
Luật Hành chính, vì thế là một ngành luật có phạm vi nghiên cứu rộng, trên tất các các
lĩnh vực của đời sống xã hội về phương diện quản lý nhà nước Môn học trang bị cho
sinh viên những kiến thức lý luận khoa học luật hành chính và khà năng áp dụng những
kiến thức thực tiễn trên một số lĩnh vực quản lý cơ bản của đời sống xã hội vào thực tế
Trang 17Trong môn học Luật Hành chính, sinh viên sẽ nghiên cứu những nội dung tương ứng với các bốn phần sau đây:
BÀI 2:CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động có mục đích Những mục đích, mục tiêu
cơ bản định ra trước cho hoạt động quản lý và kết quả của việc đạt được mục đích, mục tiêu đó phản ánh hiệu quả của việc quản lý Hiệu quả của quản lý vì vậy phải được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định Ðặc biệt, khi Luật hành chính thực định vẫn còn chưa được tập trung- chỉ là tập hợp các văn bản về quản lý nhà nước, tồn tại dưới nhiều hình thức văn bản pháp lý không cao, thì nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước
là một đòi hỏi bức thiết và sự tuân thủ hệ thống các nguyên tắc càng đòi hỏi chặt chẽ
I KHÁI NIỆM VÀ HỆ THỐNG CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN
Dưới góc độ của luật hành chính, nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước là tổng thể những quy phạm pháp luật hành chính có nội dung đề cập tới những tư tưởng chủ đạo làm cơ sở để tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước Mỗi nguyên tắc quản lý đều có những hình thức biểu hiện khác nhau
b) Ðược qui định ở đâu?
Các nguyên tắc quản lý nhà nước nói chung và những nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước nói riêng đã được quy định trong pháp luật như quy định trong hiến pháp, luật, văn bản dưới luật Những nguyên tắc được quy định trong hiến pháp được xem là nguyên tắc
cơ bản nhất
c) Ðặc điểm
Trang 181 Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước mang tính chất khách quan bởi vì chúng
được xây dựng, đúc kết từ thực tế cuộc sống và phản ánh các quy luật phát triển khách
quan Tuy nhiên, các nguyên tắc trên cũng mang yếu tố chủ quan bởi vì chúng được xây
dựng bởi con người mà con người dựa trên những nhận thức chủ quan để xây dựng
2 Các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có tính ổn định cao nhưng không phải là
nguyên tắc bất di bất dịch Nó gắn liền với quá trình phát triển của xã hội, tích lũy kinh
nghiệm, thành quả của khoa học về quản lý hành chính nhà nước
3 Tính độc lập tương đối với chính trị Hệ thống chính trị của nhà nước Việt nam được
thực hiện thông qua: các tổ chức chính trị xã hội (Ðảng, Mặt trận tổ quốc ), và bộ máy
nhà nước (Lập pháp, hành pháp, tư pháp) Trong hệ thống nguyên tắc quản lý hành chính
nhà nước có cả những nguyên tắc riêng, đặc thù trong hoạt động quản lý hành chính nhà
nước Tuy nhiên giữa hoạt động chính trị và quản lý nhà nước có mối quan hệ hữu cơ
chặt chẽ Các quan điểm chính trị là cơ sở của việc tổ chức hoạt động quản lý hành chính
nhà nước và hoạt động quản lý hành chính nhà nước thực hiện tốt không chỉ đòi hỏi được
trên pháp luật (luật), mà còn phải thực hiện đúng đắn các quan điểm chính trị (chính
sách)
4 Mỗi nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước có nội dung riêng, phản ánh những khía
cạnh khác nhau của quản lý hành chính nhà nước Tuy nhiên, những nguyên tắc này có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất Việc thực hiện tốt nguyên
tắc này sẽ tạo tiền đề cho việc thực hiện có hiệu quả nguyên tắc khác Vì thế nên các
nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước luôn thể hiện tính hệ thống, tính thống nhất và
đây là một thuộc tính vốn có của chúng
Các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước có nội dung đa dạng, có tính thống
nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau Vì thế cần phải xác định được chúng gồm những
nguyên tắc cơ bản nào, cần phải phân loại chúng một cách khoa học để xác định được vị
trí, vai trò của từng nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước, từ đó xây dựng và áp
dụng hệ thống các nguyên tắc một cách có hiệu quả vào thực tiễn quản lý hành chính nhà
nước
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được biểu hiện cụ thể trong hoạt động tổ chức,
nó bao gồm hai mặt: tổ chức chính trị và tổ chức kỹ thuật Dựa trên những cơ sở khoa
học về quản lý nhà nước ta chia các nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước thành
hai nhóm là nhóm những nguyên tắc chính trị-xã hội và nhóm những nguyên tắc tổ chức
kỹ thuật Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì yếu tố tổ
chức kỹ thuật và chính trị trong quản lý hành chính nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ
nhau Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật là để thực hiện một cách đúng đắn
các nguyên tắc chính trị-xã hội và việc thực các nguyên tắc chính trị - xã hội là cơ sở để
thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật
Hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước bao gồm:
Trang 19Nhóm những nguyên tắc chính trị-xã hội
1 Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước;
2 Nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước;
3 Nguyên tắc tập trung dân chủ;
4 Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc;
5 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;
Nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật
6 Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ;
7 Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng
8 Phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh
II CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ
NƯỚC
A Các nguyên tắc chính trị-xã hội
a) Cơ sở pháp lý
Ðiều 4-Hiến pháp 1992 quy định: Ðảng cộng sản Việt Nam-đội ngũ tiên phong của giai
cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là
lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội
b) Nội dung nguyên tắc
Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của Ðảng là hạt nhân của mọi thắng lợi của cách
mạng Việt Nam Bằng những hình thức và phương pháp lãnh đạo của mình, Ðảng cộng
sản giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của nhà nước
trên mọi lĩnh vực; sự lãnh đạo của Ðảng đối với nhà nước mang tính toàn diện về chính
trị, kinh tế, văn hóa xã hội Sự lãnh đạo đó chính là việc định hướng về mặt tư tưởng, xác
định đường lối, quan điểm giai cấp, phương châm, chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh
vực chuyên môn
Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện cụ thể ở các hình
thức hoạt động của các tổ chức Ðảng:
Trang 201 Trước hết, Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra đường
lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý
hành chính nhà nước Trên cơ sở đường lối chủ trương, chính sách của Ðảng Các chủ
thể quản lý hành chính nhà nước xem xét và đưa ra các quy định quản lý của mình để từ
đó đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng sẽ được thực hiện hóa trong quản lý hành
chính nhà nước Trên thực tế, đường lối cải cách hành chính nhà nước được đề ra trong
nghi quyết đại hội đại biểu Ðảng cộng sản Việt nam lần thứ VI và thứ VII và trong Nghị
quyết trung ương khó VIII về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hồ Xã hội Chủ nghĩa
Việt nam, mà trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính quốc gia là kim chỉ nam
cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước
2 Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán
bộ Các tổ chức Ðảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng viên ưu tú, có phẩm chất và
năng lực gánh vác những công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, đưa ra các ý kiến
về việc bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành
chính nhà nước Tuy nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà
nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, ý kiến của tổ chức Ðảng là cơ sở để cơ
quan xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng
3 Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thông qua công tác kiểm tra việc
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng trong quản lý hành chính nhà
nước Thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả, tính thực tế của các chủ trương chính
sách mà Ðảng đề ra từ đó khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong
công tác lãnh đạo
4 Sự lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông
qua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Ðảng và của từng Ðảng viên Ðây là cơ
sở nâng cao uy tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà nước
5 Ðảng chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân Sự lãnh đạo của Ðảng là cơ sở bảo
đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, lôi cuốn nhân dân lao động
tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước ở tất cả các cấp quản lý
6 Ðây là nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, cần được vận dụng một
cách khoa học và sáng tạo cơ chế Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
trong quản lý hành chính nhà nước, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo
của Ðảng cũng như khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành
chính nhà nước Vì vậy, đường lối, chính sách của Ðảng không được dùng thay cho luật
hành chính, Ðảng không nên và không thể làm thay cho cơ quan hành chính nhà nước
Các nghị quyết của Ðảng không mang tính quyền lực- pháp lý Tuy nhiên, để bảo đảm
hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước không thể tách rời sự lãnh đạo của Ðảng
a) Cơ sở pháp lý
Trang 21Ðiều 2 - Hiến pháp 1992 nêu rõ: Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam là nhà nước của dân, do dân và vì dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức
b) Nội dung nguyên tắc
Việc tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào quản lý hành chính nhà nước thông qua các hình thức trực tiếp và gián tiếp tương ứng như sau:
1 Tham gia gián tiếp:
* Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước
Các cơ quan trong bộ máy nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước, việc nhân dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước là hình thức tham gia tích cực, trực tiếp và có hiệu quả nhất trong quản lý hành chính nhà nước Người lao động nếu đáp ứng các yêu cầu của pháp luật đều có thể tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào công việc quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
- Người lao động có thể tham gia trực tiếp vào cơ quan quyền lực nhà nước với tư cách là thành viên của cơ quan này - họ là những đại biểu được lựa chọn thông qua bầu cử hoặc với tư cách là các viên chức nhà nước trong các cơ quan nhà nước Khi ở cương vị là thành viên của cơ quan quyền lực nhà nước, người lãnh đạo trực tiếp xem xét và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, của từng địa phương trong đó có các vấn đề quản lý hành chính nhà nước Khi ở cương vị là cán bộ viên chức nhà nước thì người lao động sẽ sử dụng quyền lực nhà nước một cách trực tiếp để thực hiện vai trò người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, có điều kiện biến những ý chí, nguyện vọng của mình thành hiện thực nhằm xây dựng đất nước giàu mạnh
- Ngoài ra, người lao động có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng thay mặt mình vào cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương Ðây là hình thức tham gia rộng rãi nhất của nhân dân vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước
* Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức xã hội Các tổ chức xã hội là công cụ đắc lực của nhân dân lao động trong việc thực hiện quyền tham gia vào quản lý hành chính nhà nước Thông qua các hoạt động của các tổ chức xã hội, vai trò chủ động sáng tạo của nhân dân lao động được phát huy Ðây là một hình thức hoạt động có ý nghĩa đối với việc bảo đảm dân chủ và mở rộng nền dân chủ ở nước ta
2 Tham gia trực tiếp
* Tham gia vào hoạt động tự quản ở cơ sở
Trang 22- Ðây là hoạt động do chính nhân dân lao động tự thực hiện, các hoạt động này gần gủi và
thiết thực đối với cuộc sống của người dân như hoạt động bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh
môi trường, Những hoạt động này xảy ra ở nơi cư trú, làm việc, sinh hoạt nên mang tính
chất tự quản của nhân dân
- Thông qua những hoạt động mang tính chất tự quản này người lao động là những chủ
thể tham gia tích cực nhất, quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội của họ được
tôn trọng và bảo đảm thực hiện
* Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà
nước
- Ðiều 53-Hiến pháp 1992 quy định công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã
hội, tham gia thảo luận những vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội hay chính người dân trực tiếp thực hiện
- Kiểm tra các cơ quan quản lý nhà nước
- Tham gia trực tiếp với tư cách là thanh viên không chuyên trách trong hoạt động cơ
quan quản lý, các cơ quan xã hội
- Tham gia với tư cách là thành viên của tập thể lao động trong việc giải quyết những vấn
đề quan trọng của cơ quan
Việc trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính
nhà nước là một hình thức có ý nghĩa quan trọng để nhân dân lao động phát huy vai trò
làm chủ của mình
Ðây là nguyên tắc được nhà nước ta thừa nhận và bảo đảm thực hiện Nguyên tắc này thể
hiện bản chất dân chủ sâu sắc giữ vai trò quan trọng thiết yếu trong quản lý hành chính
nhà nước Nhân dân không chỉ có quyền giám sát đối với hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước; thực hiện khiếu nại tố cáo nếu cho rắng cán bộ hành chính nhà nước vi
phạm quyền lợi của họ hoặc thực hiện không đúng đắn, mà còn có quyền tự mình tham
gia vào hoạt động quản lý nhà nước, trực tiếp thể hiện quyền lợi của toàn thể nhân dân
lao động Ðiều này này khẳng định vai trò hết sức đặc biệt của nhân dân lao động trong
quản lý hành chính nhà nước, đồng thời xác định những nhiệm vụ mà nhà nước phải thực
hiện trong việc đảm bảo những điều kiện cơ bản để nhân dân lao động được tham gia vào
quản lý hành chính nhà nước Ðiểm thú vị về mặt lý luận của nguyên tắc vì vậy chỉ có ý
nghĩa khi được bảo đảm thực hiện trên thực tế Có thể mở rộng, tăng cường quyền của
công dân trong hoạt động quản lý, nhưng không được phép hạn chế, thu hẹp những gì mà
Hiến pháp đã định
a) Cơ sở pháp lý
Trang 23Ðây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta nên việc thực hiện quản lý hành chính nhà nước phải tuân theo nguyên tắc này Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy định :Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt
động theo nguyên tắc tập trung dân chủ
b) Nội dung nguyên tắc
