1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN kết THÚC học PHẦN môn NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG về LUẬT dân sự, tài sản và THỪA kế THỪA kế KHÔNG PHỤ THUỘC vào nội DUNG của DI CHÚC

22 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 36,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, để làm sáng tỏ thêm về vấn đề này em xin chọn đề tài “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc ” nghiên cứu làm tiểu luận kết thúc học phần môn Những quy định chung

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HÒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN Sự

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN Sự,

TÀI SẢN VÀ THỪA KẾTHỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA

Trang 2

1 Phần mở đầu 1

2 Nội dung nghiên cứu 2

2.1 Khái quát chung về thừa kế và những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam 2

2.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 2

2.1.1.1 Khái niệm thừa kế 2

2.1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế 2

2.1.2 Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam 3

2.1.3 Khái niệm và đặc điểm của di chúc 3

2.1.3.1 Khái niệm của di chúc 3

2.1.3.2 Đặc điểm của di chúc 4

2.2 Thực trạng và một số vấn đề lý luận về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 4

2.2.1 Cơ sở quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 4

2.2.2 Chủ thể và những bất cập về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 6

2.2.3 Điều kiện hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 7

2.2.4 Nghĩa vụ của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 7

2.2.5 Cách xác định kỷ phần bắt buộc của người được hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc 8

2.2.6 Ý nghĩa của việc quy định những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 9

2.3 Thực tiễn của quy định thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc .10 2.3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc và một số vấn đề còn vướng mắc 10

2.3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 12

3 Phần kết luận 14

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 4

1 Phần mở đầu

Pháp luật thừa kế là một phần quan trọng trong Bộ luật Dân sự Trong bất kỳ chế độ xã hội có giaicấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lýchủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu khôngthể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Mỗi nhà nước dù cócác xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và được ghinhận trong Hiến pháp

Những quy định về pháp luật thừa kế trong Bộ luật Dân sự đã góp công sức không nhỏ trong việc ổnđịnh và phát triển đời sống xã hội trong nhiều năm qua Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thịtrường, sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ xã hội, các vấn đề tranh chấp về thừa kếngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về nội dung, bởi vì giá trị của di sản thừa kế không chỉđơn thuần là là tài sản thông thường phục vụ sinh hoạt tiêu dùng mà là quyền sử dụng đất, quyền sởhữu trí tuệ, vốn đầu tư, cổ phần, cổ phiếu Nói đến thừa kế chắc hẳn ai cũng nghĩ tới người thừa kếtheo pháp luật hay người thừa kế theo di chúc Tuy nhiên có một loại thứ ba, vừa không phải làngười thừa kế theo pháp luật cũng không phải người theo di chúc đó là người thừa kế không phụthuộc vào nội dung của di chúc (Điều 644) Đây là một vấn đề quan trọng nhưng khá phức tạp củachế định thừa kế

Chính vì vậy, để làm sáng tỏ thêm về vấn đề này em xin chọn đề tài “Thừa kế không phụ thuộc vào

nội dung của di chúc ” nghiên cứu làm tiểu luận kết thúc học phần môn Những quy định chung về

Luật dân sự, tài sản và thừa kế

Trang 5

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Khái quát chung về thừa kế và những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam

2.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

2.1.1.1 Khái niệm thừa kế

Theo giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và thừa kế của Trường Đại học LuậtThành phố Hồ Chí Minh thì thừa kế được hiểu dưới nhiều phạm trù khác nhau:

Thứ nhất, thừa kế là một phạm trù lịch sử bởi lẽ đây là một vấn đề gắn liền với lịch sử loài người, kể

cả trước khi xuất hiện giai cấp và nhà nước

Thứ hai, thừa kế là một phạm trù kinh tế Thừa kế chính là tiếp nối quá trình luân chuyển tài sản

giữa các thế hệ, các tài sản này tiếp tục được chiếm hữu, sử dụng trong quá trình sản xuất, kinhdoanh, tiêu dùng

Thứ ba, thừa kế là một phạm trù pháp lý mà nội dung của nó xác định phạm vi các quyền, nghĩa vụ

của các chủ thể trong quan hệ nhà nước bảo đảm thực hiện

Theo giáo trình Luật Dân Sự của trường đại học Luật Hà Nội thì: “Thừa kế là một chế định phápluật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chếtcho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định đồng thời quyền, nghĩa vụ và phươngthức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế”

Theo Bình luận khoa học BLDS năm 1995 của Bộ Tư Pháp thì: “Thừa kế thường được hiểu là ngườisống thừa hưởng tài sản của người đã qua đời Việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tài sảnchết”.3

Như vậy, khái niệm về thừa kế là việc di chuyển tài sản của người chết cho người sống được thựchiện dựa trên mối quan hệ về huyết thống, dòng tộc hoặc quan hệ về nuôi dưỡng Từ khái niệm vềthừa kế hình thành lên các quyền về thừa kế

2.1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế

Quyền thừa kế cần được hiểu theo hai phương diện: khách quan và chủ quan

- Về phương diện khách quan: Quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các quy định pháp luật điềuchỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản (di sản)của người chết cho người còn sống

- Về phương diện chủ quan: Quyền thừa kế được hiểu là quyền dân sự cơ bản của công dân được đểlại tài sản của mình cho những người còn sống và quyền của công dân được nhận di sản theo sựđịnh đoạt của người có tài sản (bằng di chúc) hoặc theo một trình tự và thủ tục pháp luật nhất định(thừa kế theo pháp luật)

3 Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.13.

Trang 6

2 Điều 610 BLDS năm

2015.

Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý thì quyền thừa kế còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự.Quan hệ này bao gồm chủ thể, khách thể và nội dung Đây là một loại quan hệ tài sản do luật dân sựđiều chỉnh và có mối quan hệ mật thiết với quan hệ sở hữu

2.1.2 Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam

Nguyên tắc thừa kế là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và tổchức thực hiện pháp luật thừa kế

Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam được áp dụng chung cho cả hai hình thức thừa kếtheo di chúc và thừa kế theo pháp luật đã xuất hiện ngay từ khi có những văn bản pháp luật đầu tiêncủa nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, có thể kể đến cụ thể như sau:

Thứ nhất, nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân:

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được nhà nước bảo hộ Quy định này

đã được khẳng định tại Điều 32 Hiến pháp 2013" Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và

quyền thừa kế của công dân" Trên cơ sở đó, Điều 609 BLDS năm 2015 đã xác định rõ nội dung của

quyền này Thậm chí là quyền từ chối nhận di sản thừa kế, được quy định tại khoản 1 Điều 620

BLDS năm 2015: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm

trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác "

Thứ hai, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế:

Nguyên tắc này là sự cụ thể hóa một phần của nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 16 Hiến

Pháp 2013: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Từ sự quy định mang tính khái quát đó, nên trong chế định riêng về thừa kế đã xác định rõ nội dung của nguyên tắc này là: “Mọi cá nhân

đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” 2

Tóm lại, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, là một nguyên tắc cơ bản trong phápluật thừa kế ở Việt Nam Nó không những phản ánh chế độ chính trị nói chung mà điều quan trọng

là nhằm đảm bảo sự bình đẳng của mọi công dân trong lĩnh vực về thừa kế, tạo được sự đoàn kết tốtgiữa các thành viên trong gia đình, góp phần xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững

2.1.3 Khái niệm và đặc điểm của di chúc

2.1.3.1 Khái niệm của di chúc

Việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống có thể được thực hiện theo ý chí củangười để lại di sản (thừa kế theo di chúc) nhưng cũng có thể được thể hiện thông qua ý chí của nhànước (thừa kế theo pháp luật) Xét về cơ sở hình thành thì thừa kế theo di chúc xuất hiện sau thừa kếtheo pháp luật Vậy di chúc và thừa kế theo di chúc là gì?

Trang 7

3 Điều 627 BLDS năm

2015.

4

Theo Điều 624 BLDS năm 2015 thì “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản

của mình cho người khác sau khi chết” Như vậy, di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người định đoạt

tài sản của mình để cho ai, tặng cho ai sau khi chết, đây là ý chí mang tính đơn phương của ngườilập di chúc Sự bày tỏ được thể hiện bằng văn bản được gọi là di chúc viết tay hay còn gọi là chúcthư hoặc bằng miệng thường là lời trăn trối trước khi chết Di chúc được thể hiện dưới hai hình thức

là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng.3 Pháp luật chỉ cho phép lập di chúc miệng trong nhữngtrường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 629 BLDS năm 2015

Theo quy định của BLDS Pháp thì di chúc có nhiều điểm tương tự như pháp luật dân sự nước ta,được thể hiện:

Điều 895 quy định: “Di chúc là một chứng thư theo đó người để lại di chúc định đoạt sau khi chết,

một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình, người đó có thể hủy bỏ di chúc ”.

Pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp còn quy định hình thức của di chúc bí mật Bản chất của dichúc bí mật tương tự như di chúc lập tại công chứng nhà nước ở nước ta, nhưng có thủ tục chặt chẽhơn

2.1.3.2 Đặc điểm của di chúc

Di chúc có những điểm riêng biệt so với các giao dịch dân sự khác ở những điểm như sau:

Thứ nhất, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của cá nhân.

Thứ hai, di chúc nhằm chuyển dịch di sản của người chết cho người khác đã được xác định trong di

chúc

Thứ ba, di chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi người xác lập ra di chúc đã chết.

2.2 Thực trạng và một số vấn đề lý luận về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

2.2.1 Cơ sở quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc lần đầu tiên được quyđịnh trong Thông tư 81 ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao Theo Thông tư này, nếu bằng

di chúc người có di sản định đoạt, vì lợi ích của người khác, một phần tài sản lớn hơn giá trị của disản trừ đi giá trị các “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thì các phần di sản đượchưởng theo di chúc sẽ bị cắt giảm theo yêu cầu của những người này Những người “thừa kế bắtbuộc” bao gồm vợ, chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng laođộng, bố mẹ già yếu và túng thiếu Phần này được ấn định bằng hai phần ba suất của một người thừa

kế theo pháp luật

Kế thừa các quy định tại Thông tư 81, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 bổ sung: 2/3 suất của một người

Trang 8

3 Điều 627 BLDS năm

2015.

thừa kế theo pháp luật được tính bằng cách giả định toàn bộ di sản được chia theo pháp luật (Điều

Trang 9

620) Pháp lệnh cũng thay cụm từ “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thành “nhữngngười được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc”.

Sau Pháp lệnh Thừa kế, BLDS 1995, 2005 và 2015 tiếp tục quy định về vấn đề này Cụ thể, Điều

644 BLDS năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau:

“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”.

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng2/3 một suất theo pháp luật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật.Mục đích của quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ, vợ, chồng, con của người để lại disản trước những quyết định bất lợi đối với họ Đây đều là những người có mối quan hệ thân thiếtgần gũi nhất với người để lại di sản Nếu những người này, vì một lý do nào đó mà không thực hiệnhoặc thực hiện không đầy đủ bổn phận của mình thì pháp luật bằng những quy định của mình sẽ ấnđịnh cho những người có quan hệ gần gũi với người này luôn được hưởng một phần di sản từ khối

di sản của người đó để lại Đó chính là phần di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là một phần di sản đượctrích ra từ khối tài sản của người chết để lại sau khi đã thanh toán xong các nghĩa vụ về tài sản

Mỗi nước có một chính sách riêng về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc và còn phụthuộc vào từng thời kỳ

Ở Thụy Sĩ, trước đây người được hưởng chế định này là con, chắt, bố, mẹ, ông, bà và có thể là vợ,chồng còn sống của người để lại di sản Tuy nhiên từ năm 2007, bố mẹ, ông bà, không được bảo vệbởi chế định này nữa trong pháp luật Thụy Sĩ Ở Việt Nam, trong quá trình sửa đổi BLDS, có ý kiến

cho rằng đây không phải là “những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất”.

Cuối cùng, theo BLDS hiện hành, người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di

chúc chỉ bao gồm “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng” và “con đã thành niên mà không còn

khả năng lao động” Như vậy, không phải ai trong hàng thừa kế thứ nhất cũng được hưởng thừa kế

không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà chỉ một số người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đượcbảo vệ bởi chế định này

Trang 10

2.2.2 Chủ thể và những bất cập về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Trong số những người nêu trên, không phải trong mọi trường hợp họ được hưởng thừa kế khôngphụ thuộc vào nội dung di chúc Bởi lẽ, tại khoản 2 Điều 644 BLDS năm 2015 theo đó "quy định tạikhoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc

họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luậtnày.” Với quy định trên, người thuộc diện nêu trên từ chối nhận di sản sẽ không được bảo vệ bởi chếđịnh người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

- Về chủ thể và điểm bất cập của các chủ thể hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di

chúc

Thứ nhất, con chưa thành niên của người để lại di sản

+ Cần xác định tuổi chưa thành niên tại thời điểm người có di sản lập di chúc, tại thời điểm

mở thừa kế hay tại thời điểm chia di sản? Trong thực tế, có Tòa án theo hướng xác định tuổicủa người chưa thành niên ở thời điểm lập di chúc trong khuôn khổ thừa kế không phụ thuộcvào nội dung của di chúc

+ BLDS không nói rõ về vấn đề này Thiết nghĩ, giải pháp thuyết phục là xác định tuổi tạithời điểm mở thừa kế vì lúc này di chúc mới có hiệu lực và khả năng chia di sản mới có thểđược tiến hành

Thứ hai, con đã thành niên mà không có khả năng lao động

+ Về thời điểm xác định tuổi, chúng ta cũng nên áp dụng như trên là xác định ở thời điểm mở

thừa kế Đối với khái niệm “không có khả năng lao động”, BLDS không cho biết đó là

những trường hợp nào trong Thừa kế

+ Khả năng lao động của cá nhân biến động theo thời gian nhưng văn bản vẫn chưa làm rõviệc xác định khả năng lao động của người con đã thành niên dựa vào những thông tin ở thờiđiểm nào (thời điểm lập di chúc, thời điểm mở thừa kế hay thời điểm chia di sản) Ở đây, sẽ

là thuyết phục khi chúng ta căn cứ vào thông tin ở thời điểm mở thừa kế

Thứ ba, vợ chồng của người để lại di sản

+ Với quy định này, “bất luận trong mọi trường hợp vợ, chồng của người chết đều được

hưởng một phần di sản” 4 Mặc dù BLDS không nói rõ, chúng ta phải xác định tư cách vợ,

chồng của người lập di chúc tại thời điểm mở thừa kế Nhưng được hưởng sự bảo vệ của quyđịnh này thì phải là vợ, chồng hợp pháp của người lập di chúc

Thứ tư, cha mẹ của người để lại di sản

4 Phạm Văn Tuyết: Thừa kế, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, Sđd, tr 211.

Trang 11

+ Với quy định này, “bất luận trong mọi trường hợp bố, mẹ của người chết đều được hưởng

một phần di sản” Hơn hết, cá nhân có thể có cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi và cha mẹ vợ/chồng.

Trong thừa kế theo pháp luật, hàng thừa kế thứ nhất chỉ bao gồm “cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi”

của người để lại di sản (không có cha mẹ vợ/chồng) Trong phần thừa kế không phụ thuộc

vào nội dung của di chúc, BLDS chỉ nêu “cha, mẹ” mà không nói rõ là cha mẹ để, cha mẹ

nuôi nên chúng ta suy luận là cha mẹ để, cha mẹ nuôi đều được bảo vệ bởi chế định màchúng ta đang nghiên cứu (nhưng không bao gồm cha mẹ vợ/chồng)

2.2.3 Điều kiện hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Không phải tất cả những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản đều là người đượchưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc; để được nhận phần di sản thừa kế không phụthuộc vào nội dung di chúc những người này còn phải thỏa mãn các điều kiện:

- Người lập di chúc không cho họ hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần basuất của một người thừa kế theo pháp luật (2/3 một suất theo luật được xác định bằng cách giả địnhtoàn bộ di sản chia theo pháp luật)

- Không thuộc trường hợp những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 BLDS năm2015

- Không thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1Điều 621 BLDS năm 2015

Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nói trên, thì những người này sẽ được hưởng một phần di sản tốithiểu bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật mặc dù họ không được người lập di chúccho hưởng di sản

Như vậy, qua Điều 644 BLDS năm 2015, có thể thấy: một phần pháp luật tôn trọng ý chí của người

để lại di sản, nhưng mặt khác, chính pháp luật lại hạn chế quyền định đoạt ấy nếu người để lại di sảncòn có những người mà khi họ sống họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc Vì thế, có thể nói rằng sựquy định trên của pháp luật là sự dung hòa giữa phương tiện kinh tế và phương tiện đạo đức

2.2.4 Nghĩa vụ của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

Nhận phần di sản được hưởng không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, người thụ hưởng có nghĩa

vụ thanh toán nợ di sản như tất cả những người thừa kế khác, họ tiếp nhận không chỉ 2/3 suất củamột người thừa kế theo pháp luật mà họ còn cả 2/3 suất đó trong tập hợp các khoản nợ

2.2.5 Cách xác định kỷ phần bắt buộc của người được hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc

Để xác định một suất thừa kế theo pháp luật thì về nguyên tắc, một suất thừa kế theo pháp luật là kếtquả của một phép chia, trong đó số bị chia là tổng giá trị di sản thừa kế mà như đã xác định thì di

Ngày đăng: 10/02/2022, 11:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Đỗ Văn Chỉnh (2006), “Di sản không có người thừa kế hoặc từ chối nhận di sản- vấn đề cần có hướng dẫn”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản không có người thừa kế hoặc từ chối nhận di sản- vấn đề cần cóhướng dẫn
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Năm: 2006
5. Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), “Chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam”, [https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/che-dinh-quyen-thua-ke-trong-phap-luat-dan-su-viet-nam], (truy cập ngày 5/11/2021) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Đoàn Thị Ngọc Hải
Năm: 2019
6. Nguyễn Trần Phương Nam (2013), “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Bộ luật Dân sự năm 2005”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo Bộluật Dân sự năm 2005
Tác giả: Nguyễn Trần Phương Nam
Năm: 2013
7. Phùng Trung Tập (2019), “Quyền của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc”, Tạp chí kiểm sát, số 01 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Tác giả: Phùng Trung Tập
Năm: 2019
8. Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2013), “Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp”, Nxb. Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranhchấp
Tác giả: Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2013
9. Phùng Trung Tập (2017), “Luật Dân sự Việt Nam - Bình giải và áp dụng Luật Thừa kế”, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Dân sự Việt Nam - Bình giải và áp dụng Luật Thừa kế
Tác giả: Phùng Trung Tập
Nhà XB: Nxb. HàNội
Năm: 2017
1. Bản án số số 22/2007/DS-PT ngày 5-3-2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa Khác
2. Đỗ Văn Đại (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội Khác
3. Đỗ Văn Đại (2016), Luật Thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb.Hồng Đức Khác
11. Trường Đại học luật Hà Nội (2018), Gíao trình Luật dân sự Việt Nam tập 1, Nxb.Công an nhân dân Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w