TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VĂN HOÁ TRONG TH ỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY B ẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ VĂN HOÁ TRONG TH ỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA SINH VIÊN TRONG VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY B ẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ HỘI
NH ẬP QUỐC TẾ
GVBM : Th ầy Ngô Bá Khiêm
Trang 2Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trân trọng
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2021
Trang 3NH ẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN BỘ MÔN
, ngày tháng năm 2021
Gi ảng viên hướng dẫn
Trang 4PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 1 Đặt vấn đề, lý do chọn đề tài
Trải qua gần 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã định hướng phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng, phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa
có những bước vận động rất quan trọng Văn hóa được coi là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, trong đó con người được nhìn nhận là trung tâm trong chiến lược phát triển bền vững Việc nhấn mạnh đến vấn đề con người thể hiện sự phù hợp với quan điểm tiến bộ về văn hóa trên thế giới hiện nay
Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam đặt ra nhiều thách thức trong giai đoạn mới Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nền văn hóa mới cần hội tụ tính dân tộc, khoa học và đại chúng Trong đó, nền văn hóa mang tính đại chúng được hiểu là nền văn hóa do nhân dân xây dựng Ở góc độ này, việc xây dựng con người
là nhiệm vụ quan trọng nhất Nhìn cụ thể hơn vào mục tiêu xây dựng con người Việt Nam, vốn đã được xác định là nhiệm vụ hàng đầu trong các nhiệm vụ về văn hóa Chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa là nền tảng vững chắc để tạo ra những chuyển biến tích cực trong xây dựng nền văn hóa và con người hiện nay
Bên cạnh đó, trong bối cảnh đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hoàn thiện nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trên nền tảng kế thừa di sản văn hóa của cha ông, kết hợp học hỏi những tinh hoa văn hóa nhân loại cần được đặc biệt chú trọng Chính vì vậy, cần thiết phải phát huy vai trò của sinh viên trong việc xây dựng, giữ gìn nền văn hóa dân tộc
1 2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của bài báo cáo này, chúng em mong muốn tiếp cận và làm sáng tỏ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá trong thời kỳ đổi mới, từ đó, rút ra
Trang 5được những bài học bổ ích trong học tập cũng như vai trò của sinh viên, cụ thể là sinh viên trường đại học Tôn Đức Thắng trong quá trình giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong quá thời kỳ hội nhập quốc tế
1 3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo này là hệ thống quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng về văn hoá và quan điểm của sinh viên trường Đại học Tôn Đức Thắng về việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Ở bài báo cáo này, chúng em lựa chọn việc vận dụng các kiến thức từ hệ thống tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí minh, đường lối chính sách của Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Bam là cơ sở phương pháp luận định hướng nghiên cứu
Ngoài các phương pháp luận đã được nêu trên, ở đề tài này, chúng em còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: so sánh, phân tích, tổng hợp và quy nạp, diễn dịch nhằm đưa
ra một cái nhìn đúng đắn và rõ ràng nhất về quan điểm đã được nêu trên
Trang 6PH ẦN 2: KHÁI QUÁT VĂN HOÁ VIỆT NAM
2.1 Phong t ục tập quán
2.1.1 Phong t ục:
Là toàn bộ những hoạt động sống của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng
Phong tục là những nghi thức thuộc về đời sống của con người được hình thành qua nhiều thế hệ và được công nhận như một phần trong nếp sống của cộng đồng Phong tục được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không có tính bắt buộc và thay đổi theo
