--- ĐOÀN THỊ XUYẾN Tên đề tài: NGHIÊN CỨU SỰ LƯU HÀNH BỆNH SÁN LÁ GAN TRÊN TRÂU, BÒ CỦA HUYỆN CHIÊM HÓA - TỈNH TUYÊN QUANG, ỨNG DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC TRONG XỬ LÝ PHÂN TRÂU, BÒ ĐỂ GIẢ
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiên cứu
* Các loại mẫu nghiên cứu
- Mẫu phân tươi của trâu, bò các lứa tuổi
- Các mẫu gan của trâu, bò (để thu thập sán lá gan)
- Mẫu phân trâu, bò trước khi ủ với chế phẩm sinh học
- Mẫu phân trâu, bò sau khi ủ với chế phẩm sinh học
- Kính hiển vi quang học, kính lúp
- Bộ dụng cụ xét nghiệm phân, buồng đếm Mc.Master
- Các dụng cụ phòng thí nghiệm khác
* Các loại chế phẩm sinh học
Ba loại chế phẩm sinh học: EMUNIV, EMIC, EMZEO.
Nội dung nghiên cứu
3.4.1 Điều tra tình hình chăn nuôi trâu, bò và công tác phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
- Tình hình chăn nuôi trâu, bò ở huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
- Công tác phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
3.4.2 Nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò của huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò ở một số xã
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu, bò
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo mùa vụ
- Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt trâu, bò
3.4.3 Xác định loài sán lá gan gây bệnh trên đàn trâu, bò của huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
- Kết quả mổ khám gan trâu, bò thu thập sán lá gan
- Định loại sán lá gan bằng kỹ thuật hình thái học
3.4.4 Điều tra thực trạng việc xử lí phân và xử lý chất thải trâu, bò ở các xã, sự ô nhiễm không khí và trứng giun sán trong phân trâu, bò trước khi sử lý phân
- Điều tra việc xử lý phân
- Điều tra tình trạng ô nhiễm không khí do phân trâu, bò không được xử lý gây ra
-Tình hình xử lý phân trâu, bò tại các nông hộ, trại chăn nuôi trâu, bò trên địa bàn huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
- Xác định tổng số trứng giun, sán trong phân trâu, bò chưa được xử lý
3.4.5 Ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò và đánh giá hiệu quả cải thiện tình trạng ô nhiễm không khí và trứng giun, sán trong phân trâu, bò sau khi xử lý phân
- Sử dụng chế phẩm sinh học ủ phân trâu, bò
- Xác định sự cải thiện tình trạng ô nhiễm không khí sau khi xử lý phân trâu, bò
- Xác định tổng số trứng giun, sán trong phân trâu, bò sau khi xử lý
Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trên đàn trâu, bò tại một số xã thuộc huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
3.5.1.1 Phương pháp thu thập mẫu phân trâu, bò:
Số lượng trâu, bò thu thập mẫu phân được tính theo công thức:
Với tỷ lệ nhiễm sán lá gan dự kiến là 20% và độ tin cậy 95% thì số trâu, bò thu mẫu ở huyện là 300 con
Thu thập mẫu phân trâu bò được thực hiện theo phương pháp lấy mẫu chùm nhiều cấp và cắt ngang Theo đó, mẫu được thu ở một huyện; tại huyện này lấy mẫu ở 5 xã; tại mỗi xã lấy mẫu ở 4 thôn Ở mỗi thôn, mẫu phân được lấy ngẫu nhiên từ các trâu bò nuôi tại các nông hộ và các trại chăn nuôi.
Mỗi mẫu phân của trâu và bò được ghi lại đầy đủ các đặc điểm sau: loại gia súc (trâu/bò), giới tính (đực/cái), tuổi ước định dựa vào hỏi chủ hộ và xem răng, khối lượng cơ thể ước đoán, trạng thái phân và các biểu hiện lâm sàng (nếu có), các đặc điểm nhận dạng khác, họ tên chủ hộ và ngày lấy mẫu.
Để phục vụ phân tích, mẫu phân được thu thập khi trâu, bò vừa thải ra hoặc lấy trực tiếp từ trực tràng của động vật Mỗi con trâu, bò cho khoảng 30 gram phân cho một mẫu Mẫu phân được đóng riêng vào từng túi nilon nhỏ và kèm theo nhãn ghi đầy đủ thông tin để nhận diện, bảo đảm quản lý và vận chuyển mẫu thuận tiện cho quá trình phân tích.
3.5.1.2 Phương pháp xét nghiệm mẫu phân
- Sử dụng phương pháp lắng cặn Benedek (1943) để xét nghiệm mẫu phân tìm trứng sán lá gan
Nguyên lý của phương pháp là khuấy mẫu trong nước để tách trứng sán lá gan ra khỏi phân; do trứng có mật độ lớn hơn nước nên chúng lắng xuống và có thể được tìm thấy ở cặn lắng Đánh giá kết quả dựa trên việc phát hiện trứng sán lá gan trong mẫu: nếu tìm thấy trứng thì được xác định là có nhiễm, còn không nhiễm nếu không có trứng Cường độ nhiễm sán lá gan được xác định bằng phương pháp đếm trứng McMaster (đếm số trứng trên mỗi gam phân) theo tài liệu của Jorgen Hansen và Brian Perry, 1994.
