1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu biến dị và khả năng di truyền tính trạng sinh trưởng và tính chất gỗ của keo lá liềm (acacia crassicarpa a cunn ex benth ) trong một số khảo nghiệm hậu thế TT

29 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học Kết quả luận án đã bổ sung những hiểu biết về đặc điểm biến dị, khả năng di truyền về một số tính chất gỗ liên quan chặt chẽ t

Trang 1

LÊ XUÂN TOÀN

NGHIÊN CỨU BIẾN DỊ VÀ KHẢ NĂNG DI TRUYỀN TÍNH TRẠNG SINH TRƯỞNG VÀ TÍNH CHẤT GỖ

CỦA KEO LÁ LIỀM (Acacia crassicarpa A.Cunn ex

Benth.) TRONG MỘT SỐ KHẢO NGHIỆM HẬU THẾ

Ngành đào tạo: Di truyền và chọn giống cây lâm nghiệp

Mã ngành: 9 62 02 07

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP

Hà Nội - 2022

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phí Hồng Hải

PGS TS Nguyễn Hoàng nghĩa

Chủ tịch Hội đồng: GS.TS Võ Đại Hải

Phản biện 1: PGS.TS Phạm Đức Tuấn

Phản biện 2: TS Đoàn Ngọc Dao

Phản biện 3: PGS.TS Bùi Văn Thắng

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và Thư viện Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Keo lá liềm (Acacia crassicarpa Acunn ex Benth.) có nguồn

gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia Đây là loài cây đamục đích, có khả năng sinh trưởng nhanh, cạnh tranh được với cỏdại, sinh trưởng tốt trên đất nghèo dinh dưỡng (Harwood và cộng sự,1993) Nghiên cứu về cải thiện giống Keo lá liềm trên thế giới chothấy các xuất xứ từ Papue New Guinea (PNG) thích nghi với đấtkiềm nhẹ, song thân cây dễ bị uốn cong và gẫy bởi gió lốc(Thomson, 1994; Minquan và Yutian, 1991) Các xuất xứ từQueensland (Qld) chịu được gió lốc tốt hơn nhưng sinh trưởng chậmhơn các xuất xứ PNG

Ở Việt Nam, các nghiên cứu cũng đã khẳng định Keo lá liềm làloài có khả năng sinh trưởng nhanh và thích ứng tốt trên đất đồi vàđất cát nội đồng có lên líp (Lê Đình Khả, 2003; Nguyễn HoàngNghĩa, 2003; Nguyễn Thị Liệu, 2006) Các xuất xứ từ PNG thường

là những xuất xứ có sinh trưởng nhanh nhất Qua công tác chọngiống, đến nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã côngnhận nhiều xuất xứ và 11 gia đình có năng suất cao (trên 20

m3/ha/năm) và hàm lượng cellulose cao (Phí Hồng Hải, 2016)

Trải qua nhiều bước cải thiện giống, nhiều xuất xứ mới Keo láliềm đã được nhập nội đặc biệt là các xuất xứ có nguồn gốc từQueensland (QLD) với mục đích làm tăng đa dạng di truyền giốngKeo lá liềm hiện có ở Việt Nam, nhiều khảo nghiệm hậu thế kết hợpxây dựng vườn giống cho Keo lá liềm thế hệ 2 đã được thiết lập ởmột số vùng sinh thái khác nhau Để đáp ứng mục tiêu chọn tạogiống Keo lá liềm theo hướng nâng cao năng suất và chất lượng gỗ,đặc biệt là cung cấp gỗ xẻ, tăng tính đa dạng di truyền và khả năngchống chịu, thì việc tiếp tục bổ sung các cơ sở khoa học cho nghiên

cứu cải thiện giống là rất cần thiết Do vậy, đề tài “Nghiên cứu biến

dị và khả năng di truyền tính trạng sinh trưởng và tính chất gỗ

của Keo lá liềm (Acacia crassicarpa A.Cunn ex Benth.) trong

Trang 4

một số khảo nghiệm hậu thế” là rất có ý nghĩa về khoa học cũng

như thực tiễn sản xuất

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học

Kết quả luận án đã bổ sung những hiểu biết về đặc điểm biến

dị, khả năng di truyền về một số tính chất gỗ liên quan chặt chẽ tới

gỗ xẻ và mối quan hệ di truyền giữa các tính trạng sinh trưởng vớichất lượng thân cây và một số tính chất gỗ, làm cơ sở khoa học chochọn, tạo giống Keo lá liềm