Nguyên tắc tập trung dân chủ bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và dân chủ, vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ, vừa đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạo tập trung
¨ Tuy nhiên, đây không phải là sự tập trung toàn diện và tuyệt đối, mà chỉ đối với những vấn đề cơ bản, chính yếu nhất, bản chất nhất Sự tập trung đó bảo đảm cho cơ quan cấp dưới, cơ quan địa phương có cơ sở và khả năng thực hiện quyết định của trung ương;
đồng thời, căn cứ trên điều kiện thực tế của mình, có thể chủ động sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề của địa phương và cơ sở Cả hai yếu tố này vì thế phải có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ Chúng có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc và thúc đẩy nhau cùng phát triển trong quản lý hành chính nhà nước
¨ Tập trung dân chủ thể hiện quan hệ trực thuộc, chịu trách nhiệm và báo cáo của cơ quan quản lý trước cơ quan dân chủ ; phân định chức năng, thẩm quyền giữa cơ quan quản lý các cấp, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung của cấp trên của trung ương và quyền
chủ động của cấp dưới Ngoài ra, đó là hệ thống "song trùng trực thuộc" của nhiều cơ quan quản lý, bảo đảm sự kết hợp tốt nhất sự lãnh đạo tập trung theo ngành với quyền quản lý tổng thể của địa phương
¨ Có sự phân cấp rành mạch Quyền lực nhà nước không phải được ban phát từ cấp trên
xuống cấp dưới Sự phân quyền cho từng cấp là cần thiết nhưng phải đồng thời được kết hợp với việc xác định vai trò của từng cấp hành chính: trung ương, tỉnh, huyện, xã Từ khi ra đời, mỗi cấp đã có "sứ mệnh lịch sử" và vai trò quản lý hành chính nhà nước riêng, đặc thù Có những chức năng được thực hiện ở cấp dưới lại có hiệu quả hơn cấp trên, hoặc có những chức năng tất yếu phải được thực hiện ở cấp cơ sở Hương ước làng xã là một ví dụ Hương ước không thể được "lập ra" ở cấp huyện, cấp mà có thể có rất nhiều làng xã với những tập quán và lối sống khác nhau Từ đó, nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện cụ thể như sau:
- Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp
Ðiều 6-Hiến pháp 1992 quy định : Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân
Như vậy, Hiến pháp quy định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước do chính họ bầu ra
để thay mặt mình trực tiếp thực hiện những quyền lực đó Ðể thực hiện chức năng quản
Trang 24lý hành chính nhà nước, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước được thành lập và nó luôn có sự phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp
+ Các cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định trong việc thành lập, thay đổi, bãi bỏ các cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp
+ Trong hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát của
cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình với cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp
Tất cả sự phụ thuộc này nhằm mục đích bảo đảm cho hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, phù hợp với ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân lao động, bảo đảm sự tập trung quyền lực vào cơ quan quyền lực-cơ quan do dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân dân
- Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, của địa phương đối với trung ương
Nhờ có sự phục tùng này cấp trên và trung ương mới tập trung quyền lực nhà nước để chỉ đạo, giám sát hoạt động của cấp dưới và của địa phương, nếu không có sự phục tùng sẽ xảy ra tình trạng cục bộ địa phương, tùy tiện, vô chính phủ
+ Sự phục tùng ở đây là sự phục tùng mệnh lệnh hợp pháp trên cơ sở quy định của pháp luật
+ Mặt khác, trung ương cũng phải tôn trọng ý kiến của cấp dưới, địa phương về công tác
tổ chức, hoạt động và về các vấn đề khác của quản lý hành chính nhà nước
+ Phải tạo điều kiện để cấp dưới, địa phương phát huy sự chủ động, sáng tạo nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, nhằm chủ động thực hiện được "thẩm quyền cấp mình"
Có như thế mới khắc phục tình trạng quan liêu, áp đặt ý chí, làm mất đi tính chủ động sáng tạo của địa phương, cấp dưới
- Sự phân cấp quản lý
Là sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước Mỗi cấp quản lý có những mục tiêu, nhiệm vụ, thẩm quyền và những phương thức cần thiết để thực hiện một cách tốt nhất những mục tiêu, nhiệm vụ của cấp mình
Phân cấp quản lý là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ Tuy nhiên, việc phân cấp phải đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Phải xác định quyền quyết định của trung ương đối với những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược để đảm bảo sự phát triển cân đối hài hòa của toàn xã hội, bảo đảm sự quản lý tập trung và thống nhất của nhà nước trong phạm vi toàn quốc
Trang 25+ Phải mạnh dạn phân quyền cho địa phương, các đơn vị cơ sở để phát huy tính chủ động
sáng tạo trong quản lý, tích cực phát huy sức người, sức của, đẩy mạnh sản xuất và phục
vụ đời sống nhằm hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao phó
+ Phải phân cấp quản lý cụ thể, hợp lý trên cơ sở quy định của pháp luật Hạn chế tình
trạng cấp trên gom quá nhiều việc, khi không làm xuể công việc ấy thì giao lại cho cấp
dưới Phân cấp quản lý phải xác định chức năng cơ quan Mỗi loại việc chỉ được thực
hiện bởi một cấp cơ quan, hoặc một vài cấp cơ quan Cấp trên không phải lúc nào cũng
thực hiện được một số chức năng một cách có hiệu quả như cấp dưới
- Sự hướng về cơ sở
Hướng về cơ sở là việc các cơ quan hành chính nhà nước mở rộng dân chủ trên cơ sở
quản lý tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống các đơn vị kinh tế, văn hóa xã
hội trực thuộc Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi tạo ra của cải vật
chất trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân Vì thế nhà nước cần có các chính sách quản lý
thống nhất và chặt chẽ, cung cấp và giúp đỡ về vật chất nhằm tạo điều kiện để đơn vị cơ
sở hoạt động có hiệu quả Có như vậy hoạt động của các đơn vị này mới phát triển một
cách mạnh mẽ theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa Ðây cũng chính là việc thực hiện
"dân là gốc" trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước
- Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều tổ chức và hoạt động theo nguyên
tắc song trùng trực thuộc Ðối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung một mặt phụ
thuộc vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, mặt khác phụ thuộc vào cơ quan hành
chính nhà nước cấp trên
Ví dụ: UBND Tỉnh A một mặt chịu sự chỉ đạo của HÐND Tỉnh A theo chiều ngang, một
mặt chịu sự chỉ đạo của Chính phủ theo chiều dọc
Ðối với cơ quan chuyên môn, một mặt phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có
thẩm quyền chung cùng cấp, mặt khác nó phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có
thẩm quyền chuyên môn cấp trên trực tiếp
Ví dụ: Sở Tư pháp Tỉnh B, một mặt phụ thuộc vào UBND Tỉnh B, mặt khác phụ thuộc
vào Bộ Tư pháp
Nguyên tắc song trùng trực thuộc của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương bảo
đảm sự thống nhất giữa lợi ích chung của nhà nước với lợi ích của địa phương, giữa lợi
ích ngành với lợi ích của lãnh thổ
a) Cơ sở pháp lý
Trang 26Việt Nam là nước có nhiều dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Các dân tộc đều có