từng quần thể, dân tộc cũng như tôn giáo khác nhau
Ví dụ một số phong tục: phong tục cưới hỏi, phong tục ma chay, đặc biệt là việc xây dựng nhà cửa, xây mộ phần cho người thân,…
Ví dụ: tập quán ngủ đông của loài gấu khi mùa đông về Hoặc ở một số dân tộc
có tập quán di canh di cư để tìm vùng đất mới thích hợp hơn cho việc chăn thả gia súc Như vậy, phong tục tập quán là toàn bộ thói quen thuộc về đời sống của con người được công nhận bởi một cộng đồng, quần thể và coi đó như một nếp sống truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác Tùy theo mỗi địa phương và tín ngưỡng khác nhau, phong tục tập quán ở mỗi quần thể sẽ có những sự khác biệt với nhau
Phong tục tập quán của người Việt là một nét đẹp văn hóa cần được bảo tồn và phát huy Đó không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn những giá trị truyền thống mà còn là
Trang 7cách để ghi nhớ cội nguồn của dân tộc Con người Việt Nam vô cùng hãnh diện và tự hào với bạn bè quốc tế bởi những phong tục đặc biệt chỉ người Việt mới có
2.1.3 M ột số phong tục điển hình của người Việt
- Th ờ cúng tổ tiên: Tục thờ cúng tổ tiên của người Việt ra đời từ lâu Bàn thờ tổ tiên thường đặt trang trọng trên cao hoặc giữa nhà, bao gồm di ảnh người đã mất, bình hoa tươi, đĩa trái cây Hằng năm, vào ngày tổ tiên mất, người thân sẽ tiến hành cúng, tức chuẩn bị nhiều món
ăn đặt lên bàn thờ, thắp nhang
- Đón Tết âm lịch: Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch hay Tết Tây,
thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch và nói chung kéo dài khoảng 5- 6 ngày, tạo điều kiện cho những thành viên gia đình sinh sống làm ăn ở nơi
xa có thể về quê vui cảnh đoàn viên ít ngày
Ý nghĩa thiêng liêng nhất của Tết ở chỗ nó không chỉ là dịp để người Việt nhớ
về cội nguồn, ông bà tổ tiên mà là dịp đoàn tụ gia đình để nghỉ ngơi, vui chơi, ăn uống chào đón năm mới, chào đón sự khởi đầu mới, rũ bỏ những gì không hay đẹp của năm qua nên mọi người đều cố gắng vui vẻ độ lượng với nhau, bỏ qua hiềm khích cũ Lòng người nào cũng tràn đầy hoài bão về hạnh phúc và thịnh vượng cho năm mới
Người Việt có rất nhiều phong tục trong dịp Tết âm lịch như tặng quà tết cho người thân quen, quét dọn nhà cửa thật sạch, trang trí nhà cửa thật đẹp, mừng tuổi trẻ
em - người già, chúc Tết, đi chùa để cầu nguyện những điều may mắn…
- Kính già, yêu tr ẻ, trọng khách: Kính già, yêu trẻ, trọng khách là điểm người nước ngoài ghi nhận tại Việt Nam từ hàng trăm năm trước
Việc kính trọng người cao tuổi không chỉ là một thuần phong mỹ tục của người Việt mà đó còn là bản sắc văn hóa dân tộc lại vừa có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng, sâu sắc Người Việt Nam rất kính trọng người cao tuổi vì niềm tin rằng người cao tuổi là người có nhiều kinh nghiệm sống và nhất là “kính lão đắc thọ” (tức khi kính trọng người cao tuổi thì chúng ta sẽ sống thọ hơn)
Trang 82.2 Tín ngưỡng tôn giáo:
2.2.1 Khái ni ệm:
Trong từ điển Hán-Việt, Đào Duy Anh đã giải nghĩa: “Tín ngưỡng là lòng ngưỡng
mộ mê tín đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa nào đó.”
Theo Giáo sư Đặng Nghiệm Vạn (đại diện tiêu biểu cho nhóm quan điểm tínngưỡng dưới góc nhìn của Tôn giáo học, Nhân học) với công trình “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” thì thuật ngữ “tín ngưỡng” có thể có hai nghĩa Khi nói đến tự do tín ngưỡng, người nước ngoài có thể hiểu đó là niềm tin nói chung (belief, lelieve) hay niềm tin tôn giáo (belief, believe, croyanceriligieuse) Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief, believer theo nghĩa hẹp croyance riligieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo
Một số nhà thần học như Tômát Đacanh, Phôn ti lích, v.v xem tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng liêng, huyền bí, ở đó ẩn chứa sức mạnh siêu nhiên có thể giúp con người thoát khỏi khổ đau và có được hạnh phúc Niềm tin vào cái thiêng liêng, cái siêu nhiên ở đây chính là niềm tin vào Thượng đế Như vậy niềm tin vào cái "tối thượng" (Thượng đế) chính là tôn giáo
Trong các tác phẩm của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đều xem sản xuất vật chất
là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các hiện tượng mang tính lịch sử xã hội, trong đó có tôn giáo Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, một của thời đại lịch sử nhất định Tôn giáo là sản phẩm của ý thức con người, là sự phản ánh của ý thức con người
về trạng thái xã hội trong đó con người sống Chủ nghĩa Mác- Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan
⇒ Tín ngưỡng là một niềm tin có hệ thống mà con người tin vào để giải thích thế giới và để mang lại sự bình yên cho bản thân và mọi người Tín ngưỡng còn là thể hiện giá trị của cuộc sống, ý nghĩa của cuộc sống bền vững và đôi khi được hiểu là tôn giáo
2.2.2 So sánh:
.Điểm tương đồng giữa tín ngưỡng và tôn giáo
Trang 9- Tôn giáo và tín ngưỡng đều là sự thể hiện niềm tin, sự ngưỡng mộ của chủ thể con người vào một thực thể siêu nhiên nào đó như Thượng đế, Thần, Phật, Thánh… và đều bắt nguồn từ những nguyên nhân xã hội, nhận thức và tâm lý trong quá trình hình thành và tồn tại Chủ thể của niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo là một người, một
nhóm người và có thể là một giai cấp trong xã hội
- Bản chất của niềm tin trong tín ngưỡng và tôn giáo là khẳng định sự tồn tại và
sự cứu giúp của thần thánh đối với con người Cho nên, điều cốt lõi của tín ngưỡng và tôn giáo là niềm tin vào cái siêu thực, đấng thiêng liêng
- Cả tín ngưỡng và tôn giáo là sự phản ánh hư ảo của ý thức xã hội về tồn tại xã hội, chịu sự quy định của các tồn tại xã hội, đều có chức năng bù đắp hư ảo, xoa dịu nỗi
đau hiện thực của con người, hướng con người tới sự giải thoát về mặt tinh thần
Giữa tôn giáo và tín ngưỡng tuy có điểm giống nhau nhưng vẫn có những sự khác
• Ở tôn giáo, niềm tin được đặc biệt đề cao, có thể đó là đức tin, nó đòi hỏi
có cách lý giải mang tính lôgic, hệ thống và được xây dựng trên cơ sở thế giới quan, nhân sinh quan, ý thức, tình cảm… Còn tín ngưỡng, niềm tin không trở thành đức tin mà niềm tin ấy mang tính huyễn hoặc, mờ ảo, không rõ ràng mà dựa vào
sự cảm nhận của chủ thể tín ngưỡng Nói cách khác, xét về mặt nào đó thì tín ngưỡng có nội hàm hẹp hơn tôn giáo, bởi vì tôn giáo nào cũng có tín ngưỡng, niềm tin, đức tin tôn giáo nhưng không phải mọi hình thức tín ngưỡng đều là tôn giáo
• Tôn giáo thường có một số yếu tố như: Đấng sáng tạo, kinh sách, giáo chủ, hệ thống giáo lý, tổ chức giáo hội rất điển hình, có quy mô lớn và theo một hệ thống chặt chẽ Vì vậy, tôn giáo là một thực thể xã hội, nó có tác động lớn tới đời sống xã hội, còn tín ngưỡng thì thiếu các yếu tố này hoặc chỉ là sự thể hiện mờ
Trang 10nhạt, mang tính sơ khai
2.2.3 Liên h ệ thực tế
Việt Nam là một nước có lịch sử lâu đời và rất đông dân số nên có rất nhiều vấn
đề liên quan tới tín ngưỡng tôn giáo Hiện nay ở nước ta có khá nhiều tôn giáo Chủ yếu chiếm đa số là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo Mặc dù
có là tín ngưỡng tôn giáo nào thì mục đích chính cũng hướng tới ý nghĩa cao đẹp Tôn giáo bao giờ cũng đề cao tính nhân văn, hướng thiện Khuyên con người thương yêu giúp đỡ nhau, tránh điều ác, phi nhân cách, phi đạo đức Đạo đức tôn giáo có những điều phù hợp với đạo đức xã hội, và nhiều khi trở thành những giá trị vănhóa tinh thần
của nhân loại
Ước tính số lượng ngôn ngữ trên thế giới dao động khoảng từ 6000 đến 7000 loại khác nhau Tuy nhiên, bất cứ ước lượng chính xác nào cũng đều phụ thuộc vào sự phân biệt khá tùy ý giữa các ngôn ngữ chính và ngôn ngữ địa phương Ngôn ngữ tự nhiên được nói hoặc ghi lại, nhưng bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có thể được mã hóa thành phương tiện truyền thông sử dụng các giác quan thính giác, thị giác, xúc giáchoặc kích thích (ví dụ: văn bản, đồ họa, chữ nổi hoặc huýt sáo) Điều này là do ngôn
ngữ của con ngườiđộc lập với phương thức biểu đạt Khi được sử dụng như là 1 khái niệm chung, ngôn ngữ có thể nói đến các khả năng nhận thức để học hỏi và sử dụng hệ thống thông tin liên lạc phức tạp hoặc để mô tả các bộ quy tắc tạo nên các hệ thống này hay tập hợp các lời phát biểu có thể được tạo thành từ những quy tắc
Tất cả ngôn ngữ dựa vào quá trình liên kết dấu hiệu với các ý nghĩa cụ thể Ngôn ngữ truyền miệng và ngôn ngữ dùng dấu hiệu bao gồm một hệ thống âm vị học, hệ
thống này điều chỉnh các biểu tượng được sử dụng để tạo ra các trình tự được gọi là từ
Trang 11hoặc hình vị và một hệ thống ngữ pháp điều chỉnh cách thức lời nói và hình vị được kết hợp để tạo thành cụm từ và câu nói hoàn chỉnh
Ví d ụ: Ngôn ngữ phát triển và đa dạng hóa theo thời gian và lịch sử tiến hóa của
loài người Chúng ta có thể so sánh những ngôn ngữ hiện đại để xác định các tính trạng ngôn ngữ của tổ tiên, từ đó tìm ra được nguyên nhân và các giai đoạn tiền đề để hình thành và phát triển thành ngôn ngữ hiện đại ngày nay
Ngôn ngữ của con người có các tính tự tạo, tính đệ quy, tính di chuyển, chúng phụ thuộc hoàn toàn vào các nhu cầu khác nhau của xã hội và học tập Cấu trúc phức tạp của nó cho phép thể hiện cảm xúc rộng rãi hơn so với bất kỳ hệ thống thông tin liên lạc nào đã được biết đến của các loài động vật khác
2.4 Văn học:
Văn học viết Việt Nam được chia làm hai giai đoạn chính:
- Văn học trung đại, được phát triển từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Giai đoạn này được chia làm hai thể loại, đó là văn học chữ hán và văn học chữ nôm
- Văn học hiện đại, trải quá quá trình kháng chiến cứu nước nên các tác phẩm đậm chất tinh thần yêu nước
2.4.1 Văn học Trung đại ( Từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX)
thể loại của văn học cổ- trung đại Trung Quốc
• Trong thời kì này, đã có nhiều tác phẩm văn học chữ Hán mang nhiều ý nghĩa sâu sắc và tính nhân đạo rất cao Một số tác phẩm tiêu biểu của văn học chữ Hán: Bình ngô đại cáo - Nguyễn Trãi, Truyền kì mạn lục - Nguyễn
Dữ
Trang 12- Văn học chữ Nôm:
• Văn học chữ Nôm ở nước ta phát triển mạnh từ thế kỉ XV và đạt đỉnh cao
là vào cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX Văn học chữ Nôm chính là kết quả của lịch sử phát triển dân tộc, đồng thời nó như là một lời khẳng định cho ý chí độc lập và chủ quyền của quốc gia Văn học chữ Nôm đã để lại rất nhiều thành tựu to lớn Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của văn học chữ Nôm, dân tộc ta cũng đã hình thành nên những thể loại văn học truyền
thống khác Những tác phẩm dễ dàng đến được với nhân dân lao động
• Văn học chữ Nôm chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn học dân gian Nó phản ánh quá trình phát triển của dân tộc, dân chủ hóa của văn học trung đại Những tác phẩm văn học chữ Nôm tiêu biểu: Truyện Kiều - Nguyễn Du;
Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi
2.4.2 Văn học hiện đại:
Văn học hiện đại đã bắt đầu được nhen nhóm từ cuối thế kỉ XIX, nhưng đến đầu những năm 30 của thế kỉ XX, nền văn học của nước ta mới chính thức bước vào thời kì
văn học hiện đại
Văn học Việt Nam được viết chủ yếu bằng chữ Quốc ngữ, nó là nền văn học của Tiếng Việt và đã xây dựng được một khối lượng đồ sộ các tác phẩm văn học hiện
đại Văn học hiện đại của Việt Nam mang những nét đặc trưng:
- V ề tác giả: Có rất nhiều người đã coi việc làm văn, sáng tác thơ là một nghề
nghiệp chính thức Xuất hiện nhiều tác giả tài giỏi, họ sáng tác rất chuyên nghiệp
- V ề thể loại: Văn học hiện đại phong phú về thể loại Các thể loại cũ dần được
thay thế bởi các thể loại thơ mới, tiểu thuyết, kịch Các thể loại văn học trung đại vẫn còn tồn tại, tuy nhiên không còn giữ vai trò chủ đạo
- V ề đời sống văn học: Trong thời kì phát triển hiện đại hơn về kĩ thuật in ấn, các
tác phẩm được đến tay bạn đọc một cách rộng rãi hơn Chính vì vậy mà mối quan hệ
giữa tác giả và bạn đọc mật thiết và gần gũi hơn Đời sống văn học lúc này trở nên sôi nổi và năng động hơn