1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phuc li xa hi tren th gii quan nim

21 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 376,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Marshall nhận định rằng lúc đầu người ta thường nói đến từ welfare khi cần có những biện pháp nào đó để bảo vệ tình trạng phúc lợi của một cá nhân hay một nhóm nào đó; vì thế, từ này c

Trang 1

PHÚC LỢI XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI:

TRẦN HỮU QUANG (**)

TĨM TẮT

Sự phát triển của các hệ thống phúc lợi xã

hội là một trong những thành tựu lớn lao

của nhiều quốc gia trên thế giới trong thế

kỷ XX Kể từ nay, phúc lợi xã hội được nhìn

nhận như là một trong những quyền căn

bản của con người trong một quốc gia văn

minh và hiện đại Bài viết này lược thuật

lại một số quan niệm chính về phúc lợi xã

hội và một số lý thuyết phân loại các hệ

thống phúc lợi xã hội trên thế giới

Sự phát triển của các hệ thống và các

chương trình phúc lợi xã hội được xem là

một trong những thành tựu lớn lao nhất xét

về mặt chính sách xã hội tại các quốc gia

trên thế giới trong thế kỷ XX Điều cĩ ý

nghĩa cơ bản là kể từ nay, phúc lợi xã hội

được nhìn nhận như là một trong những

quyền căn bản của con người trong một

quốc gia văn minh

Bài này sẽ điểm qua một số quan niệm chính về phúc lợi xã hội và một số lý thuyết phân loại các hệ thống phúc lợi xã hội trên thế giới

1 MỘT SỐ THUẬT NGỮ CĨ LIÊN QUAN

Xét về mặt từ vựng, trong cuốn Từ điển

tiếng Việt xuất bản năm 2000 (Hồng Phê

chủ biên), chưa cĩ cụm từ "phúc lợi xã hội", cũng chưa cĩ từ "an sinh" hay "an

sinh xã hội", mà chỉ cĩ từ "phúc lợi" Phúc

lợi trong cuốn từ điển này được định nghĩa

như sau: "Lợi ích mà mọi người được hưởng khơng phải trả tiền hoặc chỉ phải trả

một phần Thí dụ: Nâng cao phúc lợi của

nhân dân Các cơng trình phúc lợi (như

nhà trẻ, lớp mẫu giáo, v.v.) Quỹ phúc lợi

của xí nghiệp" (Hồng Phê, 2000, tr 790)

Định nghĩa này chỉ nhấn mạnh tới khía cạnh miễn phí hay giảm phí mà chưa đề cập tới những nội hàm của từ này, và chỉ nĩi một cách chung chung là "lợi ích" Cĩ

lẽ cách hiểu này xuất phát từ quan niệm về phúc lợi trong mơ hình quản lý theo phương thức kế hoạch hĩa tập trung trước đây, khi mà người ta thường hiểu "phúc lợi" là phần thù lao bằng tiền hoặc hiện vật

mà người lao động nhận được từ cơ quan hay xí nghiệp, ngồi phần tiền lương, tiền phụ cấp và tiền thưởng, nhằm được hỗ trợ thêm về mặt đời sống

KINH TẾ HỌC-XÃ HỘI HỌC

(*) Những nội dung chính của bài này là một

phần nằm trong khuơn khổ đề tài nghiên cứu

Hệ thống phúc lợi ở TPHCM với mục tiêu tiến

bộ và cơng bằng xã hội của Trung tâm Khoa

học Xã hội và Nhân văn TPHCM (nay là Viện

Nghiên cứu Phát triển TPHCM do Trần Hữu

Quang làm chủ nhiệm

(*) Tiến sĩ Xã hội học Viện Phát triển Bền vững

vùng Nam Bộ.

Trang 2

Thực ra, từ "phúc lợi" đã xuất hiện trong

cuốn Hán Việt từ điển giản yếu (1932) của

Đào Duy Anh, với một định nghĩa ngắn gọn:

phúc lợi là "hạnh phúc và lợi ích (bonheur et

intérêts)" (Đào Duy Anh, 1957, tr 137)

Từ phúc lợi tương ứng với từ welfare trong

tiếng Anh, và đã được nhà xã hội học Anh

Gordon Marshall định nghĩa một cách khá

đầy đủ như sau: welfare là "tình trạng hoặc

điều kiện làm ăn khấm khá (doing well)

hoặc sinh sống đàng hoàng, hạnh phúc

(being well)" Marshall nhận định rằng lúc

đầu người ta thường nói đến từ welfare khi

cần có những biện pháp nào đó để bảo vệ

tình trạng phúc lợi của một cá nhân hay

một nhóm nào đó; vì thế, từ này chủ yếu

được sử dụng trong lĩnh vực chính sách

(policy), vì nó gắn trực tiếp với những nhu

cầu: "Các chính sách phúc lợi là những

chính sách được thiết lập nhằm đáp ứng

những nhu cầu của cá nhân hay của nhóm"