quyền bình đẳng với nhau trong mọi lĩnh vực "Nhà nước CH XHCN Việt nam là nhà
nước thống nhất của các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt nam
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm
cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc" (Ðiều 5- Hiến pháp 1992)
b) Nội dung nguyên tắc
- Trong công tác lãnh đạo và sử dụng cán bộ:
Nhà nước ưu tiên đối với con em các dân tộc ít người, thực hiện chính sách khuyến khích
về vật chất, tinh thần để họ học tập Số cán bộ nhà nước là người dân tộc ít người cũng
chiếm một số lượng nhất định trong cơ quan nhà nước, tạo điều kiện cho người dân tộc ít
người cùng tham gia quyết định những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích chính
đáng của họ và các vấn đề quan trọng khác của đất nước
- Trong việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội
+ Nhà nước chú ý tới việc đầu tư xây dựng công trình quan trọng về kinh tế, quốc phòng
ở các vùng dân tộc ít người, một mặt khai thác những tiềm năng kinh tế, xóa bỏ sự chênh
lệch giữa các vùng trong đất nước, đảm bảo nâng cao đời sống vật chất tinh thần của các
dân tộc ít người
+ Nhà nước có những chính sách đúng đắn đối với người đi xây dựng vùng kinh tế mới,
tổ chức phân bố lại lao động một cách hợp lý tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc ít
người nâng cao về mọi mặt
- Những ưu tiên cho các dân tộc ít người là sự cần thiết không thể phủ nhận nhằm bù đắp
phần nào cho việc thiếu thốn điều kiện, đồng thời để tất cả các dân tộc có thể đủ điều kiên
để vươn lên trong xã hội Tuy nhiên, sự ưu tiên chính sách sẽ mất đi tác dụng nếu vượt
khỏi phạm vi khuyến khích, động viên Nếu sự ưu tiên quá lớn, chắc chắn sẽ dẫn đến việc
cùng một vị trí giống nhau, nhưng hai khả năng không tương đồng nhau Ðiều này sẽ dẫn
đến những khó khăn nhất định trong công việc chung cũng như cho chính bản thân người
được ưu tiên đó
a) Cơ sở pháp lý
Ðây là nguyên tắc thể hiện một nguyên lý căn bản của tổ chức và hoạt động của bộ máy
nhà nước Bởi vì trước hết việc tổ chức và hoạt động hành chính phải hợp pháp, tức là
phải tuân theo pháp luật Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vì vậy là một biện pháp
để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không
ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" (Ðiều 12- Hiến pháp 1992)
Trang 27b) Nội dung nguyên tắc
Biểu hiện của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý hành chính nhà nước như sau:
1 Trong lĩnh vực lập quy
Khi ban hành quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, các cơ quan hành chính nhà nước phải tôn trọng pháp chế xã hội chủ nghĩa, phải tôn trọng vị trí cao nhất của hiến pháp và luật, nội dung văn bản pháp luật ban hành không được trái với hiến pháp và văn bản luật, chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong phạm
vi thẩm quyền và hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
2 Trong lĩnh vực thực hiện pháp luật
Việc áp dụng quy phạm pháp luật phải tuân theo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tức là phải phù hợp với yêu cầu của luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết lập trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể áp dụng quy phạm pháp luật, mọi vi phạm phải xử lý theo pháp luật, áp dụng pháp luật phải đúng nội dung, thẩm quyền và phải tôn trọng những văn bản quy phạm pháp luật do chính cơ quan ấy ban hành
4 Trong việc quản lý nói chung
Mở rộng, bảo đảm các quyền dân chủ của công dân Mọi quyết định hành chính và hành
vi hành chính đều phải dựa trên quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trực tiếp hoặc gián tiếp Ngược lại, việc hạn chế quyền công dân chỉ được áp dụng trên cơ sở hiến định
5 Phải chịu trách nhiệm trước xã hội và pháp luật
Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải chịu trách nhiệm do những sai phạm của mình trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, xâm phạm đến lợi ích tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và phải bồi thường cho công dân Chính vì vậy, hoạt động quản lý gắn liền với một chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với một chủ thể quản lý Chế độ trách nhiệm ấy thông qua pháp luật và các hệ thống kỷ luật nhà nước Cụ thể hơn, yêu cầu của quản lý đặt dưới sự thanh tra, kiểm tra giám sát và tài phán hành chính để pháp chế được tuân thủ thống nhất, mọi vi phạm đều bị phát hiện và xử lý theo đúng pháp luật Sự kiểm tra và giám sát ấy, trước hết phải được bảo đảm thực hiện chính từ chủ thể
Trang 28quản lý Tự kiểm tra với tư cách tổ chức chuyên môn vì thế cũng rất cần thiết như sự
kiểm tra, giám sát từ phía các cơ qaun nhà nước tương ứng, các tổ chức xã hội và công
dân
B Các nguyên tắc tổ chức -kỹ thuật
1 Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo địa giới hành chính TOP
Ngành là một phạm trù chỉ tổng thể những đơn vị, tổ chức sản xuất, kinh doanh có cùng
một cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay các tổ chức, đơn vị hoạt động với cùng một mục đích
giống nhau Có sự phân chia các hoạt động theo ngành tất yếu dẫn đến việc thực hiện
hoạt động quản lý theo ngành
Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý ở các đơn vị, các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã
hội có cùng cơ cấu kinh tế-kỹ thuật hay hoạt động với cùng một mục đích giống nhau
nhằm làm cho hoạt động của các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đồng bộ, nhịp
nhàng, đáp ứng được yêu cầu của nhà nước và xã hội Hoạt động quản lý theo ngành
được thực hiện với hình thức, qui mô khác nhau, có thể trên phạm vi toàn quốc, trên từng
địa hay một vùng lãnh thổ
Quản lý theo địa giới hành chính là quản lý trên một phạm vi địa bàn nhất định theo sự
phân vạch địa giới hành chính của nhà nước Quản lý theo địa giới hành chính ở nước ta
được thực hiện ở bốn cấp:
- Cấp Trung ương (cấp nhà nước)
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Xã, phường, thị trấn
Nội dung của hoạt động quản lý theo địa giới hành chính gồm đề ra các chủ trương, chính
sách, có quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên một phạm vi toàn lãnh thổ
Bắt đầu từ qui hoạch xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng cho sản xuất, đời sống dân cư
sống và làm việc trên lãnh thổ Tiếp đó, có sự tổ chức điều hòa phối hợp sự hợp tác, quản
lý thống nhất về khoa học công nghệ, liên kết, liên doanh các đơn vị kinh tế, văn hóa, xã
hội trên lãnh thổ
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, quản lý theo ngành luôn được kết hợp
chặt chẽ với quản lý theo địa giới hành chính Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo
chiều dọc của các Bộ với quản lý theo chiều ngang của chính quyền địa phương theo sự
phân công trách nhiệm và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp Sự kết hợp này là
một nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, mang tính cần thiết, khách
quan Nội dung của quản lý theo điạ giới hành chính:
Trang 29+ Xây dựng qui hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trên lãnh thổ, nhằm xây dựng
cơ cấu kinh tế có hiệu quả từ trung ương tới địa phương
+ Qui hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản xuất và đời sống dân cư sống và làm việc
trên một địa giới hành chính Ðầu tư kinh tế luôn được khuyến khích và chù ý trong quá
trình lập dự án hạ tầng Tuy nhiên, phải có kế hoạch và định hướng, tránh tình trạng "đầu