3.5.2 Xác định loài sán lá gan gây bệnh trên đàn trâu, bò của một số xã thuộc huyện Chiêm Hóa – tỉnh Tuyên Quang
Trong nghiên cứu này, mổ khám gan trên 50 trâu, bò được thực hiện theo phương pháp mổ khám không toàn diện của Skrjabin (1977)[21], nhằm xác định và thu thập toàn bộ sán lá gan ký sinh ở gan, ống dẫn mật và túi mật của các động vật này Kết quả cho thấy mức độ nhiễm và sự đa dạng của sán lá gan trong hệ mật ở trâu, bò, từ đó cung cấp dữ liệu quan trọng phục vụ đánh giá nguy cơ ký sinh và đề xuất các biện pháp kiểm soát hiệu quả.
- Định loại sán lá gan bằng phương pháp sinh học phân tử
Để định danh các mẫu sán lá gan thu được bằng phương pháp thường quy, tiến hành làm tiêu bản, nhuộm carmin và quan sát tiêu bản đã nhuộm bằng mắt thường và kính lúp; dựa trên khóa định loại của Nguyễn Thị Lê và cs (1996), căn cứ vào đặc điểm hình thái, kích thước và cấu tạo của sán trưởng thành để xác định loài.
3.5.3 Phương pháp nghiên cứu tác dụng của chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò
3.5.3.1 Phương pháp điều tra hình thức xử lý phân trâu, bò tại các địa phương
Điều tra tình hình xử lý phân trâu, bò tại 50 hộ nông dân được thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp kết hợp ghi phiếu điều tra, nhằm cho người tham gia lựa chọn phương án trả lời từ các hình thức xử lý phân sau Dữ liệu thu được phản ánh thực trạng xử lý phân trên quy mô hộ gia đình và giúp đánh giá mức độ phổ biến của từng hình thức xử lý, từ đó cung cấp cơ sở cho các đề xuất cải thiện quản lý chất thải nông nghiệp và tăng hiệu quả sử dụng phân bón.
+ Thải phân trâu, bò trực tiếp ra môi trường
+ Ủ phân trâu, bò (đánh đống ủ hoặc ủ trong hố ủ)
+ Xử lý phân trâu, bò bằng bể biogas
+ Phương pháp khác (bán phân; bón phân tươi trực tiếp cho cây trồng)
Kết quả điều tra cho thấy tỉ lệ các hộ chăn nuôi trâu, bò có câu trả lời về một trong các hình thức xử lý phân được tính theo phần trăm trên tổng số hộ có hình thức xử lý phân đã được khảo sát Các hình thức xử lý phân phổ biến và tỉ lệ tương ứng của từng hình thức được xác định dựa trên số hộ chọn từng phương án so với tổng số hộ tham gia khảo sát Khoảng cách giữa các hình thức xử lý phản ánh thực trạng quản lý chất thải chăn nuôi và từ đó gợi ý các biện pháp cải thiện môi trường và sức khỏe đàn gia súc.
3.5.3.2.Đánh giá sự ô nhiễm môi trường từ phân trâu, bò chưa xử lý
Số hộ đánh giá: 5 hộ a) Phương pháp đánh giá sự ô nhiễm do một số loại khí độc từ phân trâu, bò chưa được xử lý
Đánh giá tình hình ô nhiễm không khí xung quanh khu vực năm hộ chăn nuôi trâu bò trong bán kính 50–100 m nhằm điều tra mức độ ô nhiễm và tác động lên môi trường; các hộ này chưa áp dụng bất kỳ biện pháp xử lý phân nào, cho thấy sự cần thiết của các biện pháp quản lý chất thải và cải thiện chất lượng không khí khu vực.
Ô nhiễm không khí được đánh giá qua khứu giác trực tiếp kết hợp với phỏng vấn và ghi phiếu điều tra tại 25 hộ dân sống trong khu vực cách các hộ chăn nuôi trâu bò khoảng 50–100 m Quanh mỗi hộ chăn nuôi, 5 hộ dân được phỏng vấn để thu thập thông tin về mức độ mùi và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó tổng hợp dữ liệu nhằm đánh giá bức tranh tổng thể về ô nhiễm không khí trong khu vực.
Mức độ ô nhiễm không khí được đánh giá theo 3 mức: không mùi, ít mùi, nặng mùi Mức độ mùi cụ thể như sau:
Mức độ mùi Mô tả
Không mùi Hoàn toàn không ngửi thấy mùi hôi Ít mùi Có mùi hôi thoang thoảng nhưng không khó chịu
Hiện tượng mùi hôi nồng nặc gây khó chịu và đau đầu cho người chăm sóc Để đánh giá tác động của chế phẩm sinh học, sử dụng phương pháp xác định các loại trứng sán và đếm tổng số trứng sán trong phân của trâu và bò trước và sau khi áp dụng chế phẩm sinh học sẽ cho thấy sự thay đổi về nhiễm ký sinh và hiệu quả xử lý.
Phương pháp xác định trứng giun sán trong phân trâu, bò được thực hiện qua xét nghiệm lắng cặn trên 5 mẫu phân nhằm tìm trứng của các loài giun sán Căn cứ vào hình thái của trứng, có thể nhận diện và kết luận trứng thuộc loài giun sán nào, từ đó đánh giá mức độ nhiễm và nguy cơ ký sinh cho đàn gia súc.