Theo Marshall, các nhu cầu ở đây cần được

hiểu không phải chỉ có những nhu cầu tối

thiểu để sinh tồn, mà bao gồm cả những

nhu cầu cần thiết cho một "cuộc sống tử tế

và xứng đáng" (a reasonable and adequate

life) Các nhu cầu này bao gồm không chỉ

một mức thu nhập tối thiểu để có cái ăn,

cái mặc, mà còn bao gồm nhà ở đàng

hoàng, giáo dục, y tế và cơ hội có việc làm

(Marshall, 1998, tr 701-702)

Thuật ngữ "phúc lợi xã hội" trong tiếng

Việt tương ứng với cụm từ social welfare

trong tiếng Anh; trong tiếng Hoa, người ta

cũng dùng cụm từ "xã hội phúc lợi" (phiên

âm Hán Việt: 社會福利 hay 社会福利, shehui

fuli) để nói về khái niệm này

Theo chúng tôi, phúc lợi xã hội, hiểu theo

nghĩa rộng, là hệ thống các định chế, các

chính sách và các hoạt động nhằm bảo

đảm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất của người dân, với mục tiêu là làm sao cho mọi người dân có được một cuộc sống đàng hoàng, tử tế, xứng đáng với phẩm giá con người Hệ thống này bao gồm các lĩnh

vực như: giáo dục, y tế, nhà ở, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các chính sách trợ giúp

xã hội (hỗ trợ những tầng lớp nghèo và khó khăn ) và các chính sách cứu trợ xã hội

(cứu trợ thiên tai, dịch bệnh )

Còn thuật ngữ an sinh xã hội thì tương ứng với cụm từ social security ; trong tiếng

Hoa, người ta dùng cụm từ "xã hội bảo chướng" (phiên âm Hán Việt: 社会保障,

shehui baozhang)(1) Trong thực tế, trong các tài liệu Anh ngữ, đôi lúc người ta cũng

sử dụng hoán chuyển nhau giữa thuật ngữ

social welfare với thuật ngữ social security

Tuy nhiên, thuật ngữ social security (an

sinh xã hội) thường được hiểu theo nghĩa

hẹp hơn thuật ngữ social welfare (phúc lợi

xã hội), và chỉ bao gồm hệ thống bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế và các chính sách trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội

Còn có một thuật ngữ nữa cũng thường được sử dụng phần nào tương ứng với hai thuật ngữ phúc lợi xã hội hoặc an sinh xã

hội, đó là cụm từ social protection Trong

tiếng Việt, có người dịch là "bảo đảm xã hội", nhưng cũng có người dịch là "bảo vệ

xã hội" hay "bảo trợ xã hội"(2) Theo thiển ý

chúng tôi, có lẽ nên dịch thuật ngữ social

protection là sự bảo hộ của xã hội (hay nói

gọn là sự bảo hộ xã hội) thì thích hợp hơn

Người ta thường hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng, tức là bao gồm hệ thống an sinh

xã hội (social security) và hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội (social assistance)

và các chính sách cứu trợ xã hội (social

relief)

Trang 3

Bảo hiểm xã hội (social insurance) là thuật

ngữ thường được dùng để chỉ một chương

trình quốc gia mang mục tiêu cung ứng một

số dịch vụ xã hội cơ bản, do nhà nước trực

tiếp đứng ra tổ chức hoặc bảo trợ Nguyên

tắc của hệ thống này là sự chia sẻ chi phí

tài chính giữa các thành viên nhằm đối phó

với những hoàn cảnh bất trắc như bệnh tật,

mất việc làm, tuổi già Đối tượng của hệ

thống này là một số tầng lớp dân cư nhất

định, với nguồn ngân sách thường là từ tiền

thuế và/hoặc tiền phí đóng góp của những

người tham gia Hệ thống này thường mang

tính cưỡng bách (do nhà nước bắt buộc),

nhưng cũng có hệ thống mang tính tự

nguyện

Có một số điểm khác biệt sau đây giữa bảo

hiểm xã hội với bảo hiểm tư nhân: a) bảo

hiểm xã hội thường mang tính chất bắt

buộc, trong khi bảo hiểm tư nhân thường

mang tính tự nguyện; b) việc cung ứng các

dịch vụ trong hệ thống bảo hiểm tư nhân

dựa trên sự thỏa thuận giữa nhà bảo hiểm

với người được bảo hiểm thông qua một

bản hợp đồng, trong khi đó hệ thống bảo

hiểm xã hội thường dựa trên các chế độ và

chính sách đối với từng tầng lớp dân cư

nhất định, tức là dựa trên quyền được

hưởng trợ cấp của người được bảo hiểm; c)

bảo hiểm tư nhân thường nhấn mạnh đến

tính chất công bình (equity) giữa các cá

nhân mua bảo hiểm, còn bảo hiểm xã hội

thì thường nhấn mạnh nhiều hơn tới tính

chất thỏa đáng (social adequacy) của các

khoản trợ cấp đối với mọi thành viên tham

gia

Thuật ngữ nhà nước phúc lợi trong tiếng

Việt được dịch từ thuật ngữ welfare state

trong tiếng Anh hay État providence trong

tiếng Pháp Thuật ngữ tương ứng trong

tiếng Hoa là 福利国家 (fú lì guó jiā, phiên

âm Hán Việt: "phúc lợi quốc gia")