tư đi trước, qui hoạch theo sau", làm sự phát triển và an cư bị xáo trộn, gây mất cân bằng
trong quản lý kinh tế-xã hội
+ Tổ chức điều hồ, phối hợp, hợp tác liên doanh giữa các đơn vị kinh tế trực thuộc Trung
ương về những mặt có liên quan đến linh tế- xã hội trên địa bàn lãnh thổ; bảo đảm cho
các điều kiện ở địa phương phục vụ cho phương hướng phát triển của trung ương, và đa
dạng hoá các khả năng, ngành nghề phát triển
+ Tổ chức, chăm lo đời sống nhân dân trên một địa bàn lãnh thổ, không kể các nhân, tổ
chức đó do Trung ương hay địa phương quản lý Mặt khác, bảo đảm sự chấp hành pháp
luật chính sách của địa phương, không trái với Trung ương
Khi thực hiện hoạt động quản lý ngành đòi hỏi các chủ thể quản lý phải thực hiện rất
nhiều việc chuyên môn khác nhau như lập quy hoạch và kế hoạch phát triển ngành, quản
lý thực hiện các khoản thu chi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật Do khối
lượng công việc quản lý ngày càng nhiều và mang tính chất phức tạp nên đòi hỏi tính
chyên môn hóa cao, vì thế nhu cầu quản lý theo chức năng luôn được đặt ra
Quản lý theo chức năng là quản lý theo từng lĩnh vực chuyên môn nhất định của hoạt
động quản lý hành chính nhà nước Cơ quan quản lý theo chức năng là cơ quan quản lý
một lĩnh vực chuyên môn hay một nhóm các lĩnh vực chuyên môn có liên quan với nhau
Quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng nhằm đảm bảo việc thực hiện có
hiệu quả từng chức năng quản lý riêng biệt của các đơn vị, tổ chức trong ngành, đồng
thời bảo đảm mối quan hệ liên ngành, làm cho toàn bộ hoạt động của hệ thống ngành
được phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả
Ví dụ: Trong lĩnh vực xây dựng, có sự kết hợp giữa Bộ Xây dựng, Bộ kế hoạch và đầu tư,
Bộ Giao thông vân tải Trong đó, Bộ Xây dựng có vai trò trung tâm, kết hợp với các bộ
và các cơ quan hữu quan lập nên các dự án qui hoạch xây dựng tương ứng
Theo quy định của pháp luật, hệ thống các cơ quan chuyên môn được hình thành để thực
hiện việc quản lý theo chức năng Theo hệ thống dọc có bộ, sở, phòng, ban chuyên môn
quản lý chức năng, chịu sự quản lý của cơ quan quản lý theo chức năng có thẩm quyền ở
cấp trên Nguyên tắc này thể hiện quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan quản lý theo chức
năng trong việc thực hiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước Cụ thể:
Trang 30- Các cơ quan quản lý theo chức năng có quyền ban hành các quy phạm pháp luật, các
mệnh lệnh cụ thể liên quan đến chức năng quản lý của mình theo quy định của pháp luật,
có tính chất bắt buộc thực hiện đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành
- Các cơ quan quản lý theo chức năng kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chủ trương
do mình đề ra, xử lý hay đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm các chính
sách, chủ trương đó theo quy định của pháp luật
Có thể nói nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng là một
nguyên tắc có tầm quan trọng rất lớn trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nó
giúp cho hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước có sự đồng bộ và thống nhất với
nhau Nếu thiếu sự liên kết này, hoạt động của ngành trở nên thiếu đồng bộ, ảnh hưởng
không nhỏ đến hiệu quả của hoạt động quản lý hành chính nhà nước
3 Phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh TOP
Theo Hiến pháp 1992 nước CHXHCN Việt nam, nền kinh tế nước ta là "nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng
XHCN" (Ðiều 15) Liên quan đến chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, có các vấn đề
sau:
1 + Tuy nắm quyền sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, nhà nước không phải là
người trực tiếp kinh doanh Các cơ quan nhà nước định ra chiến lược, qui hoạch và định
hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và cơ chế quản lý có cơ sở pháp lý ổn định
vững chắc Các tổ chức kinh doanh có nhiệm vụ chấp hành và cụ thể hoá chiến lược và
kế hoạch kinh tế- xã hội của nhà nước, thực hiện cơ chế kinh doanh, tiêu chuẩn, định mức
của nhà nước, chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2 + Nhà nước có chức năng tổ chức và điều chỉnh nền kinh tế quốc dân bằng những biện
pháp vĩ mô: thông qua các biện pháp kinh tế, hành chính, tạo khung cho cạnh tranh lành
mạnh trong sản xuất kinh doanh Các tổ chức kinh doanh trực tiếp thực hiện kinh doanh
như: xây dựng, vận tải, ngân hàng trong phạm vi vĩ mô, nhằm tạo nhiều của cải vật chất
thiết yếu cho xã hội, tránh sự độc quyền của tư nhân, có thể ảnh hưởng không tốt đến nền
kinh tế quốc dân
3 + Khác với các mối quan hệ trong hoạt động chấp hành điều hành, các quan hệ trong
hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh doanh được điều chỉnh bình đẳng theo quan
hệ pháp luật dân sự, luật thương mại
4 + Nếu các cơ quan nhà nước hoạt động bằng ngân sách nhà nước, thì các tổ chức kinh
doanh là những tổ chức độc lập tự chủ về tài chính, tự cấp vốn và hạch toán kinh tế
5 + Việc quản lý trong hành lang pháp lý chặt chẽ thông qua các cơ quan quản lý hành
chính nhà nước sẽ tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế thuận lợi, thông thoáng, tự chủ
và đạt hiệu quả cao
Trang 31CÂU HỎI
1 Thế nào là nguyên tắc? Giải thích các đặc điểm của hệ thống các nguyên tắc?
2 Tại sao việc quản lý hành chính nhà nước phải tuân thủ hệ thống các nguyên tắc quản
lý hành chính nhà nước? Theo anh (chị), nguyên tắc nào là quan trọng nhất trong hệ
thống các nguyên tắc trên? Giải thích tại sao?
BÀI 3:QUY PHẠM VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
I QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
a) Khái niệm
Trước hết, qui phạm được hiểu là điều qui định chặt chẽ phải tuân theo Trong đời sống
hàng ngày, ta vẫn thường gặp những khái niệm như qui phạm đạo đức, qui phạm pháp
luật Tuy nhiên, khác với qui phạm đạo đức, qui phạm pháp luật được ban hành bởi nhà
nước và mang tính cưỡng chế nhà nước Ðể thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản
lý xã hội, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
để điều chỉnh hoạt động quản lý hành chính nhà nước Các quy phạm pháp luật điều
chỉnh hoạt động quản lý hành chính nhà nước chính là quy phạm pháp luật hành chính
Như vậy, quy phạm pháp luật hành chính là các quy tắc xử sự chung do cơ quan Nhà
nước, các cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành, chủ yếu điều chỉnh những quan hệ
xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước (hay còn gọi là hoạt động
chấp hành - điều hành của Nhà nước) có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với những đối
tượng có liên quan
b) Ðặc điểm của quy phạm pháp luật hành chính
Qua khái niệm trên cho thấy quy phạm pháp luật hành chính là một trong những dạng
quy phạm pháp luật và nó có những đặc điểm sau:
1 Là qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung Giống như các qui phạm pháp luật khác,
qui phạm pháp luật hành chính có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng có liên
quan và được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế nhà nước Những qui phạm này xác
định hành vi của cacù đối tượng có liên quan: được làm gì, không được làm gi và làm
như thế nào Các qui tắc xử sự này được ban hành theo thủ tục, trình tự chắt chẽ theo
pháp luật Khi có một quan hệ pháp luật hành chính cụ thể tương ứng phát sinh, qui tắc