- Tổng số trứng của các loài giun, sán trong một mẫu phân được xác định bằng phương pháp đếm trứng trên buồng đếm Mc Master
3.5.3.3.Phương pháp đánh giá hiệu quả xử lý phân trâu, bò bằng chế phẩm sinh học a, Bố trí để ứng dụng chế phẩm sinh học
Số hộ đánh giá: 5 hộ đã đánh giá ở tiểu mục a, mục 3.5.3.2
Sử dụng 3 loại chế phẩm sinh học với số hộ áp dụng như sau:
- 2 hộ sử dụng chế phảm EMUNIV để ủ phân trâu, bò
- 2 hộ sử dụng chế phẩm EMIC để ủ phân trâu, bò
- 1 hộ sử dụng chế phẩm EMZEO để ủ phân trâu, bò
Lượng phân ủ ở mỗi hộ: 4 - 5 tấn b) Sử dụng chế phẩm sinh học xử lý phân trâu, bò tại các hộ
* Đối với chế phẩm EMUNIV : Hòa 1 gói (200 gam) vào 5 lit nước sạch, tưới cho 1 tấn phân trâu, bò, đánh đống, che bạt, ủ trong 25 - 30 ngày
* Đối với chế phẩm EMIC: 300 gam chế phẩm hòa với nước sạch, tưới cho
1 tấn phân trâu , bò, dùng bạt che kín, sau 7 - 10 ngày thì đảo trộn Ủ phân trong
* Đối với chế phẩm EMZEO: 3 gói EMZEO (mỗi gói 200 gam) hòa với nước, tưới đều cho 1 tấn phân chuồng, đảo trộn, đánh đống, che bạt, ủ trong
25 - 30 ngày c) Phương pháp đánh giá hiệu quả xử lý phân bằng chế phẩm sinh học
* Phương pháp đánh giá sự cải thiện môi trường không khí sau khi ứng dụng chế phẩm sinh học xử lý phân trâu, bò
Sau khi dùng chế phẩm sinh học để ủ phân trâu, bò, tiến hành đánh giá cảm quan về mùi tại chuồng nuôi và khu vực xung quanh cách chuồng 50–100 m Quá trình đánh giá bao gồm quan sát mùi, mức độ khó chịu và sự thay đổi so với trước khi ủ nhằm xác định hiệu quả của chế phẩm sinh học trong việc kiểm soát mùi phân Kết quả cho thấy mùi tại chuồng và khu vực lân cận được cải thiện đáng kể, góp phần nâng cao môi trường chăn nuôi và sức khỏe đàn gia súc Những thông tin này hữu ích cho quy trình quản lý chất thải trong chăn nuôi trâu bò và tối ưu hóa sử dụng chế phẩm sinh học.
* Phương pháp đánh giá tác dụng của chế phẩm sinh học diệt trứng giun, sán trong phân sau xử lý
Phương pháp tiến hành: như phương pháp thực hiện trước khi xử lý phân
Để đánh giá tác dụng diệt trứng giun, sán của chế phẩm sinh học, chúng tôi so sánh số lượng trứng giun, sán (trong 1 gam phân) ở các mẫu phân đã xử lý với số lượng trứng ở các mẫu phân chưa xử lý Kết quả cho thấy sự giảm đáng kể số trứng ở mẫu đã xử lý, cho thấy chế phẩm sinh học có khả năng diệt trứng giun, sán Những dữ liệu này cung cấp căn cứ để đánh giá hiệu quả của chế phẩm và đề xuất ứng dụng trong quản lý phân bón, xử lý chất thải chăn nuôi và cải thiện sức khỏe vật nuôi.
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học (Nguyễn Văn Thiện, 2008)[48] trên phần mềm Minitab16.0
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tình hình chăn nuôi trâu, bò và công tác phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở các xã thuộc huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
Chúng tôi đã điều tra thực trạng chăn nuôi trâu bò và công tác phòng chống bệnh sán lá gan trâu bò tại 5 xã thuộc huyện Chiêm Hóa, nhằm đánh giá hiện trạng nuôi, thực hành phòng bệnh và các khó khăn của người chăn nuôi Để điều tra, chúng tôi đã lựa chọn ngẫu nhiên 50 hộ chăn nuôi tham gia khảo sát nhằm thu thập dữ liệu về quy mô nuôi, biện pháp phòng bệnh và mức độ nhận thức về sán lá gan ở trâu bò Kết quả điều tra được trình bày ở bảng 4.1.
Bảng 4.1: Thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở một số xã thuộc huyện Chiêm Hóa (10 hộ/xã)
Trung Hòa Phú Bình Ngọc Hội Tân An Hùng Mỹ
Chăn thả hoàn toàn tự nhiên
(có cho ăn tại chuồng)
Chuồng trại hợp vệ sinh về xây dựng
Vệ sinh tốt chuồng nuôi
Vệ sinh bãi chăn thả 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0,00
Kết quả bảng 4.1 cho thấy:
Tại 5 xã thuộc huyện Chiêm Hóa, đa số các hộ chăn nuôi trâu, bò bằng phương thức chăn thả hoàn toàn tự nhiên, chăn thả tự nhiên kết hợp cho ăn thêm tại chuồng Cụ thể như sau:
- Xã Trung Hòa có 10/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 100%
- Xã Phú Bình 8/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 80%
- Xã Ngọc Hội 10/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 100%
- Xã Tân An 8/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 80%
- Xã Hùng Mỹ 9/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 90%
Về xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ dân thực hiện ở các xã Trung Hòa, Phú Bình, Ngọc Hội và Tân lần lượt đạt 70%, 40%, 40% và 50%, cho thấy sự khác biệt giữa các xã và mức độ tiếp cận các chuẩn vệ sinh chuồng trại.
An và 80% số hộ tại xã Hùng Mỹ tương đối đảm bảo vệ sinh thú y
Về vệ sinh chuồng trại thường xuyên: tỷ lệ các hộ áp dụng tại 5 xã lần lượt là 70% (Trung Hòa); 40% (Phú Bình, Ngọc Hội); 50% (Tân An); 80% (Hùng Mỹ)
Về thu gom phân ủ, hiện nay có rất ít hộ thực hiện Xã Hùng Mỹ là địa phương có số hộ áp dụng nhiều nhất, nhưng vẫn chỉ chiếm khoảng 60% Các hộ tham gia thu gom phân ủ để sử dụng bón cho cây trồng.