- Ý nghĩa thực tiễn

+ Đã chọn được 2 xuất xứ mới Luncida và Cape Melville từQueensland có sinh trưởng chậm ở tuổi 3 - 4 so với các xuất xứ từPapua New Guinea song lại sinh trưởng nhanh ở tuổi 7 - 12, có khốilượng riêng và mô đun đàn hồi cao

+ Đã chọn được 15 gia đình Keo lá liềm (25, 26, 31, 32 ở NamĐàn; 38, 25, 44, 45, 18, 16, 73 ở Cam Lộ và 89, 35, 94, 71 ở HàmThuận Nam) có sinh trưởng nhanh, chất lượng thân cây và chất lượng

- Mục tiêu cụ thể

+ Đánh giá được đặc điểm biến dị và khả năng di truyền củacác tính trạng sinh trưởng, chất lượng thân cây và một số tính chất gỗcho các gia đình Keo lá liềm trong các KNHT thế hệ 2;

+ Xác định tương quan giữa các tính trạng sinh trưởng với tínhtrạng chất lượng thân cây và một số tính chất gỗ; xác định được mức

độ tương quan kiểu gen – hoàn cảnh cho các tính trạng sinh trưởng

Trang 5

+ Xác định tăng thu di truyền lý thuyết và thực tế trong chọngiống Keo lá liềm.

+ Đề xuất được một số giải pháp chọn, tạo giống Keo lá liềm ởcác thế hệ tiếp theo

4 Những điểm mới của đề tài

- Lần đầu tiên nghiên cứu toàn diện về đặc điểm biến dị và khảnăng di truyền cho độ chéo thớ gỗ, góc vi thớ sợi gỗ, khối lượngriêng cơ bản, độ co rút và mô đun đàn hồi của các gia đình Keo láliềm trong các KNHT thế hệ 2, phục vụ chọn giống cho trồng rừng

gỗ lớn

- Đã chọn bổ sung được 2 xuất xứ Luncida và Cape Melville từQueensland và 15 gia đình Keo lá liềm có sinh trưởng nhanh, chấtlượng thân cây tốt, khối lượng riêng gỗ và mô đun đàn hồi caovà/hoặc độ co rút và độ chéo thớ gỗ thấp phục vụ trồng rừng gỗ lớn

5 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu về biến dị và khả năng di truyền chocác tính trạng sinh trưởng và một số tính chất gỗ là 186 gia đình(thuộc 14 xuất xứ nguyên sản và các lô hạt thu từ các vườn giống vàrừng giống ở Việt Nam) Keo lá liềm trong các KNHT thế hệ 2

- Đối tượng nghiên cứu tăng thu di truyền thực tế là các lô hạtthu hái từ các gia đình tốt tại KNHT thế hệ 2 tại Cam Lộ - Quảng Trị,

lô hạt hỗn hợp 20 gia đình tốt tại KNHT thế hệ 2 tại Hàm ThuậnNam - Bình Thuận, kết hợp với lô hạt nguyên sản Malta từ PNG và

lô hạt trồng rừng sản xuất tại khu vực miền Trung

6 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung

(1) Luận án chỉ thực hiện nghiên cứu mức độ biến dị và khảnăng di truyền cho các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân câycủa các gia đình Keo lá liềm trong các KNHT thế hệ 2 ở các tuổikhác nhau; cụ thể: tại Nam Đàn - Nghệ An ở các tuổi 2, 7, 12; tạiCam Lộ - Quảng Trị ở các tuổi 3, 5, 10; tại Hàm Thuận Nam - BìnhThuận ở các tuổi 5 và 9