xử sự chung trên sẽ là căn cứ để ra văn bản áp dụng Tuy vậy, dự có hay chưa có văn bản
áp dụng, qui phạm pháp luật trên vẫn tồn tại và không mất đi giá trị pháp lý trừ khi hết
hiệu lực
Trang 322 Ðược ban hành bởi những cơ quan nhà nước và cán bộ nhà nước có thẩm quyền ở các
cấp khác nhau với, mục đích cụ thể hóa các quy phạm pháp luật hành chính của các cơ quan quyền lực nhà nước và các cơ quan nhà nước cấp trên Vì các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực nhà nước ban hành trong lĩnh vực quản lý hành chính mới chỉ quy định một cách chung nhất nên chúng đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong từng lĩnh vực của quản lý hành chính
Ví dụ: Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được Uớy ban thường vụ Quốc hội thông qua
ngày 6/7/1995 quy định một cách chung nhất về vấn đề xử lý vi phạm hành chính Dựa trên những quy định chung này, Chính phủ ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hành chính quy định cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực khác nhau, đó là các Nghị định số 87, 88/CP ngày 12/12/1995 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa-xã hội; Nghị định số 01/CP ngày 3/1/1996 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại v.v
3 Tính thống nhất: mặc dù quy phạm pháp luật hành chính được ban hành bởi những cơ quan khác nhau, có hiệu lực pháp lý cũng như phạm vi thi hành khác nhau nhưng về cơ
bản chúng hợp thành một hệ thống thống nhất Tính thống nhất của các quy phạm pháp luật hành chính được bảo đảm bởi hệ thống các nguyên tắc trong luật hành chính, đặc biệt
là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc tập trung dân chủ Những nguyên tắc này đòi hỏi:
+ Các quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, Nghị quyết và Pháp lệnh của các cơ quan quyền lực nhà nước + Những quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ban hành phải phù hợp với những quy phạm pháp luật hành chính do
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ban hành
+ Các quy phạm pháp luật hành chính phải được ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức pháp luật đã quy định
+ Việc ban hành các quy phạm pháp luật hành chính của cơ quan cấp dưới đòi hỏi phải phù hợp với những quy phạm pháp luật hành chính do cấp trên ban hành
+ Các quy phạm pháp luật hành chính do cơ quan địa phương ban hành để thi hành ở địa phương phải phù hợp với quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan ở trung ương ban hành để thi hành trong cả nước
4 Những qui phạm pháp luật hành chính ban hành chủ yếu điều chỉnh những quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực hành chính nhà nước Ðiều này đồng nghĩa với sẽ có những văn bản thứ yếu phát sinh trong lĩnh vực khác của nhà nước Thật vậy, ngoài việc xác
định thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước trong lĩnh vực lao động, luật hành chính đồng thời điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến việc tổ chức quá trình lao động và chế độ công vụ
Trang 335 Các quy phạm pháp luật hành chính được đặt ra, sửa đổi hay bãi bỏ trên cơ sở những
quy luật phát triển khách quan của xã hội và những đặc điểm cụ thể trong từng giai
đoạn Hiện nay, qui phạm pháp luật Hành chính là tổng hợp các qui phạm về quản lý nhà
nước trong các lĩnh vực tương ứng với các lĩnh vực quản lý của đời sống xã hội Vì vậy,
qui phạm pháp luật hành chính hiện tại được ban hành bởi khá nhiều cơ quan, có hiệu lực
pháp lý khác nhau và thi hành khác nhau, cũng như tính ổn định các văn bản này không
cao Tuy nhiên, đây không phải là bản chất của qui phạm pháp luật hành chính Tuy tính
đa dạng về văn bản các cấp gắn liền với qui phạm hành chính, nhưng về lâu dài sẽ phải
có một Bộ Luật hành chính hoặc Luật hành chính thống nhất điều chỉnh các mối quan hệ
chung nhất chứa đựng một cách có hệ thống hơn các qui phạm pháp luật hành chính
2 Nội dung của quy phạm pháp luật hành chính
Các quy phạm pháp luật hành chính có thể có những nội dung cơ bản sau:
- Quy phạm pháp luật hành chính quy định địa vị pháp lý của các bên tham gia quan hệ
quản lý hành chính nhà nước tức là xác định quyền và nghĩa vụ cũng như mối liên hệ chủ
yếu giữa các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước Ðiều này liên quan trực
tiếp tới bản thân quan hệ pháp luật hành chính cụ thể Ta có các trường hợp sau:
+ QPPL hành chính trong quan hệ pháp luật hành chính công: chủ thể có thẩm quyền
hành chính nhà nước- chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước
+ QPPL hành chính trong quan hệ pháp luật hành chính tư: chủ thể có thẩm quyền hành
chính nhà nước- chủ thể không có thẩm quyền hành chính nhà nước hoặc tham gia không
với tư cách chủ thể có thẩm quyền hành chính nhà nước
- Quy phạm pháp luật hành chính xác định những thủ tục, trình tự cần thiết cho việc thưc
hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính và một số
quan hệ pháp luật khác như quan hệ pháp luật lao động, tài chính, đất đai
- Quy phạm pháp luật hành chính xác định các biện pháp khen thưởng và các biện pháp
cưỡng chế hành chính đối với các đối tượng quản lý
Ðể phân loại các quy phạm pháp luật hành chính có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác
nhau Tuy nhiên, trong giới hạn của chương trình học ta chỉ phân loại dựa trên một số
tiêu chí chủ yếu Các tiêu chí đó là các căn cứ về nội dung pháp lý, về tính chất của
những quan hệ được quy phạm pháp luật hành chính điều chỉnh, về thời gian áp dụng, cơ
quan ban hành cũng như căn cứ vào phạm vi hiệu lực pháp lý của các quy phạm hành
chính
a) Căn cứ vào nội dung pháp lý của quy phạm pháp luật hành chính ta có ba loại quy
phạm:
Trang 34+ Quy phạm đặt nghĩa vụ: là quy phạm buộc các đối tượng có liên quan phải thực hiện những hành vi nhất định
+ Quy phạm trao quyền: là quy phạm trao quyền cho các đối tượng có liên quan quyền thực hiện những hành vi nhất định Qui phạm trao quyền được thể hiện rõ trong quan hệ pháp luật hành chính công khi cấp trên ban hành qui phạm trao quyền cho cấp dưới
+ Quy phạm ngăn cấm: là quy phạm buộc các đối tượng có liên quan tránh thực hiện những hành vi nhất định
b) Căn cứ vào tính chất của những quan hệ được điều chỉnh ta có hai loại quy phạm: + Quy phạm nội dung: là quy phạm quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý hành chính nhà nước
+ Quy phạm thủ tục: là quy phạm quy định trình tự thủ tục mà các bên phải tuân theo trong khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình
c) Căn cứ vào cơ quan ban hành ta có các quy phạm sau:
+ Những quy phạm do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành
+ Những quy phạm do Chủ tịch nước ban hành
+ Những quy phạm do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
+ Những quy phạm do cơ quan hành chính nhà nước ban hành
+ Những quy phạm do các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị-xã hội phối hợp ban hành
Lưu ý rằng qui phạm pháp luật hành chính không chỉ được ban hành bởi cơ quan hành chính nhà nước, mà cả các cơ quan khác trong hệ thống cơ quan nhà nước
Ví dụ: Quốc hội (hệ thống cơ quan dân cử), Hội đồng thẩm phán TAND tối cao (hệ thống
cơ quan tư pháp)
Tuy nhiên, tất cả các văn bản của các tổ chức xã hội với tư cách độc lập của tổ chức xã hội đó, trong mọi trường hợp, không được xem là văn bản QPPL hành chính