Về vệ sinh bãi chăn thả: không có hộ nào tại 5 xã thực hiện nội dung này
Hiện trạng công tác phòng chống bệnh sán lá gan ở trâu, bò tại 5 xã vẫn còn nhiều hạn chế: phần lớn hộ chăn nuôi chưa thực sự quan tâm đến việc xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh; công tác vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi còn kém Chỉ có một số ít hộ dân đã thực hiện biện pháp thu gom phân ở chuồng nuôi để ủ phân Từ thực tế này, đàn trâu, bò có nguy cơ nhiễm sán lá gan là không tránh khỏi.
Bãi chăn thả là môi trường dễ phát tán và lây lan sán lá gan, đặc biệt với trâu, bò ở các xã thuộc huyện Chiêm Hóa Phần lớn đàn gia súc tại đây được nuôi theo phương thức chăn thả dựa vào thức ăn có sẵn từ tự nhiên, vì vậy nguy cơ nhiễm sán lá gan ở trâu bò là rất cao Việc chăn thả tự nhiên làm tăng tiếp xúc với nguồn lây và tác nhân gây bệnh, ảnh hưởng tới sức khỏe và hiệu quả chăn nuôi tại Chiêm Hóa.
Sau khi điều tra biết được thực trạng chăn nuôi trâu, bò và công tác phòng bệnh sán lá gan ở các xã, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu, bò trên địa bàn huyện Chiêm Hóa
4.2 Nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trâu, bò
4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại một số xã
Bằng phương pháp lắng cặn Benedeck (1943), chúng tôi đã xét nghiệm
250 mẫu phân trâu và 50 mẫu phân bò của 5 xã tại huyện Chiêm Hóa Trong đó, xã Trung Hòa 59 trâu, 3 bò; xã Phú Bình 55 trâu, 5 bò; xã Ngọc Hội 41 trâu, 15 bò; xã Tân An 58 trâu, 2 bò; xã Hùng Mỹ 37 trâu, 25 bò Kết quả về tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu và bò được trình bày ở bảng 4.2 và biểu đồ hình 4.1
Bảng 4.2 và hình 4.1 cho thấy:
Trâu ở 5 xã có tỷ lệ nhiễm sán lá gan đạt 40,08%; trong đó xã Ngọc Hội có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 46,34%, tiếp theo là xã Hùng Mỹ 43,24%, xã Phú Bình 41,81% và xã Trung Hòa 38,98%, còn xã Tân An có tỷ lệ nhiễm thấp nhất.
Tỉ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu ở các xã khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện chăn nuôi, tình trạng vệ sinh thú y và mức độ ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật Những địa phương càng chú trọng vệ sinh thú y và phòng trị bệnh sán lá gan thì tỉ lệ nhiễm sẽ thấp hơn, trong khi các địa phương chưa quan tâm đầy đủ vẫn có tỉ lệ nhiễm cao Nhiều hộ chăn nuôi chưa chú ý đến xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh, vệ sinh chuồng nuôi, vệ sinh khu vực quanh chuồng và thu gom phân ủ, khiến phân vương vãi ra khu vực xung quanh và làm tăng nguy cơ lây nhiễm.
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại một số xã
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu tại 5 xã Địa phương
Số trâu,bò kiểm tra (con)
Số trâu, bò nhiễm (con)
Cường độ nhiễm (trứng/g phân)
Trong mùa mưa, nước mưa cuốn phân động vật trôi xuống vùng trũng, tạo điều kiện thuận lợi cho sán lá gan hoàn tất giai đoạn ấu trùng và tiếp tục nhiễm vào trâu, gây bệnh sán lá gan ở đàn trâu.
Về cường độ nhiễm ở trâu, mức trung bình là chủ yếu Cụ thể, cường độ nhiễm nhẹ chiếm 19,61%, cường độ nhiễm trung bình chiếm 50,98% và cường độ nhiễm nặng chiếm 29,41%.
Theo Bảng 4.2 và hình 4.2, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bò các xã là 26%, thấp hơn rõ rệt so với trâu; cao nhất ở xã Tân An khi cả hai bò được xét nghiệm đều nhiễm sán lá gan Tiếp theo là xã Hùng Mỹ với 28%, còn Phú Bình và Ngọc Hội có tỷ lệ nhiễm 20% Tại xã Trung Hòa, khi tiến hành kiểm tra không có con bò nào nhiễm sán lá gan.
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bò tại 5 xã
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Tình hình chăn nuôi trâu, bò và công tác phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở các xã thuộc huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
Chúng tôi tiến hành điều tra thực trạng chăn nuôi trâu, bò và công tác phòng, chống bệnh sán lá gan ở trâu, bò tại 5 xã thuộc huyện Chiêm Hóa, lựa chọn ngẫu nhiên 50 hộ chăn nuôi để tham gia khảo sát Kết quả điều tra được trình bày ở bảng 4.1.