Trang 6

(2) Do thời gian và kinh phí có hạn nên các nghiên cứu biến dị

và khả năng di truyền cho khối lượng riêng, mô đun đàn hồi chỉ đượcthực hiện ở tuổi 7 tại Nam Đàn - Nghệ An, trong khi các tính trạngkhối lượng riêng, độ co rút, độ chéo thớ gỗ và góc vi thớ sợi gỗ chỉđược thực hiện ở tuổi 10 tại Cam Lộ - Quảng Trị

(3) Các nghiên cứu về tăng thu di truyền thực tế chỉ được bố trítại tỉnh Quảng Trị, trên lập địa đất đồi tại huyện Cam Lộ và trên lậpđịa đất cát nội đồng tại thôn Lệ Xuyên, xã Triệu Trạch, huyện TriệuPhong, tỉnh Quảng Trị

7 Bố cục luận án

- Mở đầu: 5 trang

- Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu 30 trang

- Chương 2: Nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu 19trang

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 72 trang

- Kết luận, tồn tại và kiến nghị: 4 trang

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Thông tin chung về Keo lá liềm

Keo lá liềm (Acacia crassicarpa A Cunn ex Benth.) thuộc bộ

Đậu (Fabales), họ Trinh nữ (Mimosaceae)

Keo lá liềm có nguồn gốc từ Australia, Papua New Guinea vàIndonesia Keo lá liềm là loài cây đa tác dụng và có khả năng sinhtrưởng nhanh, chịu gió, cát, cạnh tranh được với cỏ dại (đặc biệt là cỏtranh), sinh trưởng tốt trên đất nghèo dinh dưỡng (Harwood và cộng

sự, 1993) Đây là một trong 3 loài keo có triển vọng nhất trong cácloài thuộc chi keo và được gây trồng rộng rãi ở nhiều nước (Turnbull

và cộng sự, 1998)

1.2 Ảnh hưởng của một số tính chất gỗ tới chất lượng gỗ xẻ

- Đường kính khúc gỗ là rất quan trọng đối với người chế biến

gỗ (Steele, 1984) Nhìn chung, gỗ tròn có đường kính lớn thì cho khả

Trang 7

năng tạo ra lượng gỗ xẻ cao hơn, với chi phí cố định thấp hơn và tỷ

lệ ván xẻ chất lượng cao hơn (Walker, 2006) Hai trong số nhữngtính trạng dễ dàng thực hiện nhất trong nỗ lực cải thiện giống chotrồng rừng gỗ xẻ là độ thẳng của thân và độ nhỏ cành, vì ảnh hưởngcủa chúng đến chất lượng gỗ và sản lượng gỗ là rất rõ ràng (Zobel &Jett, 1995)

- Khối lượng riêng cơ bản gỗ là một trong những tính trạngquan trọng nhất cần xem xét trong sản xuất gỗ xẻ (Rozenberg &Cahalan, 1997) Gỗ sử dụng trong kết cấu chịu lực cần khối lượngriêng và độ bền cao, trong khi gỗ có khối lượng riêng thấp có thểthích hợp cho sản xuất giấy và bột giấy hơn là cho xây dựng (Barnett &Jeronimidis, 2003)

- Độ co rút gỗ (Shrinkage) là một trong những tính chất quantrọng đối với sự ổn định về kích thước của gỗ Sự co rút quá mứctrong quá trình sấy sẽ gây ra hiện tượng cong vênh (cong, vênh, chéovặn), nứt và móp méo của gỗ (Ormarsson và cộng sự, 1998; Skaar,1988)

- Mô đun đàn hồi của gỗ (Modulus of elasticity, MoE) và độbền uốn tĩnh (Modulus of rupture, MoR) là những đặc tính quantrọng đối với ba sản phẩm chính của gỗ xẻ, đó là đồ nội thất, ván sàn

và gỗ xây dựng Mô đun đàn hồi và độ bền uốn tĩnh cũng bị ảnhhưởng bởi góc vi thớ sợi gỗ, tỷ lệ lignin và mức độ chéo thớ gỗ(Huang và cộng sự, 2003; Aggarwal và cộng sự, 2002)