Khái niệm welfare state bắt đầu được sử

dụng nhiều trong thập niên 1940, đặc biệt sau Thế chiến thứ II, được dùng để mô tả những nhà nước có trách nhiệm chủ yếu trong việc cung ứng phúc lợi xã hội thông qua các hệ thống an sinh xã hội, cung ứng các dịch vụ và các khoản trợ cấp nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người dân

về mặt nhà ở, y tế, giáo dục và thu nhập (Marshall, 1998, tr 702)

Khái niệm chính sách xã hội là một khái

niệm thường được đề cập trong những công trình nghiên cứu về phúc lợi xã hội và an sinh xã hội, khi người ta chú tâm tới vai trò

của nhà nước đối với các lĩnh vực xã hội

cũng như các vấn đề xã hội

Năm 1980, khi xem xét bộ môn nghiên cứu

về chính sách xã hội, nhà xã hội học Nga

V Z Rôgôvin định nghĩa đây là "một lĩnh vực tri thức xã hội học, nghiên cứu hệ thống về các quá trình xã hội quyết định hoạt động sống của con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động quản lý đến các quá trình đó" (Dẫn lại theo: Bùi Đình Thanh, 2004b, tr 286)

Theo Phạm Xuân Nam, "chính sách xã hội

là sự thể chế hóa đường lối, chủ trương của một nhà nước (hay một cộng đồng) nhằm trực tiếp tác động vào con người - thành viên xã hội, điều chỉnh các quan hệ lợi ích giữa họ, hướng hành động của họ tới các mục tiêu mà nhà nước (hay cộng đồng) mong muốn" (Phạm Xuân Nam, 1994b, tr 7) Còn theo Trần Đình Hoan, chính sách

xã hội "bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người, liên quan đến điều kiện lao động

và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, kinh tế, dân số và quan hệ gia đình, quan hệ giai

Trang 4

cấp và quan hệ dân tộc, tôn giáo, v.v."

(Trần Đình Hoan, 1994, tr 505)

Bùi Đình Thanh đưa ra một định nghĩa về

chính sách xã hội mà chúng tôi cho là

tương đối đầy đủ nhất: "Chính sách xã hội

là sự cụ thể hóa, thể chế hóa các đường lối,

chủ trương để giải quyết các vấn đề xã hội

dựa trên những tư tưởng, quan điểm của

chủ thể lãnh đạo phù hợp với bản chất chế

độ xã hội-chính trị ( ) phản ánh lợi ích và

trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói

chung và của từng nhóm xã hội nói riêng

nhằm tác động trực tiếp vào con người và

điều chỉnh các quan hệ giữa con người với

con người, giữa con người với xã hội,

hướng tới mục đích cao nhất là thỏa mãn

những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống

vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân

dân" (Bùi Đình Thanh, 2004b, tr 290, những

chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q)

2 CÁC QUAN NIỆM VỀ PHÚC LỢI XÃ HỘI

Phúc lợi xã hội và an sinh xã hội là lĩnh vực

được giới khoa học xã hội quan tâm nghiên

cứu khá nhiều kể từ sau cuộc Chiến tranh

thế giới lần thứ hai, nhất là trong các ngành

xã hội học, kinh tế học và chính trị học

Cho đến nay, người ta đã đưa ra nhiều định

nghĩa khác nhau và cũng khó lòng thống

nhất với nhau về cách hiểu thế nào là phúc

lợi xã hội hay an sinh xã hội Tuy vậy, về

đại thể, vẫn có một số điểm căn bản mà hầu

như ai cũng ít nhiều đồng ý, đó là: hệ thống

các định chế và các chính sách nhằm bảo

đảm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của

người dân, đặc biệt là trong những hoàn

cảnh bất trắc như mất việc làm, già cả và

bệnh tật, nhất là những nhóm dân cư

nghèo, yếu thế, dễ bị tổn thương Dưới đây

là một số định nghĩa chính về hai khái niệm

này trên thế giới

Năm 1944, Hội nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tuyên bố rằng "nghĩa vụ nghiêm cẩn của tổ chức ILO là thúc đẩy các quốc gia trên thế giới tiến hành những chương trình thực hiện việc mở rộng các

biện pháp an sinh xã hội (social security)

nhằm cung ứng một mức thu nhập căn bản cho tất cả những người có nhu cầu cần được bảo hộ và cần được hưởng sự chăm sóc y tế toàn diện" (dẫn lại theo ILO, 2001,

tr 1)

Vào năm 1948, Liên hiệp quốc đã ghi rõ

trong bản Tuyên ngôn nhân quyền về quyền

được hưởng an sinh xã hội như sau: "Mọi

người, với tư cách là thành viên của xã hội, đều có quyền hưởng an sinh xã hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực của quốc gia và sự hợp tác quốc tế và phù hợp với cách thức tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cần thiết cho phẩm giá của mình và cho

sự phát triển tự do của nhân cách của mình"(3)

Năm 1952, tổ chức ILO đã đưa ra Công

ước số 102 qui định những tiêu chuẩn tối thiểu của hệ thống an sinh xã hội mà sau

đó phần lớn các nước trên thế giới đều dựa vào đó để xây dựng hệ thống an sinh của mình Hệ thống an sinh tối thiểu này bao

gồm các thành tố như sau: chăm sóc y tế,

trợ cấp bệnh tật, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp, trợ cấp gia cảnh, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, và trợ cấp cho người kiêm hưởng