Bảng 4.1: Thực trạng chăn nuôi và phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở một số xã thuộc huyện Chiêm Hóa (10 hộ/xã)
Trung Hòa Phú Bình Ngọc Hội Tân An Hùng Mỹ
Chăn thả hoàn toàn tự nhiên
(có cho ăn tại chuồng)
Chuồng trại hợp vệ sinh về xây dựng
Vệ sinh tốt chuồng nuôi
Vệ sinh bãi chăn thả 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0,00 0 0,00
Kết quả bảng 4.1 cho thấy:
Tại 5 xã thuộc huyện Chiêm Hóa, đa số các hộ chăn nuôi trâu, bò bằng phương thức chăn thả hoàn toàn tự nhiên, chăn thả tự nhiên kết hợp cho ăn thêm tại chuồng Cụ thể như sau:
- Xã Trung Hòa có 10/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 100%
- Xã Phú Bình 8/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 80%
- Xã Ngọc Hội 10/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 100%
- Xã Tân An 8/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 80%
- Xã Hùng Mỹ 9/10 hộ áp dụng, chiếm tỷ lệ 90%
Về xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh, tỷ lệ hộ dân đạt chuẩn ở các xã lần lượt là xã Trung Hòa 70%, xã Phú Bình 40%, xã Ngọc Hội 40% và xã Tân 50% Những con số này cho thấy sự khác biệt giữa các địa phương và nhấn mạnh nhu cầu đẩy mạnh cải tạo chuồng trại để nâng cao vệ sinh và sức khỏe cộng đồng.
An và 80% số hộ tại xã Hùng Mỹ tương đối đảm bảo vệ sinh thú y
Về vệ sinh chuồng trại thường xuyên: tỷ lệ các hộ áp dụng tại 5 xã lần lượt là 70% (Trung Hòa); 40% (Phú Bình, Ngọc Hội); 50% (Tân An); 80% (Hùng Mỹ)
Về thu gom phân ủ, số hộ thực hiện rất ít; xã Hùng Mỹ là địa phương có số hộ áp dụng cao nhất, nhưng con số này cũng chỉ ở mức khoảng 60% Các hộ tham gia thu gom phân ủ sử dụng phân ủ để bón cho cây trồng.
Về vệ sinh bãi chăn thả: không có hộ nào tại 5 xã thực hiện nội dung này
Về việc tẩy sán lá gan ở đàn trâu, bò, kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ hộ gia đình tham gia tẩy sán lần lượt là 60% tại xã Trung Hòa và Tân An, 20% tại xã Phú Bình, 70% tại xã Ngọc Hội và 90% tại xã Hùng Mỹ Nhờ đó, có thể thấy xã Hùng Mỹ có mức độ quan tâm tới việc tẩy sán lá gan cho đàn vật nuôi cao nhất, cho thấy sự chú trọng của các hộ chăn nuôi nơi đây đối với sức khỏe và năng suất của đàn trâu bò.
Thực trạng công tác phòng chống bệnh sán lá gan ở trâu, bò tại 5 xã còn nhiều hạn chế: phần lớn hộ chăn nuôi chưa quan tâm đầy đủ đến xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh, và vệ sinh chuồng trại cùng khu vực quanh chuồng nuôi còn kém; chỉ có một số ít hộ thực hiện thu gom phân ở chuồng nuôi để ủ làm phân bón; từ thực tế này đàn trâu, bò có nguy cơ nhiễm sán lá gan.
Ở huyện Chiêm Hóa, bãi chăn thả là nơi mầm bệnh sán lá gan dễ phát tán và lây lan, đặc biệt ở trâu, bò được nuôi theo phương thức chăn thả dựa vào thức ăn có sẵn trong tự nhiên Do phụ thuộc vào nguồn thức ăn tự nhiên nên đàn gia súc dễ bị nhiễm sán lá gan, làm tăng nguy cơ cho chăn nuôi và đòi hỏi các biện pháp quản lý dịch bệnh phòng ngừa thích hợp Việc giám sát sức khỏe đàn gia súc, kiểm tra định kỳ và cải thiện vệ sinh chăn nuôi có thể giúp giảm thiểu rủi ro nhiễm sán lá gan và bảo đảm hiệu quả của quy trình chăn nuôi tại địa phương.
Qua đợt điều tra thực trạng chăn nuôi trâu, bò và công tác phòng bệnh sán lá gan ở các xã, chúng tôi nhận thấy còn nhiều thách thức về quản lý dịch bệnh và thực hành vệ sinh chuồng trại, từ đó mở rộng nội dung nghiên cứu Chúng tôi tiếp tục nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu, bò trên địa bàn huyện Chiêm Hóa nhằm xác định tỉ lệ nhiễm, nguồn truyền bệnh và các yếu tố nguy cơ, từ đó đề xuất giải pháp phòng ngừa và kiểm soát phù hợp Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp dữ liệu chuẩn hóa cho công tác giám sát dịch bệnh, hỗ trợ người chăn nuôi áp dụng biện pháp vệ sinh chuồng trại, quản lý thức ăn, tiêm phòng hoặc điều trị đúng cách, qua đó nâng cao an toàn sinh học và hiệu quả chăn nuôi trâu bò tại Chiêm Hóa.
Nghiên cứu sự lưu hành bệnh sán lá gan trâu, bò
4.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại một số xã
Bằng phương pháp lắng cặn Benedeck (1943), chúng tôi đã xét nghiệm
Ở huyện Chiêm Hóa, 250 mẫu phân trâu và 50 mẫu phân bò được thu thập từ 5 xã: Trung Hòa có 59 trâu và 3 bò; Phú Bình có 55 trâu và 5 bò; Ngọc Hội có 41 trâu và 15 bò; Tân An có 58 trâu và 2 bò; Hùng Mỹ có 37 trâu và 25 bò Kết quả về tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu và bò được trình bày ở bảng 4.2 và biểu đồ hình 4.1.
Bảng 4.2 và hình 4.1 cho thấy:
Trâu ở 5 xã có tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 40,08%; Ngọc Hội có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 46,34%, tiếp theo là Hùng Mỹ (43,24%), Phú Bình (41,81%) và Trung Hòa (38,98%), trong khi xã Tân An có tỷ lệ nhiễm thấp nhất.
Ở các xã, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu cho thấy sự khác biệt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện chăn nuôi, tình trạng vệ sinh thú y và mức độ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật Điều kiện vệ sinh thú y chưa được chú ý đầy đủ ở nhiều địa phương khiến tỷ lệ nhiễm sán lá gan tương đối cao Nhiều hộ chăn nuôi chưa quan tâm đến xây dựng chuồng trại hợp vệ sinh, vệ sinh chuồng nuôi và vệ sinh khu vực quanh chuồng, cùng với thu gom và ủ phân để hạn chế phân vương vãi ra khu vực lân cận.
Bảng 4.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò tại một số xã
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu tại 5 xã Địa phương
Số trâu,bò kiểm tra (con)
Số trâu, bò nhiễm (con)
Cường độ nhiễm (trứng/g phân)
Trong mùa mưa, phân bị nước mưa cuốn trôi xuống vùng trũng, tạo điều kiện thuận lợi cho sán lá gan hoàn thành giai đoạn ấu trùng và tiếp tục nhiễm vào trâu, gây bệnh cho đàn gia súc Vì vậy, nước đọng sau mưa trở thành môi trường lây truyền chính của sán lá gan Để giảm nguy cơ nhiễm bệnh cho trâu, cần tăng cường quản lý chất thải và vệ sinh chuồng trại cũng như kiểm soát môi trường chăn nuôi.
Về cường độ nhiễm ở trâu, kết quả cho thấy mức trung bình là chủ yếu Cụ thể, cường độ nhiễm nhẹ chiếm 19,61%, cường độ nhiễm trung bình chiếm 50,98%, và cường độ nhiễm nặng chiếm 29,41%.
Theo Bảng 4.2 và hình 4.2, tỉ lệ bò nhiễm sán ở các xã là 26%, thấp hơn rõ rệt so với trâu Tỷ lệ nhiễm cao nhất được ghi nhận ở bò xã Tân An, khi cả hai con bò được xét nghiệm đều nhiễm sán lá gan Sau đó, xã Hùng Mỹ có 28% nhiễm sán; xã Phú Bình và xã Ngọc Hội có tỉ lệ nhiễm lần lượt 20% Tại xã Trung Hòa, kiểm tra cho thấy không có con bò nào nhiễm sán lá gan.
Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bò tại 5 xã
Theo Bảng 4.2 và Hình 4.2, tỷ lệ nhiễm sán ở bò ở các xã là 26% (thấp hơn rõ rệt so với trâu); trong đó xã Tân An có tỷ lệ cao nhất với cả hai bò được xét nghiệm đều nhiễm sán lá gan Xã Hùng Mỹ có 28% nhiễm, tiếp đến xã Phú Bình và xã Ngọc Hội cùng có mức nhiễm 20%, còn tại xã Trung Hòa khi tiến hành kiểm tra không có con bò nào nhiễm sán lá gan.
Về cường độ nhiễm sán lá gan ở bò, kết quả cho thấy cường độ nhiễm nhẹ chiếm 38,46%, cường độ nhiễm trung bình chiếm 53,84%, và chỉ có 7,7% số bò nhiễm sán lá gan ở mức nặng Điểm nổi bật là phần lớn đàn bò có nhiễm ở mức nhẹ hoặc trung bình, trong khi tỷ lệ nhiễm nặng rất thấp.
Theo kết quả bảng 4.2, trâu có tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan cao hơn bò Nguyên nhân chính là đặc tính ưa nước của trâu: chúng thích ăn và sống ở những vùng có nước, trong khi bò ít ưa nước hơn Vì vậy, trâu có tiếp xúc với môi trường chứa sán lá gan và ấu trùng nhiều hơn, dẫn tới mức độ nhiễm cao so với bò.
Theo Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) và Nguyễn Thị Kim Lan cùng các đồng sự (1999), bệnh sán lá gan phân bố rộng khắp trên toàn Việt Nam Súc vật ở vùng lầy lội, ẩm ướt có mức nhiễm cao hơn và mức độ nặng hơn so với ở vùng cao và bán sơn địa.
Trong nghiên cứu công bố năm 2009 của Vũ Đức Hạnh và Nguyễn Thị Kim Lan, 1170 mẫu phân trâu, bò được thu thập ở một số xã thuộc huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Kết quả cho thấy 641 con trâu, bò nhiễm sán lá gan, chiếm tỷ lệ 54,79% trên tổng số mẫu được xét nghiệm.
Nguyễn Hữu Hưng (2009) [14] đã thực hiện xét nghiệm 981 mẫu phân của trâu, bò tại bốn huyện của tỉnh Đồng Tháp Kết quả cho thấy đàn trâu, bò ở Đồng Tháp có tỷ lệ nhiễm sán lá gan khá cao, lên tới 53,31%.
Như vậy, tỉ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu bò tại huyện Chiêm Hóa thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó Sự khác biệt này có thể được lý giải bởi thời gian nghiên cứu khác nhau và địa hình đa dạng, dẫn tới mức độ nhiễm sán lá gan ở từng khu vực có sự dao động.
4.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở các lứa tuổi trâu, bò Để đánh giá tỷ lệ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu, bò tôi tiến hành kiểm tra 250 trâu và 50 bò ở các lứa tuổi khác nhau (từ 1 năm tuổi đến trên 8 năm tuổi) Kết quả được trình bày ở bảng 4.3 và hình 4.3
*Bảng 4.3 và hình 4.3 cho thấy:
Trâu, bò ở các lứa tuổi đều bị nhiễm sán lá gan với mức độ nhiễm khác nhau theo từng nhóm tuổi Tỷ lệ nhiễm cao nhất thuộc về nhóm trâu, bò trên 5–8 năm tuổi, chiếm 73,13%, trong khi nhóm 1–2 năm tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 15,78% Các số liệu này cho thấy sự phân bố của nguy cơ nhiễm theo tuổi, nhấn mạnh nhu cầu áp dụng biện pháp kiểm soát và phòng ngừa sán lá gan ở đàn vật nuôi để bảo đảm sức khỏe và hiệu quả sản xuất.
- Trâu, bò: 1 - 2 năm tuổi, kiểm tra 95 con có 15 con nhiễm sán lá gan, chiếm tỷ l5,78%
Bảng 4.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu, bò
Số trâu, bò kiểm tra (con)
Số trâu, bò nhiễm (con)
Cường độ nhiễm (trứng/g phân)
- Trâu, bò: >2 - 5 năm tuổi, kiểm tra 129 con có 46 con nhiễm sán lá gan, chiếm tỷ lệ 35,65%
- Trâu, bò: >5 - 8 năm tuổi kiểm tra 67 con có 49 con nhiễm sán lá gan, chiếm tỷ lệ 73,13%
- Lứa tuổi: >8 năm tuổi, kiểm tra 9 con trâu, bò phát hiện có 5 con nhiễm sán lá gan, chiếm 55,55%
Hình 4.3: Đồ thị tỷ lệ nhiễm sán lá ở trâu, bò theo tuổi
Kết quả định danh loài sán lá gan ký sinh trên trâu, bò ở huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
Trong mẫu nghiên cứu, 97,86% là Fasciola gigantica, 2,14% là số sán có dạng trung gian giữa hai loài Fasciola gigantica và Fasciola hepatica (những sán này có “vai” nhưng chưa rõ ràng) Vì vậy, chúng tôi đã gửi mẫu để xác định số mẫu này bằng phương pháp sinh học phân tử Kết quả giải trình tự gen của một số mẫu đại diện cho thấy các mẫu đều có mức độ tương đồng đáng kể với các trình tự trong GenBank liên quan đến sán Fasciola, cho thấy sự liên hệ di truyền với các loài được lưu trong cơ sở dữ liệu này.
F.gigantica Như vậy, sán lá gan có dạng trung gian là loài F.gigantica
Kết quả này phù hợp với kết quả định loại sán lá gan bằng phương pháp sinh học phân tử của Nguyễn Quốc Doanh và Lê Thanh Hòa (2006) [5], được thực hiện trên bò tại Nghệ An và Cao Bằng, và cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu của một số công trình trước đây Việc so sánh cho thấy phương pháp sinh học phân tử mang lại độ nhạy và độ đặc hiệu cao trong nhận diện sán lá gan, củng cố tính ổn định của kết quả và gợi ý khả năng ứng dụng rộng rãi cho giám sát và kiểm soát dịch bệnh ở gia súc.
Nguyễn Thế Hùng và cs (2008) [13] trên trâu, bò tại Hà Nội
4.4 Ứng dụng chế phẩm sinh học trong xử lý phân trâu, bò ở huyện
Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang
4.4.1 Điều tra thực trạng xử lý phân trâu, bò tại một số hộ chăn nuôi ở huyện Chiêm Hóa
Trước khi tiến hành ủ phân bằng chế phẩm sinh học, chúng tôi đã khảo sát thực trạng xử lý phân trâu, bò của 50 hộ chăn nuôi tại 5 xã thông qua các chỉ tiêu đánh giá, và kết quả điều tra được thể hiện ở bảng 4.8.
Bảng 4.8: Điều tra thực trạng xử lý phân trâu, bò tại một số hộ chăn nuôi ở huyện Chiêm Hóa
Chỉ tiêu đánh giá Số hộ điều tra Số hộ áp dụng Tỷ lệ (%)
Xử lý phân bằng biogas 50 3 6,00
Sử dụng hố ủ phân trâu, bò 50 18 b
Phương pháp xử lý phân khác 50 23* 46,00
Ghi chú: (*) Gom phân vào hố gần chuồng để trồng trọt,
Theo bảng 4.9, phần lớn hộ chăn nuôi trâu bò chủ yếu gom phân vào hố gần chuồng để bón cho cây trồng, chiếm 46% tổng số hộ Trong khi đó, 36% số hộ sử dụng hố ủ phân, 6% dùng bể biogas để xử lý phân, và 12% không xử lý phân mà thải trực tiếp ra môi trường.
4.4.2 Đánh giá sự ô nhiễm không khí ở khu vực xung quanh các hộ chăn nuôi trâu, bò trước và sau xử lý phân
Chúng tôi đã tiến hành ủ phân tại 5 hộ chăn nuôi chưa xử lý phân bằng các chế phẩm sinh học EMUNIV, EMIC và EMZEO, nhằm đánh giá hiệu quả khử mùi và tiêu diệt trứng sán lá gan trong phân trâu, bò Kết quả cho thấy sự ứng dụng của các chế phẩm này giúp giảm mùi khó chịu và ức chế sự tồn tại của trứng sán lá gan, từ đó cải thiện môi trường chăn nuôi và an toàn thú y Phần nghiên cứu còn có phỏng vấn người chăn nuôi để ghi nhận ý kiến thực tế về tính khả thi và mức độ chấp nhận của việc sử dụng chế phẩm sinh học trong ủ phân.
25 hộ sống xung quanh 5 hộ chăn nuôi trước và sau khi sử lý phân bằng chế phẩm sinh học Kết quả được trình bày ở bảng 4.9
Bảng 4.9: Đánh giá sự ô nhiễm không khí ở khu vực xung quanh các hộ chăn nuôi trâu, bò trước và sau xử lý phân
Số hộ được đánh giá
Kết quả đánh giá của người dân xung quanh
Trước khi xử lý Sau khi xử lý
Số người được phỏng vấn
Số người đánh giá theo các chỉ tiêu
Số người được phỏng vấn
Số người đánh giá theo các chỉ tiêu
=Số liệu bảng 4.9 cho thấy:
* Đối với chế phẩm EMUNIV:
Trước khi ủ phân bằng chế phẩm sinh học EMUNIV, hai hộ chăn nuôi nhận được đánh giá từ 10 hộ xung quanh rằng phân trâu, bò đã ảnh hưởng đến không khí xung quanh Theo đó, 9/10 hộ cho biết có mùi hôi thối ở mức nhẹ, trong khi 1/10 hộ cho rằng mùi hôi thối rất nồng nặc, gây khó chịu và đau đầu.
* Đối với chế phẩm EMIC:
Hai hộ gia đình ủ phân bằng chế phẩm sinh học EMIC khiến 10 hộ lân cận đánh giá phân trâu, bò không được thu gom, xử lý và đã ảnh hưởng đến không khí quanh khu vực sinh sống 8/10 hộ cho biết mùi hôi ở mức nhẹ; 2/10 hộ cho rằng vào mùa hè, khi nắng nóng, mùi hôi trở nên nồng nặc, gây khó chịu và đau đầu Vào mùa mưa, phân chảy thành dòng nước vương ra khu vực xung quanh kèm theo mùi hôi rất khó chịu.
* Đối với chế phẩm EMZEO:
Tại hộ gia đình Ma Văn Toản, chúng tôi ủ phân bằng chế phẩm sinh học EMZEO Trước khi ủ phân, 5/5 hộ xung quanh đánh giá là mùi hôi ít.
Chúng tôi đã tiến hành ủ phân trâu, bò bằng 3 loại chế phẩm sinh học tại
5 hộ gia đình Sau 7- 10 ngày ủ phân tiến hành phỏng vấn lại 25 hộ xung quanh (những hộ đã có ý kiến đánh giá trước khi xử lý phân) Kết quả cho thấy, tình trạng ô nhiễm không khí đã được cải thiện: 25/25 hộ xung quanh cho biết không còn thấy có mùi hôi thối như trước khi xử lý phân
Việc ủ phân bằng phương pháp nhiệt sinh học, lợi dụng quá trình lên men sinh nhiệt các chất hữu cơ trong phân của hệ sinh vật để tiêu diệt trứng trong phân của gia súc nhai lại là biện pháp phòng bệnh đơn giản và hiệu quả Biện pháp này cho đến nay vẫn được nhiều tác giả đề nghị áp dụng Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [17], Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [27]
Những chế phẩm sinh học EMUNIV, EMIC và EMZEO đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc cải tạo môi trường và khử mùi hôi chuồng trại nhờ hoạt động của các nhóm vi khuẩn hữu ích được lên men trong chế phẩm Các vi khuẩn này phân hủy các chất hữu cơ trong phân, giúp phân ủ sau quá trình lên men không còn mùi hôi, có kết cấu tơi xốp và phù hợp làm phân bón cho cây trồng Đồng thời, quá trình này diệt các mầm bệnh có trong phân chuồng, nhất là khi gia súc bị bệnh, từ đó tạo ra nguồn phân bón tốt cho cây trồng.
4.4.3 Tổng số trứng giun, sán trong phân trâu, bò trước và sau khi xử lý bằng chế phẩm sinh học
Chúng tôi đã tiến hành thu thập mẫu phân trước và sau khi xử lý bằng chế phẩm sinh học để xác định số lượng trứng sán giun sán trong phân; kết quả được thể hiện ở bảng 4.10.
Bảng 4.10: Tổng số trứng giun, sán trong phân trâu, bò trước và sau khi xử lý bằng chế phẩm sinh học
Chế phẩm sinh học Chủ hộ
Phân sau khi xử lý Đánh giá
Tổng số trứng /gam phân
Tổng số trứng /gam phân
Hà Văn Ảnh Sán lá
Tốt (không còn trứng) Đặng Văn Nghi Sán lá
Hoàng Thế Viện Sán lá 1
Nguyễn Tiến Họp Sán lá 1 715 1 73
EMZEO Ma Văn Toản Sán lá 1 385 1 55
Bảng 4.10 cho ta thấy rằng:
EMUNIV có hiệu quả diệt trứng giun sán cao và được xem là chế phẩm có hiệu lực mạnh trong điều trị và phòng ngừa nhiễm giun sán cho trâu bò Trước khi sử dụng chế phẩm này, tổng số trứng giun sán trong mẫu phân của trâu bò ở hai hộ chăn nuôi được xác định để đánh giá mức độ nhiễm và tiềm năng hiệu quả của EMUNIV.
Hà Văn Ảnh và Đặng Văn Nghi lần lượt phát hiện 716 và 632 trứng/gam phân Sau khi sử dụng chế phẩm EMUNIV để ủ phân, toàn bộ trứng giun sán có trong phân đã bị diệt, cho thấy hiệu quả diệt trứng giun sán của quy trình ủ phân bằng EMUNIV.
EMIC và EMZEO cho thấy tác dụng làm giảm trứng giun sán trong phân trâu, bò Trước khi sử dụng chế phẩm, tổng số trứng giun, sán trong phân của ba hộ chăn nuôi Hoàng Thế Viện, Nguyễn Tiến Họp và Ma Văn Toản lần lượt là 518, 715 và 385 trứng/gam phân Sau khi ủ phân bằng chế phẩm, số trứng giun, sán đã giảm xuống còn 84, 73 và 55 trứng/gam phân tương ứng, cho thấy hiệu quả rõ rệt trong xử lý ô nhiễm giun sán và cải thiện chất lượng phân ủ.