Ví dụ: Văn kiện của Ðảng Cộng sản Việt nam có tính chất chỉ đạo cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nhưng hoàn toàn không phải là văn bản QPPL hành chính
d) Căn cứ vào thời gian áp dụng chúng ta có ba loại quy phạm, đó là: quy phạm áp dụng lâu dài, quy phạm áp dụng có thời hạn và những quy phạm tạm thời
Trang 35+ Quy phạm áp dụng lâu dài: là quy phạm mà trong văn bản ban hành chúng không ghi
thời hạn áp dụng, do vậy, chúng chỉ hết hiệu lực khi cơ quan có thẩm quyền tuyên bố bãi
bỏ hay thay thế chúng bằng những quy phạm khác
+ Quy phạm áp dụng có thời hạn: là những quy phạm mà trong văn bản ban hành chúng
có ghi thời hạn áp dụng Thường là những quy phạm được ban hành để điều chỉnh những
quan hệ xã hội phát sinh trong tình huống đặc biệt, khi tình huống này không còn thì quy
phạm cũng hết hiệu lực
Ví dụ: Quyết định về 5 biện pháp phòng chống lũ của tỉnh Cần thơ năm 2001, chỉ áp
dụng cho việc phòng chống mùa lũ của năm 2001 của tỉnh Cần thơ
+ Quy phạm tạm thời: là những quy phạm được ban hành để áp dụng thử Nếu sau thời
gian áp dụng thử mà xét thấy nó phù hợp thì sẽ ban hành chính thức Có những trường
hợp được ban hành thí điểm, áp dụng giới hạn ở một số địa phương nhất định Sau một
thời gian đánh giá hiệu quả hoạt động trên thực tế, sẽ ban hành đồng loạt
Ví dụ: Văn bản QPPL về xoá đói giảm nghèo ở TP HCM, về thí điểm thực hiện một cửa
một dấu ở TP HCM
e) Căn cứ vào phạm vi hiệu lực pháp lý ta có hai loại sau:
+ Quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực trên phạm vi cả nước
+ Quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực pháp lý ở từng địa phương
Việc phân loại này sẽ được phân tích cụ thể trong phần sau về hiệu lực của QPPL hành
chính
a/ Hiệu lực của quy phạm pháp luật hành chính
Quy phạm pháp luật hành chính có hiệu lực về thời gian và không gian
· Hiệu lực về thời gian
- Ðối với những quy phạm pháp luật hành chính được quy định trong văn bản luật, nghị
quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội có hiệu lực kể
từ ngày Chủ tịch nước ký lệnh công bố (trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu
lực khác)
Ví dụ: Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày
06/07/1995, có qui định văn bản pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01/08/1995
Trang 36- Ðối với những quy phạm pháp luật hành chính được quy định trong văn bản pháp luật của Chủ tịch nước (lệnh, quyết nghị) thì có hiệu lực kể từ ngày đăng công báo (trừ trường hợp văn bản đó quy định ngày có hiệu lực khác)
- Ðối với quy phạm hành chính được quy định trong văn bản pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ thì có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký
- Quy phạm pháp luật hành chính hết hiệu lực khi đã hết thời hạn có hiệu lực được quy định trong văn bản đó hay được thay thế bằng một văn bản mới của chính cơ quan đã ban hành văn bản đó hoặc bị hủy bỏ, bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Qui phạm pháp luật hành chính của UBND các cấp có hiệu lực kể từ ngày kí trừ trường hợp có qui định có hiệu lực về sau trong văn bản QPPL
· Hiệu lực về không gian
- Ðối với những quy phạm pháp luật hành chính do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành thì có hiệu lực trong phạm vi cả nước (trừ trường hợp có quy định khác, ví dụ quản lý khu vực biên giới, vùng đặc khu kinh tế)
Ví dụ: Nghị quyết của Quốc hội thì có hiệu lực pháp lý trên phạm vi cả nước
- Ðối với những quy phạm pháp luật hành chính do Hội đồng nhân dân, Uớy ban nhân dân các cấp ban hành thì có hiệu lực trong phạm vi từng địa phương nhất định
Ví dụ: Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Cần Thơ thì chỉ có hiệu lực pháp lý trên
phạm vi tỉnh Cần Thơ
- Quy phạm pháp luật hành chính cũng có hiệu lực pháp lý đối với các cơ quan, tổ chức
và người nước ngoài ở Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật của Việt Nam hay điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác
b/ Việc thực hiện quy phạm pháp luật hành chính
Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính là việc dựng quy phạm pháp luật hành chính
để tác động vào hành vi của các bên tham gia quan hệ quản lý nhà nước, được biểu hiện dưới hai hình thức là chấp hành và áp dụng quy phạm pháp luật hành chính
1 Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính: là việc các cơ quan, tổ chức và cá nhân làm theo đúng những yêu cầu của quy phạm pháp luật hành chính Các chủ thể của quan
hệ pháp luật hành chính thưc hiện hành vi chấp hành quy phạm pháp luật hành chính trong những trường hợp sau:
+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính cho phép;
Trang 37+ Khi thực hiện đúng các hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính buộc phải thực hiện;
+ Khi không thực hiện những hành vi mà quy phạm pháp luật hành chính cấm thực hiện
2 Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính: là việc cơ quan có thẩm quyền của nhà nước
căn cứ vào pháp luật hiện hành để giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể- quan hệ pháp luật hành chính tư Chúng liên quan trực tiếp tới việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia vào quan hệ quản lý hành chính nhà nước, đặc biệt là đối với tổ chức, công dân Do vậy, việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải tuân theo những yêu cầu sau:
+ Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải tuân theo những yêu cầu của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và đảm bảo nhân dân lao động có điều kiện tham gia vào quản lý nhà nước theo Ðiều 12 và Ðiều 53 Hiến pháp 1992 Vì áp dụng quy phạm pháp luậỷt hành chính là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tất cả
những vấn đề có liên quan đến quyền lợi của các tổ chức, cá nhân
+ Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể, vì vậy phải được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền của nhà nước và phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục,
đúng thời hạn pháp luật quy định, phải xem xét, giải quyết đúng hạn các yêu cầu nhận được, trả lời công khai, chính thức về kết quả giải quyết cho các đối tượng có liên quan
Ví dụ: Ðiều 36 Luật khiếu nại tố cáo 02/12/98, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền phải giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn 30 ngày (nếu phức tạp, không quá 45 ngày)
+ Kết quả áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thể hiện bằng văn bản của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và việc áp dụng chỉ được coi là hoàn thành khi quyết định của cơ quan áp dụng pháp luật được chấp hành trong thực tế
c./ Mối quan hệ giữa chấp hành và áp dụng quy phạm pháp luật hành chính
Chấp hành và áp dụng quy phạm pháp luật hành chính có mối quan hệ hữu cơ với nhau, được tiến hành song song trong thực tiễn cuộc sống Mối quan hệ này được thể hiện:
1 Chấp hành- áp dụng: Chấp hành là tiền đề, là cơ sở của áp dụng quy phạm pháp luật
hành chính, từ việc chấp hành quy phạm pháp luật hành chính dẫn đến áp dụng quy phạm pháp luật hành chính;
Ví dụ: công dân chấp hành các quy định về thuế của nhà nước, đã nộp thuế đầy đủ dẫn
đến áp dụng quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 382 Khơng chấp hành- áp dụng: Cĩ trường hợp khơng chấp hành quy phạm pháp luật hành
chính dẫn đến việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính
Ví dụ: khơng chấp hành luật lệ giao thơng dẫn tới việc xử phạt vi phạm hành chính
3 Aùp dụng- chấp hành: Trong nhiều trường hợp khác, áp dụng quy phạm pháp luật hành
chính lại là tiền đề, cơ sở của việc chấp hành quy phạm pháp luật hành chính
Ví dụ: Một cơ quan cấp giấy phép cho một đơn vị sản xuất thì việc cấp giấy phép là hành
động áp dụng quy phạm pháp luật hành chính, cịn việc khơng vi phạm những điều ghi
trong giấy phép là hành động chấp hành quy phạm pháp luật hành chính Thế nhưng, nếu
đơn vị đĩ khơng chấp hành thì tất yếu sẽ dẫn đến việc áp dụng quy phạm pháp luật hành
chính
II QUAN HỆ PHÁP LUẬT HÀNH CHÍNH
a./ Khái niệm
Quan hệ pháp luật hành chính là một dạng của quan hệ pháp luật Ðĩ là những quan hệ xã
hội phát sinh chủ yếu trong lĩnh vực chấp hành điều hành giữa một bên mang quyền lực
nhà nước cĩ chức năng quản lý hành chính nhà nước và một bên là đối tượng quản lý
Các quan hệ này được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật hành chính Trong một
quan hệ pháp luật hành chính thì quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược
lại Chúng rất phong phú và đa dạng, phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Như vậy, quan hệ pháp luật hành chính là những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực
chấp hành và điều hành của nhà nước được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật hành
chính giữa những chủ thể mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp
luật hành chính
b./Ðặc điểm của quan hệ pháp luật hành chính
Căn cứ vào những đặc trưng riêng của quan hệ pháp luật hành chính, ta thấy quan hệ
pháp luật hành chính cĩ những đặc điểm sau:
- Quan hệ pháp luật hành chính chủ yếu chỉ phát sinh trong quá trình quản lý hành chính
nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, luơn gắn liền với hoạt động
chấp hành và điều hành của nhà nước, chúng vừa thể hiện lợi ích của các bên tham gia
quan hệ vừa thể hiện những yêu cầu và mục đích của hoạt động chấp hành - điều hành
- Quan hệ pháp luật hành chính cĩ thể phát sinh giữa tất cả các loại chủ thể như cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội, cơng dân, người nước ngồi nhưng ít nhất một bên trong quan
hệ phải là cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan nhà nước khác hoặc tổ chức, cá
Trang 39dân, tổ chức với tổ chức hay tổ chức với một công dân nào đó (không mang quyền lực
hành chính nhà nước) thì không thể hình thành quan hệ pháp luật hành chính
- Quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh do đề nghị hợp pháp của bất kỳ bên nào,
sự thỏa thuận của bên kia không phải là điều kiện bắt buộc cho sự hình thành quan hệ
- Các tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính phần lớn được giải quyết
theo trình tự, thủ tục hành chính và chủ yếu thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính
nhà nước
- Trong quan hệ pháp luật hành chính, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước nhà nước
chứ không phải chịu trách nhiệm trước bên kia của quan hệ pháp luật hành chính
a./ Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là những bên tham gia vào quan hệ pháp luật
hành chính, có năng lực chủ thê,ứ có quyền và nghĩa vụ tương ứng đối với nhau theo quy
định của pháp luật hành chính
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính bao gồm: cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước,
tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không
quốc tịch Trong đó, có một loại chủ thể luôn luôn hiện diện trong mọi quan hệ pháp luật
hành chính: chủ thể quản lý-bên có thẩm quyền hành chính nhà nước
* Chủ thể quản lý hành chính nhà nước: là các cá nhân hay tổ chức của con người mang
quyền lực hành chính nhà nước, nhân danh nhà nước và thực hiện chức năng quản lý
hành chính nhà nước "Mang quyền lực nhà nước" ở đây cần hội đủ 2 yếu tố sau:
- Có thẩm quyền hành chính nhà nước do pháp luật qui định;
- Tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách của chủ thể có thẩm quyền hành
chính nhà nước, không vượt ra khỏi thẩm quyền đã được luật định;
Nói lên điều này để phân biệt rạch ròi "vai trò" của một chủ thể nhất định trong những
trường hợp cụ thể nhất định Trường hợp chủ thể A là chủ thể có thẩm quyền hành chính
nhà nước, nhưng tham gia vào quan hệ không với tư cách thẩm quyền ấy, thì không thể
hình thành quan hệ pháp luật hành chính với A là chủ thể quản lý
Ví dụ: Nguyễn Văn A là chủ tịch UBND huyện B, có hành vi vi phạm trật tự an toàn giao
thông trong khi điều khiển phương tiên xe 2 bánh Trường hợp này, A phải chịu xử lý
theo pháp luật hành chính như tất cả các cá nhân khác vi phạm trật tư an toàn giao thông
Chủ thể bắt buộc trong quan hệ pháp luật hành chính có quyền nhân danh Nhà nước để
đơn phương ra những mệnh lệnh (thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật hoặc các
Trang 40mệnh lệnh cụ thể để giải quyết công việc cụ thể) buộc phía bên kia phải thực hiện Ðây là
một đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật hành chính so với các quan hệ pháp luật khác Ðiều kiện để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính là phải có năng lực pháp luật hành chính và năng lực hành vi hành chính Chủ thể này có thể là:
- Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ hành chính nhà nước Tuy nhiên, cần phân biệt quan hệ pháp luật hành chính với quan hệ chỉ đạo công tác trong nội bộ một cơ quan
Ví dụ: Quan hệ pháp luật giữa UBND Tỉnh A với UBND Huyện B tương ứng trực thuộc
là quan hệ pháp luật hành chính Tuy nhiên, quan hệ giữa thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước với thư ký của cơ quan đó trong việc "nhờ" cơ thư ký đánh máy một công văn thì không phái là quan hệ pháp luật hành chính Nó dựa trên quan hệ pháp luật hành chính, nhưng là quan hệ công tác nội bộ của cơ quan
- Cơ quan nhà nước khác, cá nhân, tổ chức xã hội tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể với tư cách là bên có thẩm quyền hành chính nhà nước được qui định trong pháp luật hành chính
Ví dụ: Theo Ðiều 35[1] Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06/07/1995, chủ toạ phiên toà có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi gây rối tại phiên toà Trong quan hệ này, toà án (cơ quan tư pháp) được trao thẩm quyền hành chính nhà nước, vì thế đây là quan hệ pháp luật hành chính với chủ thể quản lý là toà án
* Chủ thể của quản lý hành chính nhà nước:
Là một bên trong quan hệ pháp luật hành chính, chịu sự quản lý, chấp hành mệnh lệnh của chủ thể quản lý Trong quan hệ pháp luật hành chính, đây có thể là cơ quan, tổ chức,
cá nhân tham gia không với tư cách có quyền lực hành chính nhà nước; hoặc cá nhân công dân, các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh, các tổ chức xã hội không mang quyền lực hành chính nhà nước Theo pháp luật Việt nam:
- "Nhà nước CH XHCN Việt nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" (Ðiều 2 Hiến pháp 1992)
- "Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân" (Ðiều 3 Hiến pháp 1992)
- "Công dân có quyền tham gia vào quản lý nhà nước " (Ðiều 53 Hiến pháp 1992)
Do đó, công dân Việt nam không chỉ là chủ thể của quản lý mà còn có quyền và nghĩa vụ tham gia vào quản lý nhà nước, làm cho mục đích của quản lý hành chính ngày càng thể hiện rõ hơn lợi ích và nguyện vọng của nhân dân
b Khách thể của quan hệ pháp luật hành chính