(ILO, 1952)(4) Năm 1958, tổ chức ILO coi an sinh xã hội

là "kết quả đạt được bởi một loạt các biện

pháp tổng hợp và có hiệu quả nhằm bảo vệ

công chúng (hay phần lớn công chúng) khỏi tình cảnh túng quẫn về mặt kinh tế ( )

Trang 5

vì không còn nguồn thu nhập do bệnh tật,

thất nghiệp hoặc tuổi già và qua đời" Đến

năm 1984, tổ chức này bổ sung cho định

nghĩa trên bằng cách nhấn mạnh tới vai trò

của nhà nước, coi đây là "sự bảo vệ mà xã

hội cung ứng cho các thành viên của mình

thông qua một loạt các biện pháp công

nhằm tránh rơi vào tình cảnh túng quẫn về

mặt kinh tế mà nếu không có những biện

pháp này thì sẽ xảy ra vì bị mất hoặc bị

giảm phần lớn nguồn thu nhập do bệnh tật,

sinh nở, công việc, tai nạn, thất nghiệp, tàn

phế, tuổi già và qua đời; cung ứng sự chăm

sóc y tế và cung ứng các khoản trợ cấp cho

các gia đình có con" Nhưng ít lâu sau đó,

tổ chức ILO lại đưa ra một định nghĩa khác,

lần này không còn nhấn mạnh tới vai trò

của nhà nước: an sinh xã hội là "sự an toàn

chống lại một số nguy cơ, được cung ứng

thông qua cách tổ chức thích hợp cho

những thành viên nào của mình có thể rơi

vào hoàn cảnh này Những nguy cơ này chủ

yếu là những sự bất trắc mà cá nhân có ít

phương tiện không thể nào đương đầu nổi

bằng khả năng riêng của mình hoặc không

thể trù liệu một mình hay kể cả với sự phối

hợp riêng tư với những người thân thuộc

của mình"(5)

Còn Hiệp hội An sinh Xã hội Quốc tế

(ISSA) thì đưa ra một định nghĩa tương đối

hạn hẹp hơn về an sinh xã hội, và quan

niệm rằng đây không chỉ là phần việc của

nhà nước: đó là "những chương trình bảo

hộ xã hội do nhà nước thiết lập, hoặc

những tổ chức được ủy nhiệm khác, (có

chức năng) cung ứng cho các cá nhân một

mức độ an toàn về thu nhập khi họ phải đối

diện với những hoàn cảnh bất trắc do tuổi

già, do lợi quyền thượng tồn(6), do mất khả

năng, do tàn tật, thất nghiệp hoặc do phải

nuôi dạy con cái Nó cũng có thể cung ứng quyền được hưởng sự chăm sóc y tế - chữa trị hay phòng ngừa bệnh tật" (xem ISSA) Theo tổ chức ISSA, an sinh xã hội bao gồm: các chương trình bảo hiểm xã hội, các chương trình trợ giúp xã hội, các chương

trình phổ quát (universal programmes), các chương trình tương trợ (mutual benefit

schemes), các quỹ dự phòng quốc gia

(national provident funds), và những

chương trình khác trong đó kể cả những chương trình mang tính thương mại Nhà xã hội học người Anh Thomas H Marshall (1949) có thể được coi là tác giả

đầu tiên gắn khái niệm phúc lợi (welfare) với khái niệm quyền công dân (citizenship),

và cho rằng quyền được hưởng phúc lợi

(welfare rights) là nhóm quyền thứ ba mà

các thành viên của xã hội đã giành được trong thế kỷ XX, sau nhóm các quyền dân

sự và nhóm các quyền chính trị Trong một bài viết nổi tiếng vào năm 1949 mang tên là

"Citizenship and Social Class", ông quan niệm quyền công dân gồm có ba thành tố: quyền công dân về mặt dân sự, về mặt chính trị, và về mặt xã hội Theo Marshall, nhà nước phúc lợi chính là kết quả của cả một quá trình lịch sử đấu tranh cho các

quyền công dân (citizenship rights) trong

suốt hơn 200 năm qua, mở rộng từ lĩnh vực dân sự, sang lĩnh vực chính trị, rồi tới lĩnh vực xã hội Vào thế kỷ XVIII, cuộc đấu

tranh cho các quyền công dân dân sự (civil

citizenship) - bao gồm quyền tự do ngôn

luận, quyền tự do tôn giáo, và quyền bình đẳng trước pháp luật - đã giành được thắng lợi ở Anh Vào thế kỷ XIX, đó là cuộc đấu

tranh giành quyền công dân chính trị (political citizenship), bao gồm quyền ứng

cử và bầu cử Trong thế kỷ XX, đó là cuộc

đấu tranh giành quyền công dân xã hội

Trang 6

(social citizenship) - đây là quyền được

hưởng một mức độ an sinh nhất định về

mặt kinh tế và quyền được tham gia đầy đủ

vào đời sống xã hội của đất nước(7) Quan

niệm của Marshall đã đặc biệt khẳng định

rằng việc được hưởng các khoản phúc lợi

cần được quan niệm như một quyền mang

tính pháp lý, dựa trên nguyên tắc phổ quát

(universality), chứ không phải dựa trên

quyền ấn định của những cơ quan có thẩm

quyền (discretionary) (Marshall, 1998, tr

702)