- Độ chéo thớ gỗ (Spiral grain) trên cây có thể gây ra vặn xoắn,

biến dạng tấm ván và các vấn đề về bề mặt trong quá trình gia công(Ekevad, 2005) Độ chéo thớ thường rất cao ở gỗ lõi (Ormarsson &Cown, 2005)

- Góc vi thớ sợi gỗ (microfibril angle, MFA) của lớp vách tếbào S2 trong tế bào sợi gỗ là một trong những tính chất ảnh hưởnglớn tới độ bền uốn tĩnh của gỗ (Evans & Ilic, 2001) Gần đây đánhgiá MFA cho số lượng lớn các mẫu gỗ bằng phương pháp nhiễu xạtia X - SilviScan2 đã được phát triển, nhưng do chi phí đắt đỏ nên

Trang 8

chưa có nhiều công bố về sự biến đổi di truyền của MFA (Yang &Evans, 2003)

1.3 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới

Keo lá liềm (Acacia crassicarpa Acunn ex Benth.) có nguồn

gốc từ Australia, Papua New Guinea và Indonesia Đây là loài cây đamục đích, có khả năng sinh trưởng nhanh, cạnh tranh được với cỏdại, sinh trưởng tốt trên đất nghèo dinh dưỡng (Harwood và cộng sự,1993) Vào những năm 1990, Keo lá liềm lần đầu tiên được giớithiệu như một loài thay thế trong ngành công nghiệp giấy và bột giấy(Turnbull và cộng sự, 1998)

Nghiên cứu về cải thiện giống Keo lá liềm trên thế giới chothấy các xuất xứ từ Papue New Guinea (PNG) thích nghi với đấtkiềm nhẹ, song thân cây dễ bị uốn cong và gẫy bởi gió lốc(Thomson, 1994; Minquan và Yutian, 1991) Các xuất xứ từQueensland (Qld) chịu được gió lốc tốt hơn nhưng sinh trưởng chậmhơn các xuất xứ PNG Đến nay chỉ có một vài nghiên cứu về biến dị

di truyền của Keo lá liềm được công bố, đó là nghiên cứu củaHarwood và cộng sự (1993) tại Australia, Arif (1997) tại Indonesia,Arnold và Cuevas (2003) tại Philippines Các nghiên cứu này đã ghinhận có sự sai khác rõ rệt về sinh trưởng giữa các xuất xứ và các giađình trong xuất xứ Nhưng hệ số di truyền về các tính trạng sinhtrưởng chỉ ở mức thấp đến trung bình, trong khi độ thẳng thân vàchiều cao dưới cành đều có hệ số di truyền rất thấp, đạt từ 0,01 đến0,14 Các nghiên cứu cải thiện về các tính chất gỗ cho các xuất xứKeo lá liềm rất ít và hiện mới chỉ được ghi nhận tại Indonesia vàMalaysia; chưa thấy có nghiên cứu nào được thực hiện ở mức độbiến dị di truyền gia đình

Keo lá liềm được nhân giống chủ yếu từ hạt Cây non sinhtrưởng nhanh, giai đoạn cây non khoảng 3 tháng tuổi đem trồng làthích hợp (Thomson, 1994) Keo lá liềm cũng có thể nhân giốngbằng phương pháp ghép và chiết từ cây 3 tuổi, nếu cây già hơn thì sẽkhó khăn hơn (Thomson, 1994) Giống Keo lá liềm thuần loài rất khó

Trang 9

nhân giống vô tính, do hiện tượng già hóa nhanh vật liệu nhân giống.