Theo dòng tư tưởng đó, Elizabeth

Wickenden (1965) cho rằng hệ thống an

sinh xã hội bao gồm các "luật lệ, chương

trình, quyền lợi và dịch vụ bảo đảm và

củng cố các biện pháp đáp ứng các nhu cầu

xã hội được công nhận như an sinh cơ bản

của quần chúng và cải tiến trật tự xã hội"(8)

Cũng tương tự như vậy, Beulah Compton

(1980) định nghĩa phúc lợi xã hội là một

thiết chế bao gồm các chính sách và luật lệ,

được thực thi bởi nhà nước hay bởi các tổ

chức tự nguyện, thông qua đó một mức độ

tối thiểu nhất định về các dịch vụ xã hội

thiết yếu (như y tế, giáo dục, nhà ở…) được

phân phối cho các cá nhân, gia đình, nhóm

xã hội (những dịch vụ mà gia đình hay thị

trường không đáp ứng được cho họ) nhằm

mục đích phòng ngừa, giảm nhẹ hoặc đóng

góp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội

và cải thiện sự an sinh của cá nhân, nhóm

và cộng đồng một cách trực tiếp(9)

Hai nhà kinh tế học Jean Dreze và Amartya

Sen (1991) đã tóm gọn cái cốt lõi của khái

niệm an sinh xã hội như sau: "Ý tưởng cơ

bản của an sinh xã hội là sử dụng những kế

sách xã hội để ngăn ngừa sự thiếu thốn và

tình trạng dễ bị tổn thương vì bị thiếu

thốn"(10) Hai tác giả này nhấn mạnh rằng

sự cung ứng hệ thống an sinh xã hội trong những quốc gia đang phát triển cần được quan niệm theo một nhãn giới rộng rãi hơn,

và cần xem đây "chủ yếu như một mục tiêu

cần theo đuổi thông qua các biện pháp công hơn là như một nhúm chiến lược cá biệt được xác định một cách hẹp hòi" Cách

hiểu này có lẽ cũng gần với quan niệm

"Freedom from Want" (không bị thiếu

thốn) mà bản phúc trình nổi tiếng của Beveridge (ở Anh Quốc) đề xướng(11) Giới hạn vào khía cạnh kinh tế, Madhava P Rao (2005) đã đưa ra một định nghĩa về

"an sinh kinh tế" (economic security) khá

độc đáo như sau: "Sự an sinh kinh tế bao gồm các cơ hội và các khả năng (xét về mặt định chế cũng như về mặt cá nhân) tận dụng những cơ hội này cho sự an sinh kinh

tế vốn được cung ứng bởi xã hội xét như một tổng thể hoặc bởi những định chế trong

xã hội như gia đình, cộng đồng, nhóm xã hội, thị trường - cung ứng cho từng cá nhân hoặc cho từng cộng đồng nhằm mục tiêu mang lại 'sự phúc lợi xã hội' cho mỗi cá nhân trong cuộc hành trình của mình từ ngày chào đời cho tới ngày qua đời" (Rao,

2005, tr 4)

Khi nghiên cứu về phúc lợi xã hội, giới nghiên cứu cũng đề cập nhiều tới khái niệm

nhà nước phúc lợi Theo R Lowe (1993),

thuật ngữ welfare state xuất hiện vào thập

niên 1930 ở Anh, xuất phát từ thuật ngữ

Wohlfahrstaat trong tiếng Đức, được dùng

để nói về một nhà nước có trách nhiệm bảo đảm sự phúc lợi và thịnh vượng của người dân và biết tôn trọng luật lệ quốc tế, đối lập

với kiểu nhà nước "warfare state" hay

"power state" vốn là nhà nước chỉ biết áp

đặt ý muốn của mình lên người dân và các nước láng giềng(12)

Trang 7

Theo Nicholas Abercrombie và một số tác

giả (1988), "ý tưởng căn bản của một nhà

nước phúc lợi là: chính quyền có trách

nhiệm đối với sự phúc lợi (well-being) của

các công dân của mình, và điều này

không thể được giao phó cho cá nhân, công

ty tư nhân hay cộng đồng địa phương"

(Abercrombie et al., 1988, tr 269, những

chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q)

Theo các tác giả này, nhà nước phúc lợi là

nhà nước bảo đảm cho người dân không bị

nghèo đói bằng các khoản trợ cấp thất

nghiệp, trợ cấp gia cảnh, phụ cấp thu nhập

cho những người có lương thấp, có chế độ

hưu bổng và trợ cấp người già; nhà nước

phúc lợi cung ứng đầy đủ các dịch vụ y tế,

giáo dục miễn phí, và nhà ở Những dịch vụ

này được tài trợ bởi các hệ thống bảo hiểm

quốc gia và từ nguồn ngân sách nhà nước

(Abercrombie et al., 1988, tr 269-270)