Do đó, việc nhân giống hàng loạt cho các giống đã chọn lọc phảithực hiện theo phương thức kinh doanh lâm nghiệp dòng vô tính theogia đình (clonal family forest – CFF) và bước đầu cho kết quả rất khả

quan tại Indonesia (White và cộng sự, 2007) Nhân giống in vitro

cũng đã bước đầu được nghiên cứu, điển hình là nghiên cứu củaYang và cộng sự (2006)

1.4 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trong nước

Keo lá liềm là loài có sinh trưởng nhanh và có khả năng thíchứng tốt trên đất đồi và đặc biệt là trên đất cát, đất cát nội đồng có lênlíp (Lê Đình Khả, 2003; Nguyễn Hoàng Nghĩa, 2003; Nguyễn ThịLiệu, 2006) Trên vùng đồi Keo lá liềm có khả năng sinh trưởngtương đương với Keo tai tượng, Keo lai và cao hơn Keo lá tràm Vềgiá trị sử dụng, Nguyễn Tử Kim và cộng sự (2015) cho rằng gỗ Keo

lá liềm mềm và nhẹ, gỗ có hệ số co rút thể tích trung bình và điểmbão hòa thớ gỗ thấp nên khá thuận lợi trong quá trình phơi sấy Gỗ cóthể dùng làm vật dụng thông thường, làm nhà dân dụng

Các nghiên cứu về biến dị giữa các xuất xứ đã khẳng định cácxuất xứ của PNG là những xuất xứ có sinh trưởng nhanh nhất (LêĐình Khả, 2001) Ở tuổi 4 - 5,5, hệ số di truyền theo nghĩa hẹp củacác chỉ tiêu sinh trưởng trong KNHT thế hệ 1 tại Cam Lộ, PhongĐiền và Hàm Thuận Nam tương đối thấp (Hà Huy Thịnh và cộng sự,2011) Tại các KNHT thế hệ 2, hệ số di truyền theo nghĩa hẹp củacác tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân cây đều ở mức thấp ởkhảo nghiệm Cam Lộ và Quy Nhơn (h2 = 0,01 - 0,14), nhưng đạtmức trung bình ở Ba Vì (h2 = 0,16 - 0,24) (Phí Hồng Hải và cộng sự,2014) Cho tới nay, nghiên cải thiện các tính chất gỗ mới chỉ đượcPhạm Xuân Đỉnh (2010) và Phạm Xuân Đỉnh và cộng sự (2014) thựchiện cho khối lượng riêng và hàm lượng cellulose cho các KNHT thế

hệ 1 Keo lá liềm tại Cam Lộ, Phong Điền và Hàm Thuận Nam ở tuổi

5 - 10

Trang 10

Nghiên cứu nhân giống hom đã được Nguyễn Thị Liệu (1998)thực hiện Đối với nhân giống nuôi cấy mô, Đặng Thái Dương(2015) cũng đã bước đầu nghiên cứu Trong nhân giống mô theo giađình (clonal family forest – CFF), Phí Hồng Hải và Văn Thu Huyền(2016) đã tiến hành nghiên cứu về nhân giống cho 5 gia đình ưu việtKeo lá liềm trong vườn giống thế hệ 2 tại Quảng Trị và Bình Thuậnbằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào

1.5 Đánh giá chung

- Trên thế giới các công trình nghiên cứu về cải thiện giống choKeo lá liềm còn chưa nhiều, chủ yếu là chọn xuất xứ, một số nghiêncứu biến dị di truyền cho các KNHT ở một số nước nhưng cũng chỉtập trung cho các tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân cây ở tuổi

2 - 13 Trong khi các nghiên cứu cải thiện chất lượng gỗ xẻ cũng chỉmới được thực hiện ở mức độ xuất xứ

- Ở trong nước, từ khảo nghiệm loài/xuất xứ, KNHT thế hệ 1

và 2, đã xác định Keo lá liềm là một trong 3 loài keo có triển vọngphát triển nhất ở nước ta Các KNHT thế hệ 1 đã được đánh giá vềbiến dị và khả năng di truyền chọn các tính trạng sinh trưởng, chấtlượng thân cây, khối lượng riêng gỗ và hàm lượng cellulose CácKNHT thế hệ 2, chỉ mới đánh giá biến dị và khả năng di truyền chocác tính trạng sinh trưởng và chất lượng thân ở các tuổi 3 - 4;

- Keo lá liềm hiện nay chỉ được trồng bằng cây hữu tính và từnguồn giống chưa được chọn lọc có chất lượng và chưa được kiểmsoát Các nghiên cứu trước đây cũng đã khẳng định Keo lá liềmkhông thể phát triển dòng vô tính vì hiện tượng già hóa nhanh ở vậtliệu nhân giống, chính vì vậy nghiên cứu chọn giống Keo lá liềmphải tập trung chọn lọc các cá thể ưu việt trong các gia đình ưu việt ởcác KNHT để phát triển giống Keo lá liềm theo phương thức kinhdoanh lâm nghiệp dòng vô tính theo gia đình (Clone Family Forest -CFF)

Trang 11

Chương 2 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu

1)Nghiên cứu mức độ biến dị về sinh trưởng, chất lượng thân cây vàtính chất gỗ giữa các xuất xứ và gia đình trong các khảo nghiệm hậu thếthế hệ 2;

2)Nghiên cứu xác định khả năng di truyền cho các tính trạng sinhtrưởng, chất lượng thân cây và tính chất gỗ;

3)Xác định tương quan giữa các tính trạng sinh trưởng với các tínhtrạng chất lượng thân cây và tính chất gỗ và ảnh hưởng của tương tác kiểugen - hoàn cảnh;

4)Xác định tăng thu di truyền lý thuyết và thực tế của các tính trạngsinh trưởng, chất lượng thân cây và tính chất gỗ;

5)Đề xuất giải pháp cải thiện giống Keo lá liềm

2.2 Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu để xây dựng các KNHT Keo lá liềm tại Nam Đàn Nghệ An, Cam Lộ - Quảng Trị và Hàm Thuận Nam - Bình Thuận là

-186 gia đình thuộc 14 xuất xứ nguyên sản cũng như các lô hạt giađình thu tại vườn giống hữu tính thế hệ 1 tại Bình Thuận, Cam lộ vàrừng giống ở Ba Vì và Đồng Nai Ngoài ra, để nghiên cứu tăng thu ditruyền thực tế, 9 nguồn hạt giống đã thu thập để xây dựng khảonghiệm ở vùng đồi và vùng cát tại tỉnh Quảng Trị

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu sinh trưởng và chất lượng thân cây

- Các chỉ tiêu sinh trưởng được thu thập theo các phương phápthông dụng trong điều tra rừng của Vũ Tiến Hinh và Phạm Ngọc Dao(1997)

- Đánh giá độ thẳng thân cây (Dtt) và độ nhỏ cành (Dnc) của tất

cả các cây trong khảo nghiệm bằng phương pháp mục trắc TCVN

8755 : 2017 - Giống cây lâm nghiệp Duy trì trục thân (Dttt) được

Trang 12

thực hiện theo phương pháp cho điểm của Luangviriyasaeng vàPinyopusarerk (2002) Chỉ tiêu chất lượng thân cây tổng hợp được tínhtheo công thức của Lê Đình Khả và cộng sự (2001).

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu về tính chất gỗ các gia đình Keo lá liềm

a) Phương pháp thu thập mẫu thí nghiệm:

Mẫu gỗ thu thập bằng khoan tăng trưởng đường kính 12 mmcho 4 cây ngẫu nhiên của 52 gia đình trong 100 gia đình tham giaKNHT tại Cam Lộ - Quảng Trị Mẫu gỗ thu thập bằng phương phápcưa cắt thớt gỗ: 200 thớt gỗ dày 5 cm lấy tại độ cao 1,3m của 200 câytại tuổi 7 (thời điểm tỉa thưa di truyền), thuộc 50 gia đình trong 81gia đình tham gia KNHT ở Nam Đàn - Nghệ An

b) Phương pháp xác định khối lượng riêng gỗ: theo phương pháp

nước chiếm chỗ (Olesen 1971)

c) Phương pháp xác định mô đun đàn hồi: được đo gián tiếp thông

qua đo tốc độ âm thanh (Velocity - Vel) bằng dụng cụ Fakopp theohướng Đông, Tây, Nam và Bắc Xác định tốc độ âm thanh được thựchiện bằng máy đo FAKOPP Microsecond Timer (đơn vị µs) (Ross vàcộng sự, 1999)

d) Phương pháp xác định độ co rút gỗ

Độ co rút gỗ được xác định trên mẫu gỗ thu thập bằng phươngpháp khoan tăng trưởng Phương pháp xác định dựa trên cơ sở tiêuchuẩn TCVN 8048-13 về Gỗ - Phương pháp thử cơ lý - Phần 13: Xácđịnh độ co rút theo phương xuyên tâm và phương tiếp tuyến vàTCVN 8048-14 về Gỗ - Phương pháp thử cơ lý - Phần 14: Xác định

độ co rút thể tích

e) Phương pháp xác định độ chéo thớ gỗ

Độ chéo thớ gỗ được đo ở phần trên sát với vị trí độ cao 1,3 m bằng 1dụng cụ được phát triển bởi Trường Đại học kỹ thuật Chalmers ở Thụy Điển(Hannrup và cộng sự, 2003)

Trang 13

Hình 1 Thiết bị Chalmer (trái) và xác định độ chéo thớ gỗ trên cây đứng

(phải)

f) Phương pháp xác định góc vi thớ sợi gỗ

Góc vi thớ sợi gỗ xác định trên mẫu gỗ thu thập bằng phươngpháp khoan tăng trưởng sau khi hoàn thành các thí nghiệm xác địnhkhối lượng riêng và độ co rút Chụp ảnh bằng hệ thống camera kỹthuật số Pax-Cam kết nối máy tính và đo góc chéo bằng phần mềmPax-it

Hình 2 Chuẩn bị mẫu gỗ (trái); mẫu gỗ trên lam kính (giữa); đo góc vi thớ

Trang 14

các quy định trong TCVN 8754:2017 về Giống cây lâm nghiệp Giống mới được công nhận.

-2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng các phần mềm thống kê thông dụngtrong cải thiện giống, bao gồm DATAPLUS 3.0, Genstat 12.0 vàASREML 4.1 (VSN International)

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Biến dị về sinh trưởng, chất lượng thân cây và tính chất gỗ giữa các xuất xứ và gia đình trong các KNHT thế hệ 2

3.1.1 Biến dị giữa các xuất xứ

a) Về sinh trưởng và chất lượng thân cây

Giữa các xuất xứ Keo lá liềm tại khảo nghiệm Nam Đàn có sựphân hóa rõ rệt về sinh trưởng và chất lượng thân cây (F.pro <0,001)

ở cả tuổi 7 và tuổi 12 Xuất xứ mới là Cape Melville, Merluna vàLuncida từ QLD có sinh trưởng triển vọng với năng suất bình quânnăm 22,6 - 22,8 m3/ha/năm, cao hơn trung bình khảo nghiệm (21,4

m3/ha/năm) và có chất lượng thân cây tốt (34 - 37 điểm)

b) Về khối lượng riêng và mô đun đàn hồi

Kết quả phân tích biến dị giữa các xuất xứ Keo lá liềm tại khảonghiệm Nam Đàn cho thấy có sự sai khác rõ rệt giữa các xuất xứ vềkhối lượng riêng của gỗ, nhưng không có sự sai khác rõ rệt về môđun đàn hồi Khối lượng riêng của gỗ biến động lớn giữa các xuất

xứ, từ 484,7 kg/m3 đến 563,3 kg/m3, nhưng biến động về mô đun đànlại nhỏ giữa các xuất xứ, chỉ từ 13,3 GPa tới 15,9 GPa

Trong 3 xuất xứ QLD có khối lượng riêng cơ bản cao nhất, chỉ

có 2 xuất xứ vừa có sinh trưởng tương đối nhanh và chất lượng lượngthân cây tốt, đó là xuất xứ Cape Melville và Luncida với mô đun đànhồi đạt 15,0 - 15,9 GPa và khối lượng riêng cơ bản đạt 555,9 - 563,3kg/m3 Như vậy, đối với lập địa Nam Đàn (Nghệ An) và rộng hơn làcác lập địa tương tự ở vùng Bắc Trung Bộ nên ưu tiên sử dụng các

Ngày đăng: 11/02/2022, 08:32

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w