Nhà nước phúc lợi là một nhà nước cam kết

trách nhiệm của mình với người dân ít nhất

về ba lĩnh vực: a) bảo đảm công ăn việc

làm cho mọi người (vì thị trường tự do tư

nhân không thể bảo đảm được điều này,

nên nhà nước phải can thiệp để giải quyết

tình trạng thất nghiệp, khuyến khích tăng

trưởng kinh tế và ổn định giá cả); b) cung

ứng một hệ thống bảo hiểm công cộng

nhằm bảo vệ người dân trước những hoàn

cảnh bất trắc như thất nghiệp, già cả và

bệnh tật (nhà nước phải có chế độ bảo hiểm

thất nghiệp, chế độ hưu bổng, và chế độ

bảo hiểm y tế); c) nhà nước nhìn nhận rằng

quyền công dân trong một chế độ dân chủ

không chỉ bao gồm các quyền dân sự và

quyền chính trị, mà cả những quyền xã hội

(Fallis, 2005, tr 2)(13)

Theo nhà xã hội học Đức Karl-Heinz

Hillmann (1994), nhà nước phúc lợi là

"một nhà nước bảo đảm cho các công dân của mình, ngoài sự an toàn pháp lý, còn được cung ứng ở mức tối thiểu những sản phẩm vật chất (tùy theo những giá trị văn hóa-xã hội được xác định một cách khác nhau)" Ông nhận định đây là một mô hình nhà nước đáng hoan nghênh về mặt nhân văn, nhưng cho rằng nó cũng có nguy cơ

"làm suy yếu ý thức hiệu suất, sự chủ động

cá nhân, trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm xã hội của những công dân riêng lẻ, khả năng tự lực và khả năng điều hành của những mạng lưới thân tộc và những mạng lưới xóm giềng, và suy cho cùng, làm suy yếu cả nguồn lực kinh tế" (Hillmann, 1994,

ta có thể phân biệt hai dạng nhà nước phúc lợi kế tiếp nhau tại phần lớn các

nước Tây phương: "nhà nước bảo hộ" (État

protecteur), và "nhà nước tái phân phối"

(État redistributif) Nhà nước bảo hộ (bắt

đầu phát triển từ thập niên 1930) là nhà nước mang mục tiêu chủ yếu là hạn chế những cái giá phải trả về mặt xã hội do thị trường gây ra, và bảo đảm một số điều kiện

an sinh trước những bất trắc kinh tế lớn

(thất nghiệp, bệnh tật, già cả, v.v.) Nhà

nước tái phân phối (phát triển trong những

thập niên 1960 và 1970) là nhà nước tìm cách thiết lập một sự bình đẳng nào đó, bằng cách cố gắng làm giảm những sự bất

Trang 8

bình đẳng về mặt kinh tế và xã hội (Boudon

et al., 1999, tr 90)

Một hệ thống nhà nước phúc lợi, theo

Masayuki Fujimura (2000), bao gồm năm

thành tố cơ bản sau đây: 1) một hệ thống an

sinh xã hội; 2) chính quyền trung ương và

chính quyền địa phương là người quản lý

chủ chốt của hệ thống này; 3) việc nhìn

nhận về mặt xã hội và việc pháp điển hóa

các quyền nền tảng của con người; 4) sự

can thiệp chính đáng của nhà nước vào lĩnh

vực kinh tế để tạo ra đủ công ăn việc làm;

và 5) việc thực hiện dân chủ rộng rãi dựa

trên cơ sở quốc hội ra quyết định trong lĩnh

vực chính trị (Fujimura, 2000, tr 3)

Tuy nhiên, ngoài khái niệm nhà nước phúc

lợi (welfare state), W A Robson (1976)

còn khai triển thêm một khái niệm mới là

"xã hội phúc lợi" (welfare society), và đề

cập tới mối quan hệ giữa nhà nước phúc lợi

với xã hội phúc lợi Ông viết như sau: "Nhà

nước phúc lợi là cái mà Quốc hội ban hành

bằng sắc lệnh Còn xã hội phúc lợi là cái

mà nhân dân làm, cảm nhận và suy nghĩ về

những chuyện có liên quan tới sự phúc lợi

tổng quát ( ) Chỉ có một xã hội phúc lợi

dân chủ mới có khả năng thiết lập và duy

trì một nhà nước phúc lợi thực thụ Vì thế,

chúng ta không thể chỉ nhìn vào các dịch

vụ và các chức năng của các cơ quan nhà

nước, mà còn phải chú ý tới các thái độ, ý

kiến và ứng xử của chính nhân dân"(14)

Robson cho rằng một trong những khó

khăn lớn nhất của chúng ta nằm ở chỗ

chúng ta thường cố gắng xây dựng một nhà

nước phúc lợi mà không có xã hội phúc lợi

Robson nhấn mạnh rằng một "xã hội phúc

lợi" do chính người dân tạo dựng là điều

kiện tiên quyết cho việc thiết lập một nhà

nước phúc lợi Mặt khác, chính ý thức cộng

đồng (sense of community) là điều kiện tiên

quyết để vận động người dân tham gia xây dựng một "xã hội phúc lợi", nếu không thì nhà nước phúc lợi chỉ giống như "được xây trên cát" (dẫn lại theo Fujimura, 2000, tr 6)

Tô Duy Hợp (2006) nhận xét rằng cần phân biệt giữa nội hàm "cơ bản" của hệ thống an

sinh xã hội (chỉ chăm lo cho một số đối

tượng khó khăn) với nội hàm "đầy đủ" của

khái niệm này (chăm lo cho toàn dân): "Có thể nói, hàm ý cơ bản của an sinh xã hội là

sự bảo vệ (bảo đảm) của xã hội đối với những cá nhân hoặc/và nhóm xã hội đặc biệt khó khăn hoặc gặp phải rủi ro bất khả kháng (như thiên tai, địch họa ) ( ) Tuy

nhiên, hàm ý đầy đủ của an sinh xã hội là

hướng tới phúc lợi xã hội toàn dân, tức là một hệ thống an sinh không chỉ bao gồm sự bảo trợ cho bộ phận đặc biệt khó khăn hoặc gặp rủi ro bất khả kháng, vì đó mới chỉ là phúc lợi tối thiểu nhằm mục tiêu mưu sinh,

mà còn bao gồm cả sự bảo vệ toàn xã hội,

hơn thế nữa, đó còn là phúc lợi cao cấp của

xã hội phát triển" (Tô Duy Hợp, 2006, tr

25, những chỗ nhấn mạnh là do chúng tôi, T.H.Q)

Ngoài ra, còn có một cách hiểu và cách phân loại về nhà nước phúc lợi hết sức đáng chú ý của Gøsta Esping-Andersen mà chúng tôi sẽ trình bầy trong mục sau

3 CÁC LÝ THUYẾT PHÂN LOẠI CÁC HỆ THỐNG PHÚC LỢI XÃ HỘI

Cho đến nay, giới nghiên cứu đã không ngừng xem xét và tranh luận về cách phân loại các mô hình hệ thống phúc lợi và nhà nước phúc lợi trên thế giới Về đại thể, có hai mô hình phúc lợi tương phản điển hình thường được các tác giả nói tới, đó là:

1 Mô hình bảo hiểm xã hội theo hướng

Bismarck (các quỹ phúc lợi do người lao

Trang 9

động và người sử dụng lao động cùng quản

trị; mức đóng phí tính theo tỷ lệ so với mức

lương; mức trợ cấp theo tỷ lệ đóng góp)(15)

2 Mô hình bảo hộ xã hội theo hướng

Beveridge (các quỹ phúc lợi do nhà nước

quản trị; nguồn tài trợ lấy từ thuế; mức trợ

cấp đồng đều giống nhau) (16)

Theo Tô Duy Hợp (2006), có thể có nhiều

cách phân loại khác nhau về hệ thống an

sinh xã hội như sau:

- Phân biệt giữa hệ thống an sinh xã hội cơ

bản với hệ thống an sinh xã hội ở trình độ

phát triển cao, theo Yang Tuan(17)

- Phân loại theo các đối tượng xã hội thụ

hưởng (như người cao tuổi, người thất

nghiệp, người nghèo )

- Phân loại theo các loại hình dịch vụ phúc

lợi

- Phân loại giữa các biện pháp bảo vệ

(protective) đối với những đối tượng dễ bị

tổn thương (như trợ giúp xã hội và cứu trợ

xã hội), các biện pháp phòng ngừa

(preventive), và các biện pháp nhằm nâng

cao năng lực (promotional), theo Lê Bạch

Dương và một số tác giả khác(18)

Người ta thường ghi nhận những tác giả

quan trọng nhất đã tiến hành công việc loại

hình hóa các hệ thống phúc lợi trên thế

giới, đó là Richard Titmuss (1958, 1974),

Walter Korpi (1980, 1998) và Gøsta

Esping-Andersen (1990)

Việc loại hình hóa các mô hình hệ thống

phúc lợi thường được các nhà nghiên cứu

tiến hành bằng cách xem xét những kiểu

kết hợp giữa ba khu vực của xã hội (đó là

thị trường, nhà nước, và gia đình), và trong

việc đáp ứng ba chức năng chính (đó là bảo

hiểm, tái phân phối, và cung ứng các dịch

vụ xã hội) Ngoài ra, người ta còn xem xét

các yếu tố sau đây: mức độ phụ thuộc vào thị trường để thỏa mãn các nhu cầu của mình và có được sự bảo hộ của xã hội đối với mình (Gøsta Esping-Andersen đưa ra

khái niệm decommodification, tức mức độ

"phi hàng hóa hóa", để nói về mức độ được thụ hưởng các dịch vụ an sinh xã hội mà không lệ thuộc vào thị trường); mô hình phân tầng xã hội mà nhà nước nhắm đến hoặc là hệ quả của sự can thiệp của nhà nước (liên quan tới mục tiêu bình đẳng xã hội) (Oberti, 1999, tr 90)

Richard Titmuss (1974) thường được coi là tác giả đầu tiên đưa ra một cái khung xếp loại các mô hình phúc lợi Dựa trên phương pháp phân tích đa chiều kích, ông đã nhận diện ra ba quan niệm khác nhau về vai trò của chính sách xã hội, và ông nối kết mỗi quan niệm với những nguyên tắc cung ứng

và hưởng dụng các dịch vụ phúc lợi Theo ông, trên thế giới, có ba mô hình như sau:

a) Mô hình phúc lợi thặng dư (residual),

trong đó vai trò chủ đạo thuộc về gia đình

và thị trường chứ không phải là sự tái phân phối của nhà nước, và quyền hưởng phúc lợi phụ thuộc vào việc thẩm tra khả năng

thu nhập (means-testing)

b) Mô hình phúc lợi phổ quát (universalist)

hay cũng có thể gọi là mô hình định chế tái phân phối, trong đó nhà nước thay thế vào chỗ của gia đình và thị trường trong việc bảo đảm phúc lợi theo mục tiêu hướng đến

sự bình đẳng

c) Mô hình đóng góp dựa trên mức thu nhập

kiếm được (earnings-related contributory

systems), phản ánh quan niệm đặt nặng trên

hiệu quả đạt được trong lao động (industrial

achievement-performance); trong mô hình

này, cả thị trường lẫn nhà nước đều cùng có mặt, nhưng người ta ưu tiên nhấn mạnh đến

Trang 10

những đóng góp kinh tế của các cá nhân(19)

Theo Gøsta Esping-Andersen (1990), chính

lịch sử của các mối liên minh chính trị giữa

các giai cấp mới là nguyên nhân quyết định

đối với những biến thể của mô hình nhà

nước phúc lợi trong các xã hội hiện đại

(Esping-Andersen, 1991, tr 1) Tác giả này

cho rằng phần lớn các lý thuyết về nhà

nước phúc lợi hiện nay đều dựa trên những

phân tích truyền thống về các mức độ công

nghiệp hóa, về hình thái quyền lực chính

trị, hay về khả năng chi tiêu của ngân sách

nhà nước Esping-Andersen muốn vượt qua

những khuôn khổ phân tích ấy, và cho rằng

chìa khóa của một hình thái nhà nước phúc

lợi chủ yếu nằm trong ba khâu sau đây :

mức độ phi hàng hóa hóa

(de-commodification), sự phân tầng xã hội

(social stratification), và tình hình nhân

dụng (employment) trong xã hội

(Esping-Andersen, 1991, tr 2-3)

Người ta thường xem sự phát triển của các

quyền xã hội (social rights) như là bản chất

của chính sách xã hội Kế thừa và khai triển

các tư tưởng của Karl Polanyi,

Esping-Andersen cho rằng cần xem xét các quyền

xã hội dưới góc độ khả năng "phi hàng hóa

hóa" các quyền xã hội "Tiêu chuẩn nổi bật

của các quyền xã hội phải là mức độ mà

theo đó chúng cho phép con người có thể

xác lập được mức sống của mình mà không

phụ thuộc vào các lực lượng của thị

trường Chính là theo ý nghĩa này mà các

quyền xã hội có thể làm giảm bớt tư cách

"hàng hóa" của các công dân"

(Esping-Andersen, 1991, tr 3)

Esping-Andersen viết: "Những động cơ

chính của chính sách xã hội hiện đại nằm

trong quá trình trong đó cả nhu cầu của con

người lẫn sức lao động đều trở thành hàng

hóa, và vì thế, phúc lợi của chúng ta trở nên phụ thuộc vào mối quan hệ giữa chúng

ta với hệ thống tiền tệ" Trong thời Trung

cổ, khi mà chế độ sử dụng lao động chưa chuyển sang chế độ khế ước (hay hợp

đồng, contract), thì chính gia đình, giáo

hội hoặc vị lãnh chúa là những người quyết định khả năng sinh tồn của mỗi người "Sự khuếch trương của chủ nghĩa tư bản diễn ra cùng với sự lụi tàn dần dần của phương thức bảo hộ xã hội "tiền hàng hóa

hóa" ('pre-commodified' social protection)"

(Esping-Andersen, 1991, tr 35)

Esping-Andersen gọi sự "phi hàng hóa hóa"

(de-commodification) là tình trạng trong đó

sở dĩ người ta được hưởng các dịch vụ phúc

lợi là do người ta có quyền được hưởng, và

người ta có thể duy trì cuộc sống của mình

mà không cần dựa trên thị trường

(Esping-Andersen, 1991, tr 21-22) Ông nói rõ rằng cho dù có những chính sách trợ giúp xã hội hay bảo hiểm xã hội thì điều này không nhất thiết dẫn đến một tình hình "phi hàng hóa hóa" thực thụ nếu chúng không thực sự giải phóng các cá nhân ra khỏi sự phụ thuộc vào thị trường Khi người công nhân

bị lệ thuộc hoàn toàn vào thị trường, họ sẽ rất khó mà đoàn kết với nhau và rất khó mà tập hợp lại được trong những phong trào hành động tập thể Chỉ khi nào các quyền

xã hội của họ được "phi hàng hóa hóa" thì lúc ấy họ mới thực sự có sức mạnh, và đồng thời, quyền lực tuyệt đối của giới chủ lúc ấy mới yếu bớt đi; chính vì thế mà giới nghiệp chủ thường không có thiện cảm và cũng không sẵn lòng tham gia vào các chương trình phúc lợi xã hội (Esping-Andersen, 1991, tr 22)

Esping-Andersen đã phân biệt ba loại hình nhà nước phúc lợi căn cứ trên những khác

Ngày đăng: 11/02/2022, 15:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm