Vai trò chủ động và tầm hoạt động rộng lớn trên khắp các mặt biển Á Châu của các thương nhân gốc Malay đã là một ví dụ quan trọng cho tính chủ động của thương nhân Đông Nam Á.3 Bên cạnh
Trang 1BIỂN VỚI LỤC ĐỊA – THƯƠNG CẢNG THI NẠI (CHAMPA) TRONG HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI ĐÔNG Á (THẾ KỶ X-XV) 1
Đỗ Trường Giang Viện nghiên cứu Đông Nam Á
Vị trí của các thương cảng Champa trong mạng lưới hải thương khu vực
Các nhà nghiên cứu lịch sử hải thương Á châu đều khẳng định vai trò, vị thế và sức ảnh hưởng của ba thị trường kinh tế lớn, cũng đồng thời là ba trung tâm văn minh lớn/ và sớm của Á châu, bao gồm Trung Hoa, Ấn Độ và bán đảo Arab Các trung tâm văn minh ấy về cơ bản đều đã được triển nở tại những vùng châu thổ của những con sông vĩ đại, đồng thời kiến lập nên những vương triều vĩ đại Sự kết nối giữa các trung tâm văn minh vĩ đại và thị trường rộng lớn đó đã dẫn tới sự hình thành của những “con đường tơ lụa” trên bộ và trên biển Sự hưng thịnh, suy tàn của các thị trường ấy, cũng như là những chính sách được thực thi bởi các vương triều ở những trung tâm văn minh lớn này luôn dẫn đến những tác động trực tiếp và sâu sắc đối với mạng lưới thương mại (cả trên bộ và trên biển) của khu vực, cũng như là tác nhân quan trọng dẫn tới sự ra đời, hưng thịnh và suy vong của nhiều quốc gia nằm trên các tuyến thương mại đó Cho đến trước khi có sự xuất hiện của các thương nhân Âu châu sau thời kỳ phát kiến địa lý, thì những người nắm giữ vai trò chi phối đối với mạng lưới thương mại khu vực kết nối các khu vực với nhau, được ghi nhận rộng rãi, là các thương nhân Trung Hoa, thương nhân Ấn Độ, thương nhân Arab và những hải nhân Malayo-polinesian
Trong sự phát triển của nền hải thương Á châu, khu vực Đông Nam Á – đặc biệt
là thế giới hải đảo Đông Nam Á (maritime Southeast Asia), có một vị trí vô cùng quan trọng: một trung gian điểm trong việc kết nối thị trường Đông và Đông Bắc Á với thị
trường Nam và Tây Á, đặc biệt là sau khi con đường tơ lụa trên bộ gặp nhiều khó khăn trong việc chuyển vận các nguồn hàng giữa các trung tâm và con đường tơ lụa trên biển
trở nên thiết yếu trong việc duy trì các mối liên hệ đó Khi sự phát triển của mối giao thương giữa các trung tâm kinh tế lớn càng phát triển, thì các vùng biển của Đông Nam Á
1 Trong quá trình hoàn thiện bài viết cũng như tiến hành khảo sát thực địa tại Bình Định, tác giả đã nhận được những ý kiến đóng góp và những ý tưởng khai mở từ phía GS Nguyễn Văn Kim và GS Ngô Văn Doanh; bên cạnh đó GS Momoki Shiro và GS Bruce Lockhart cũng đã có những ý kiến đóng góp quan trọng cho bài nghiên cứu Nhân đây, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với những ý kiến đóng góp quan trọng ấy của các nhà nghiên cứu
Trang 2càng có những cơ hội để dự nhập vào mạng lưới hải thương khu vực, tận dụng môi
trường kinh tế biển, kiến lập các trung tâm liên thế giới để vận hành mạng lưới riêng của
khu vực.2
Sự suy yếu của một/hay đồng thời nhiều trung tâm kinh tế lớn, ở chiều hướng
ngược lại, dẫn tới sự suy yếu, khủng hoảng, và thậm chí diệt vong của nhiều thể chế biển
vốn phụ thuộc chặt chẽ vào sự vận hành của mạng lưới hải thương (sự diệt vong của Phù Nam vào thế kỷ thứ VII cũng như của Srivijaya vào thế kỷ XII, hay Malacca vào thế kỷ XVI là những ví dụ điển hình cho luận điểm này) Tuy nhiên, Đông Nam Á không phải/và không bao giờ là một khu vực lệ thuộc hoàn toàn và bị động vào sự vận hành của mạng lưới thương mại biển khu vực, được dẫn dắt bởi các trung tâm văn minh lớn và dưới sự điều hành của các thương nhân Trung Hoa, Ấn Độ hay Arab Ngược lại, các nguồn sử liệu Đông Nam Á, cũng như sử liệu ngoài khu vực, đã minh chứng sự chủ động, tích cực và vai trò của các chính thể vùng Đông Nam Á – đặc biệt là các chính thể
đã từng tồn tại ở vùng Eo Malacca cũng như là các thể chế biển trong khu vực, trong việc
dự nhập vào mạng lưới hải thương Á châu và sự vận hành của mạng lưới này Vai trò chủ động và tầm hoạt động rộng lớn trên khắp các mặt biển Á Châu của các thương nhân gốc Malay đã là một ví dụ quan trọng cho tính chủ động của thương nhân Đông Nam Á.3
Bên cạnh đó, Đông Nam Á còn được biết đến như những trung tâm cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho các thị trường lớn, đặc biệt là các mặt hàng có nguồn gốc nhiệt đới như quế, trầm hương, long não, đinh hương, nhục đậu khấu, tô mộc …4
Chính các chính thể vùng Đông Nam Á là những chủ nhân và đồng thời là những người vận hành của các mạng lưới trao đổi nội địa, nội vùng và liên vùng ấy; thu gom các mặt hàng có giá trị cao trên thị trường (đặc biệt là các nguồn hàng có nguồn gốc từ các vùng cao nguyên), chuyển vận
2 Theo giáo sư Sakurai Yumio thì “trước thế kỷ thứ 10, Phù Nam, Srivijaya-Sailendra là những trung tâm liên thế giới có vị trí nổi bật ở khu vực Đông Nam Á Trong thời đại thương mại các trung tâm vùng như Ayuthaya và Batavia đã phát triển thành các trung tâm liên thế giới”, Sakurai Yumio, “Thử phác dựng cấu
trúc lịch sử của khu vực Đông Nam Á (thông qua mối quan hệ giữa biển và lục địa)”, tạp chí Nghiên cứu
Đông Nam Á 04/1996,tr.41
3 Về vai trò và ảnh hưởng của các cư dân Malayu trong lịch sử hải thương Á châu, đặc biệt là thế giới biển
Đông Nam Á, có thể tham khảo công trình của giáo sư Leonard Y.Andaya, Leaves of the same tree – Trade
and Ethnicity in the Straits of Melaka, University of Hawaii Press, Honolulu, 2008
4 Anthony Reid, Southeast Asia in the Age of Commerce, 1450-1680: The Lands Below the Winds New Haven: Yale University Press, 1990; và Southeast Asia in the age of commerce: 1450-1680: Expansion and
crisis New Haven: Yale University Press, 1993 Một tài liệu khác nghiên cứu về các nguồn hàng của Đông
Nam Á trong trao đổi buôn bán với nhà Tống, có thể xem: Paul Wheatley, “Geographical notes on some
commodities involved in Sung maritime trade”, Journal of the Malayan, Malaysian Branch of the Royal
Asiatic Society, 32, 2 Kuala Lumpur, 1959
Trang 3tới các cảng thị cận duyên và từ đó dự nhập vào mạng lưới thương mại khu vực và quốc
với các chính thể trong khu vực – bao gồm cả các chính thể trọng nông (agrarian-based polities) như Java, Angkor hay Đại Việt và các chính thể trọng thương/thể chế biển
(Commercial-based polities/marine polities) Trong một bối cảnh lịch sử và điều kiện sinh thái và địa-kinh tế như vậy, thì các hải cảng trong suốt chiều dài lịch sử đã luôn giữ một vai trò quan trọng đối với các tiểu quốc này.6
Các thương cảng đó nắm giữ chức năng như các trung tâm đầu mối (entrepot) cho việc giao thương trong một khu vực và đồng thời kết nối các khu vực với nhau Các dòng sông và tuyến đường mòn ven sông thường là các kênh giao tiếp chính (đôi khi là duy nhất) đối với vùng nội địa và, phụ thuộc vào địa hình của vùng duyên hải, sự hiện diện của các đầm lầy và khả năng di chuyển cho các thương thuyền lớn, trong một số trường hợp thì thủ phủ (capital city) có thể nằm cách xa bờ biển một vài dặm về phía nội địa.7
Tính quốc tế của các chính thể
cảng (port-polities) là một đặc điểm thể hiện sự phồn vinh của nó Các cảng thị không chỉ
là kinh đô về chính trị và thương mại, mà còn là các trung tâm văn hóa của các chính thể…8
Một số cảng thị đặc trưng của vùng Đông Nam Á trước khi có sự hiện diện của các đoàn thuyền buôn châu Âu, có thể kể tới là Srivijay Palembang, Melacca, Thi Nại
(Champa), … Sự hình thành, hưng khởi và suy tàn của các thương cảng, hay các chính
thể cảng thị của vùng Đông Nam Á, một mặt chia sẻ các giá trị và đặc điểm chung mang
5 Theo giáo sư Sakurai Yumio thì chỉ số duyên hải ISCL của khu vực Đông Nam Á (bao gồm cả Đông Nam Á lục địa) là 5 (Area/ length of Sea Coastal Line) Chỉ số này có ý nghĩa là tính bình quân 1 km bờ biển chỉ che phủ 5 km2 đất liền Trong khi đó ở Trung Quốc chỉ số này là 500 Thậm chí ngay cả ở Nhật Bản, được coi là “Đảo quốc” chỉ số này cũng còn là 20…Chính vì thế Đông Nam Á là khu vực có độ ẩm cảo nhất thế giới và nóng ẩm đã biến Đông Nam Á thành thiên đường của thế giới thực vật Xem: Sakurai Yumio, “Thử phác dựng cấu trúc lịch sử của khu vực Đông Nam Á (thông qua mối quan hệ giữa biển và
lục địa)”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á 04/1996, tr.38
6 The Southeast Asian Port and polity – Rise and Demise, Edited by J.Kathirithamby-Wells and John
Villiers, Singapore University Press, 1990, tr.3
7
The Southeast Asian Port and polity, sđd, tr.3
8 The Southeast Asian Port and polity, sđd, tr.4; tham khảo thêm công trình nghiên cứu của giáo sư Shigeru
Ikuta, “Vai trò của các cảng thị ở vùng ven biển Đông Nam Á từ đầu thế kỷ II TCN đến thế kỷ XIX”, in
trong Đô thị cổ Hội An, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội-1991
Trang 4tính phổ quát, nhưng đồng thời cũng thể hiện sự phản ứng và thích ứng của những người đứng đầu các chính thể đó trước các cơ hội và thách thức của môi trường địa-kinh tế khu vực và thế giới
Trên con đường thương mại biển của khu vực và thế giới ấy, vùng biển Vịnh Bắc
Bộ (biển Giao Châu) và cả vùng Biển Đông của Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đã
có một vị trí thiết yếu và có những đóng góp tích cực đối với sự chuyển vận của mạng lưới này Các vùng biển này nằm liền kề với các trung tâm thương mại lớn ở Nam Trung Hoa (Cảng Quảng Châu) và nắm giữ vai trò cầu nối giữa thị trường Đông Bắc Á với các trung tâm kinh tế khác ở cả Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á nên đã sớm được các thương nhân quốc tế xem như là một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng cả về mặt địa-chính trị và địa-kinh tế.9
Các hệ thống cảng biển ven bờ của miền Trung Việt Nam từ lâu đời đã trở thành địa điểm dừng chân thường xuyên của các đoàn thuyền buôn nội địa cũng như
là ngoại quốc.10
Trong suốt một thời kỳ lịch sử dài lâu, vương quốc Champa đã được ghi nhận là chủ nhân của vùng bờ biển dài dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam ngày nay Các cư dân cổ của vương quốc này đã tận dụng triệt để việc khai thác các nguồn tài
nguyên của một hệ sinh thái phổ tạp (General Ecosystem), đồng thời tận dụng các nhân tố
ngoại sinh do điều kiện quốc tế mang tới để gây dựng nên trên mảnh đất này những vương triều hùng mạnh, một nền văn minh đặc sắc với những dấu tích hiện còn lưu lại đến ngày nay
9 Li Tana, “A View from the Sea: Perspectives on the Northern and Central Vietnam Coast”, Journal of
Southeast Asian Studies, 37/1 (2006), tr 83-102; John K Whitmore, “The Rise of the Coast: Trade, State
and Culture in Early Đại Việt”, Journal of Southeast Asian Studies, 37/1 (2006), tr 103-122
10 Những ghi chép cụ thể về tuyến đường biển từ Quảng Châu của Trung Hoa đến các địa điểm của
Champa có thể thấy trong Tân Đường Thư Tài liệu này cho biết “Đời Đường năm Trinh Nguyên, Giả Đam
chép rằng: đường Quảng Châu vào biển, đi về phía đông nam 200 dặm đến núi Đồn Môn, đi về phía Tây 2 ngày đến núi Cửu Châu Thạch Lại đi về phía nam 2 ngày đến Tượng Thạch Lại đi về phía tây năm 3 ngày đến núi Chiêm Bất Lao Ở phía đông nước Hoàn Vương 200 dặm là trong biển Lại đi về phía nam 2 ngày đến núi Lăng Sơn Lại đi 1 ngày đến nước Môn Độc, đi một ngày nữa đến nước Cổ Đát, đi nửa ngày nữa
đến châu Bôn Đà Lãng” Dẫn theo: Nguyễn Văn Siêu, Đại Việt địa dư toàn biên, Viện Sử học và Nhà Xuất bản Văn hóa, 1997, tr.220-221 Sách An nam chí lược của Lê Tắc biên soạn vào năm 1333, phần Các dân
biên cảnh phục dịch cũng đưa ra lời bình về vị trí tự nhiên của Chiêm Thành (Champa): “Nước này ở ven
biển, những thuyền buôn của Trung Hoa vượt biển đi lại với các nước ngoại phiên đều tụ ở đây, để lấy củi,
nước chứa Đấy là bến thứ nhất ở phương Nam”, theo: Lê Tắc, An Nam chí lược, Viện Đại học Huế, 1961, tr.32 Một tài liệu Trung Hoa khác là Daoyi zazhi, cho biết “đối với các tàu từ Canton tới các phiên quốc
(Barbarian countries), Champa là nước gần nhất, tàu thuyền có thể tới đó trong vòng 8 ngày nếu thuận gió”; Dưới thời nhà Nguyên, Qubilai Khan đã coi Champa như là một bàn đạp để mở rộng ảnh hưởng đến vùng Nam Dương (biển Đông Nam Á) và Ấn Độ Dương; những tư liệu ấy đã chứng tỏ vị trí chiến lược của Champa trong hệ thống hải thương khu vực Dẫn theo: Momoki Shiro, “Mandala Champa” Seen from
Chinese Sources”, in trong: Tran Ky Phuong and Bruce Lockhart (Editors), The Cham of Vietnam –
History, Society and Art, NUS Press, Singapore, 2001
Trang 5Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Champa trong suốt chiều dài lịch sử chỉ đơn thuần
là một thể chế biển, lấy hoạt động kinh tế biển làm nền tảng và cũng là nhân tố quyết
định sự tồn vong của vương quốc này Quan điểm ấy dựa trên một thực tế là, vương quốc Champa đã hình thành và phát triển trên một không gian lãnh thổ dài và hẹp dọc theo ven biển miền Trung Việt Nam ngày nay, bị giới hạn về phía tây bởi dãy núi Trường Sơn chạy dọc suốt chiều dài lãnh thổ, phía Đông là biển Đông rộng lớn Do tính chất địa hình núi và biển gần như nằm sát nhau, các con sông ở đây đều ngắn, đều chủ yếu chảy theo hướng Tây-Đông từ núi xuống biển, và mỗi con sông đều là một hệ thống riêng rẽ Những con sông này, cùng với đường bờ biển cao và khúc khuỷu đã tạo thành những vịnh - cảng là nơi đậu thuyền rất tốt Bờ biển miền Trung lồi lõm, ngoài bờ là những đảo, cụm đảo được hình thành trong quá trình tạo sơn như: Hòn Gió (Quảng Bình), đảo Cồn
Cỏ (Quảng Trị), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn-Cù Lao Ré (Quảng Ngãi), Hòn Tre (Khánh Hoà), Phú Quý (Ninh-Bình Thuận)… Sinh thành và phát triển trong một điều kiện địa lý và môi trường sinh thái như vậy, các cư dân cổ Champa đã sớm lựa chọn cho
mình con đường phát triển xuyên suốt trong lịch sử, đó là hướng biển, gây dựng một nền
kinh tế biển bằng việc chủ động dự nhập vào mạng lưới hải thương của khu vực, và thực
tế như đã được thừa nhận rộng rãi, Champa đã từng một thời là “vương quốc biển” điển hình của khu vực Đông Nam Á
Champa là một thể chế biển, đó là một quan điểm đã được thừa nhận rộng rãi
Tuy nhiên, có phải trong suốt chiều dài lịch sử ấy, Champa đơn thuần “chỉ là một thể chế biển” như nghi vấn đã được nêu lên bởi Giáo sư Momoki Shiro?11
Địa hình lãnh thổ cổ
xưa của mandala Champa được nhìn nhận như là một trong những vùng đất rời rạc nhất
do bởi sự chia cắt tạo nên của các hệ đèo và núi ven biển Các vùng đồng bằng nhỏ hẹp nằm ở châu thổ của những/rất nhiều các con sông ngắn và có độ dốc cao bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đổ ra biển, cộng thêm với khí hậu nóng ẩm đã đưa tới nhận định cho rằng kinh tế nông nghiệp của Champa là kém phát triển Tuy nhiên, thực tế là không phải tất
cả các đồng bằng ven biển đó đều là những vùng đồng bằng kém phì nhiêu và không thuận lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững Các đồng bằng châu thổ sông Thu Bồn (thuộc tiểu quốc Amaravati – vùng Quảng Nam ngày nay), hay đồng bằng
11 Xem: Momoki Shiro, “Chămpa chỉ là một thể chế biển? (Những ghi chép về nông nghiệp và ngành nghề
trong các tư liệu Trung Quốc)”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 4, 1999, tr.43-48
Trang 6châu thổ sông Côn (thuộc tiểu quốc Vijaya – vùng Bình Định ngày nay) được ghi nhận như những vùng đồng bằng trù phú và phì nhiêu Các vùng châu thổ lớn này đã tạo nền tảng cho sự phát triển một nền kinh tế nông nghiệp mang lại các nguồn thu ổn định và bền vững cho các tiểu quốc Amaravati và Vijaya Dựa trên một nền tảng bền kinh tế nông
nghiệp bền vững thuộc không gian đồng bằng đó, các cư dân cổ tại các tiểu quốc này đã
mở rộng và kết nối với các cư dân miền thượng thuộc không gian cao nguyên ở phía tây, cũng như các cộng đồng cư dân thuộc không gian duyên hải, và đương nhiên với cư dân của các vùng quần đảo xa hơn nữa Các dòng sông – và nhánh của chúng như Thu Bồn
hay sông Côn chính là trục chuyển vận và kết nối các không gian sinh thái – tộc người
đó Các cảng thị nằm ở hạ lưu của các con sông này nắm giữ vai trò là điểm kết nối giữa biển – “không gian cận duyên” và “không gian quần đảo”, với lục địa – “không gian đồng bằng” và “không gian cao nguyên” Dựa trên sự đa dạng và nối kết chặt chẽ của
các môi trường sinh thái như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử của mình, các tiểu quốc Amaravati và Vijaya luôn nắm giữ một vị thế trội vượt và thậm chí là thống trị đối với
các tiểu quốc khác trong mandala Champa Các tiểu quốc Amaravati cùng với Vijaya có
thể coi như một ví dụ điển hình cho nhận xét của cố giáo sư Trần Quốc Vượng khi ông nhấn mạnh rằng“người Chàm và văn hóa Champa trong khoảng 15-16 thế kỷ tồn tại đã thích nghi và ứng biến tài tình với mọi hệ sinh thái từ núi rừng tới biển khơi”12 và “người Chàm cổ có cái nhìn về biển đúng đắn, biết cấu trúc một nền kinh tế tổng hợp đa ngành, tuy còn chất phác, thô sơ nhưng đã biết khai thác mọi tài nguyên trên nguồn rừng, dưới biển khơi… để xuất khẩu, có đội chiến thuyền và thương thuyền đủ lớn, đủ mạnh để ra khơi góp phần xây dựng Champa hưng thịnh một thời”.13
Không chỉ riêng vùng hạ lưu của sông Thu Bồn và sông Côn, các nhà nghiên cứu
đã chỉ ra rằng, ở mỗi vùng hạ lưu của các hệ thống sông lớn trên lãnh thổ của mandala
Champa xưa đều có dấu tích và sự hiện diện của các thương cảng cổ Đầu thế kỷ XVII, khi ghé thăm bờ biển miền Trung Việt Nam, Borri đã có quan sát rằng “về hải cảng thì thật là lạ lùng, chỉ trong khoảng hơn 100 dặm 1 chút mà người ta đếm được hơn 60 cảng, tất cả đều rất thuận tiện để cập bến và lên đất liền là vì ở ven bờ có rất nhiều nhánh biển
12 Trần Quốc Vượng, Việt Nam, Cái nhìn Địa-Văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998, tr.330-331
13 Trần Quốc Vượng, Theo dòng lịch sử - Những vùng đất, thần và tâm thức người Việt, Nxb Văn Thông Tin, Hà Nội, 1996, tr.536
Trang 7Lê Đình Phụng, dựa trên việc khảo sát các dấu tích cảng thị ven biển miền Trung ngày
nay, đã liệt kê ra danh sách các thương cảng cổ của mandala Champa, bao gồm:
Katligara - nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị ngày nay – có thể gần cảng Cửa Việt hiện
đại; Jilina - nằm trên địa bàn thành phố Huế - cảng Tư Hiền – Tư Duy ngày nay;
Indrapura - một thương cảng quan trọng, cửa ngõ của kinh đô Indrapura vươn ra biển mà
theo ông chính là Đại Chiêm cảng nằm trên vùng đất Hội An (Quảng Nam – Đà Nẵng);
Vi Ja Sa hay Thi Nại (Cri Boneithilibi Nai) mà hậu thân của nó là cảng Thi Nại – Quy
Nhơn (Bình Định) ngày nay; Lingaparvata có thể nằm ở địa bàn ven thị xã Tuy Hòa (Phú Yên); Kauthara - có thể ven thành phố Nha Trang; và cuối cùng là Panduranga - cảng
Phanrang ngày nay Bên cạnh đó, tác giả cũng ghi nhận rằng, nhiều địa điểm/vụng biển khác ở miền Trung đều là những địa điểm thuận tiện cho tàu thuyền neo đậu như là Vững Bàng (Quảng Ngãi), Vũng Rô (Phú Yên)…16
Tuy nhiên, dựa trên những bằng chứng khảo cổ và tài liệu lịch sử còn lưu giữ, tác giả đi đến kết luận rằng, chỉ có Đại Chiêm cảng và Thi Nại cảng là những thương cảng thực và có vai trò quan trọng đối với lịch sử Champa, còn các địa điểm khác có chức năng chính là bến nước – nơi tàu thuyền dừng chân lấy nước ngọt.17
Nhà nghiên cứu Hoàng Anh Tuấn, qua kết quả của các cuộc khai quật khảo cổ học, đã hoàn thành một chuyên luận khoa học quan trọng về thương cảng Cù Lao Chàm (tỉnh Quảng Nam ngày nay), trong đó tác giả khẳng định vị trí quan trọng của Cù Lao
Chàm cũng như vương quốc Champa trong “Con đường tơ lụa quốc tế” từ Đông sang
Tây thời xưa Theo đó, “những phát hiện quý giá về khảo cổ học là những bằng chứng xác nhận: trong suốt ngàn rưỡi năm dưới quyền kiểm soát của Champa, Cù Lao Chàm là
14 C.Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb tp Hồ Chí Minh, 1998, tr.91
15 Trần Quốc Vượng, “Về một nền văn hoá cảng thị ở miền Trung”, tạp chí Nghiên cứu Văn hoá Nghệ
Trang 8thương cảng số một, là cửa ngõ thông thương của vương quốc Champa với bên ngoài”.18
Các tác giả Trần Kỳ Phương, Vũ Hữu Minh trên cơ sở khảo sát thực địa cũng đã nhấn mạnh tới vai trò của cảng thị tại vùng Cửa Đại – Cửa Đại Chiêm ở lưu vực sông Thu Bồn (tỉnh Quảng Nam ngày nay) Các tác giả cho rằng “dưới thời vương quốc Champa, thương thuyền ngoại quốc ghé đến cửa Đại Chiêm – Lâm Ấp phố để buôn bán, trao đổi những đặc sản hoặc để lấy thêm lương thực, thực phẩm, đặc biệt nước ngọt để uống, trên tuyến đường từ A Rập, Ấn Độ, Đông Nam Á sang Trung Quốc, Nhật Bản và ngược lại”.19
Bên cạnh đó, nghiên cứu về lịch sử hải thương khu vực Đông Nam Á, các học giả quốc tế cũng quan tâm tới một cảng thị quan trọng khác của Champa là Panduranga (thuộc tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay) Kenneth Hall cho rằng Panduranga đã từng là nơi có sự hiện diện của cộng đồng thương nhân Hồi giáo từ đầu thế kỷ XI và Panduranga là một trong những cảng chính trên bờ biển vùng nam Champa từ giữa thế kỷ
X về sau…20
Như vậy, có thể thấy rằng, trong suốt chiều dài lịch sử của mình, dựa trên
những điều kiện sinh thái và địa lý nhân văn đặc trưng của mình,các tiểu quốc Champa
đã dày công kiến lập nên một hệ thống các cảng thị ven biển, những tiền đồn để dự nhập vào mạng lưới hải thương của khu vực và quốc tế, kiến tạo những mối liên hệ cả về mặt chính trị, kinh tế, và văn hóa đối với các mandala khác trong khu vực, cũng như với các trung tâm văn minh và kinh tế lớn của thế giới như Trung Hoa, Ấn Độ và Arab
Kết nối biển với lục địa – thương cảng Thi Nại trong nagara Vijaya
Trong quan điểm nghiên cứu truyền thống về Champa, được khởi nguồn từ các học giả Pháp và được nhiều thế hệ các học giả sau này kế thừa, Champa được nhìn nhận như là một vương quốc thống nhất với lãnh thổ truyền thống trải dài từ nam Đèo Ngang
18 Hoàng Anh Tuấn, “Cù Lao Chàm và hoạt động thương mại ở biển Đông thời vương quốc Champa”, in
trong Khoa Lịch sử - một chặng đường nghiên cứu Lịch sử (1995-2000), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2000, tr.124 Tuy nhiên, trong một chuyên luận của mình, chuyên gia khảo cổ học miền Trung Lâm Mỹ
Dung nêu lên một quan điểm khác cho rằng “khác với kết luận trước đây, chúng tôi cho rằng bản thân Cù Lao Chàm không phải là cảng, mà Đại Chiêm hải khẩu mới là cảng Cù Lao Chàm trước hết là bến đậu dừng nghỉ của các thuyền và có nhiều khả năng Cù Lao Chàm là nơi trung chuyển hàng hóa xuất và nhập”,
tham khảo: Lâm Mỹ Dung, “Vị thế của Cù Lao Chàm trong lịch sử thương mại Việt Nam”, in trong Việt
Nam trong hệ thống thương mại châu Á thế kỷ XVI-XVII, Nxb Thế giới, 2007, tr.101
19 Trần Kỳ Phương, Vũ Hữu Minh, “Port of Great Champa in the 4th–15th Centuries”, in trong Ancient
Town of Hoi An, The National Committee for The International Symposium on The Ancient Town of Hoi
An held in Danang on 22nd– 23rd March 1990, The Gioi Publishers, Hanoi, 1991, tr.105-110
20 Kenneth Hall, Maritime Trade and state Development in Early Southeast Asia, University of Hawaii
Press, Honolulu, 1985, tr.183
Trang 9cho đến nam Bình Thuận, với một hệ thống hành chính thống nhất từ trung ương đến địa phương, toàn bộ vương quốc được đặt dưới sự trị vì của một quốc vương có quyền uy tối cao Cách nhìn nhận đó, do các học giả đã áp dụng một mô hình của Trung Hoa và Đại Việt đối với trường hợp Champa, có lẽ đã chưa phản ảnh chân xác bản chất thực sự của
hệ thống chính trị - kinh tế - văn hóa và tộc người của vương quốc cổ Champa.21
Dưới ảnh hưởng của sự thay đổi cách viết sử trong khu vực từ những năm 1970, việc nghiên cứu về lịch sử vương quốc Champa cũng đã có nhiều thay đổi đáng kể Những nhận thức cũ của các học giả tiên phong được các thế hệ nhà nghiên cứu kế tiếp
kế thừa và bổ xung thông qua việc cập nhật các nguồn tư liệu mới, cũng như là việc áp
dụng các mô hình lý thuyết mới hướng tới những nhận thức mang tính chân xác hơn về
một thể chế đã từng vận hành và đạt tới tầm mức của một nền văn minh ở miền Trung Việt Nam thời cổ xưa Khái niệm mandala Champa giờ đây được sử dụng rộng rãi trong
giới nghiên cứu và các tiểu vùng được ghi nhận trong lịch sử Champa như Amaravati hay
Vijaya được xem như các tiểu quốc, các nagara nằm trong hệ thống mandala Champa.22
21 Từ những năm 1970s, môi trường học thuật quốc tế nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á đã có những
thay đổi đáng kể, chuyển từ khuynh hướng ngoại sinh (externalist tendency) sang khuynh hướng nội sinh
(indigenous tendency) – trong đó thế hệ học giả mới xét lại những nghiên cứu trước đó của các học giả tiên phong thời thực dân, và đặc biệt nhấn mạnh tới việc sử dụng các nguồn tài liệu bản địa thay vì các nguồn tư liệu ghi chép phương Tây, đồng thời nhấn mạnh tới vai trò của các nhân tố nội sinh đối với sự phát triển của các thể chế trong khu vực thay vì quá nhấn mạnh tới các nhân tố ngoại sinh như trước đây Các khái niệm mới, mô hình mới vốn có nguồn gốc và hiện sinh tại chính khu vực Đông Nam Á thời cổ xưa đã được nghiên cứu và cổ xúy cho việc sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu về lịch sử các chính thể trong khu vực Chính trong bối cảnh đó, các khái niệm mới, mô hình mới đã được các học giả hàng đầu về Đông Nam Á
học đưa ra, như là khái niệm mandala, Negara để khảo tả cấu trúc và phương cách vận hành của các chính thể Đông Nam Á cổ xưa, hay mô hình “riverine exchange network” để nghiên cứu mô hình trao đổi kinh tế
đặc trưng mang tính phổ quát đối với các thể chể cận duyên ở Đông Nam Á
22 Giáo sư O.W Wolters là người đầu tiên đã giải thích mandala như là một thuật ngữ dùng để diễn tả một
hệ thống chính trị kinh tế đã được phát hiện tại hầu hết các quốc gia cổ ở Đông Nam Á Thuật ngữ mandala
cũng được sử dụng để miêu tả một trạng thái chính trị riêng biệt và thường là không ổn định trong một khu vực địa lý được xác định mơ hồ vì không có những đường ranh giới cố định, tại đó những trung tâm nhỏ
hơn vì lý do an ninh nên có xu hướng vươn ra mọi phía Các mandala sẽ mở rộng hay thu hẹp lại theo cách thức này Theo O.W Wolters thì mỗi mandala bao gồm một số chính quyền chư hầu (tributary rulers),
nhưng mỗi chư hầu như vậy có thể từ bỏ địa vị chư hầu của họ khi có cơ hội và nỗ lực xây dựng một mạng
lưới chư hầu của riêng họ, theo: O.W.Wolters, History, Culture and Region in Southeast Asian
Perspectives, Institute of Southeast Asian Studies, 1982 Có thể tham khảo thêm: Đỗ Trường Giang,
“Mandala trong nhận thức và cách nhìn của các học giả quốc tế”, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 2,
2009 Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cũng đã sử dụng nhiều thuật ngữ có gốc bản địa khác để chỉ về sự hình thành các nhà nước, các trung tâm và cấu trúc quyền lực của thế giới Đông Nam Á và coi các chính
thể tồn tại trong lịch sử cổ trung đại như là những chính thể thiên hà (galactic polity), chính thể mặt trời (solar polity), hay các negara, tham khảo các công trình nghiên cứu như: Geertz, Clifford Negara: The
Theatre State in 19th Century Bali Princeton: Princeton University Press 1980; và Lorraine Gesick (ed.) Centres, Symbols, and Hierarchies: Essays on the Classical States of Southeast Asia, Monograph No 26,
New Haven, Connecticut: Yale University Southeast Asia Studies
Trang 10Cách nhìn nhận như thế dẫn tới những cách diễn giải mới về lịch sử Champa khác so với những nhận thức đã được nêu lên bởi G.Maspero và các học giả tiên phong trước đây
Các nguồn tài liệu cổ bia ký và của Trung Hoa đều ghi nhận về việc hình thành của một trung tâm chính trị-tôn giáo-kinh tế mới trong lãnh thổ của mandala Champa từ cuối thế kỷ thứ X và đầu thế kỷ XI, cách xa trung tâm cũ ở vùng Amaravati về phía nam.23 Lịch sử Champa từ sau giai đoạn này cũng ghi nhận sự trội vượt và thống trị của
tiểu quốc Vijaya (nagara Vijaya – vùng Bình Định ngày nay) Người đứng đầu của
nagara Vijaya được chính sử Đại Việt và Trung Hoa xem như là Vua – người trị vì của
toàn bộ vương quốc Champa Sự hiện diện của cả một hệ thống các di tích thành cổ, đền tháp tôn giáo, lò gốm và cảng thị tại vùng Bình Định ngày nay đã là minh chứng rõ nét nhất cho sự phồn vinh và thịnh vượng của tiểu quốc Vijaya cho đến cuối thế kỷ XV
Như ở trên đã trình bày, trong suốt chiều dài lịch sử của mandala Champa cho đến cuối thế kỷ XV, nagara Amaravi (vùng châu thổ sông Thu Bồn – Quảng Nam) và
nagara Vijaya (vùng châu thổ sông Côn – Bình Định) luôn thể hiện vị thế vượt trội của
mình Từ cuối thế kỷ X đến cuối thế kỷ XV, đứng trước những thay đổi địa-chính trị và địa-kinh tế mang tính phổ quát trên toàn khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là áp lực của quốc gia Đại Việt đang lên ở phía Bắc và những biến chuyển của mạng lưới hải thương
khu vực, nagara Amaravati đã đánh mất vị thế của mình, và từ đây nagara Vijaya vươn
lên thể hiện vị thế trội vượt cả về mặt chính trị, tôn giáo, quân sự và kinh tế đối với các
tiểu quốc khác Sự trội vượt về mọi mặt của nagara Vijaya, một phần là do những cơ hội
mà môi trường khu vực và quốc tế mang lại, nhưng cơ bản và quan trọng hơn, đó là do nội lực và những nhân tố nội sinh vốn có của tiểu quốc này đã góp phần dẫn tới sự phồn vinh cho Vijaya
Nghiên cứu toàn diện lịch sử cổ xưa của mandala Champa, có thể nhận thấy, cùng với nagara Amaravati ở phía Bắc, thì nagara Vijaya được xem như một phức thể
23 Chúng ta biết được sự dịch chuyển kinh đô của Champa từ phía bắc về vùng Vijaya qua tư liệu Tống sử
Một phái đoàn triều cống của Champa năm 1007 đến triều đình nhà Tống đã tấu rằng “nước của thần trước
ở Jiaozhou, sau đó chuyển về Foshi, 700 dặm về phía nam vị trí cũ” Vùng đất Vijaya được gọi là Tân Châu
để phân biệt với Cựu Châu (Simhapura-vùng Quảng Nam) Tuy nhiên, dựa trên việc khảo sát lại các nguồn tài liệu bi ký của cả Champa và Angkor, cũng như đối chiếu với các tài liệu chính sử của Đại Việt và Trung Hoa, nghà nghiên cứu Vickery nêu lên quan điểm cho rằng, việc liên hệ giữa “Foshi/Phật Thệ” với Vijaya
là không chính xác, và theo ông thì, địa điểm Phật Thệ có thể là ở khu vực Đồng Dương (Quảng Nam) chứ
không phải là Bình Đình và Vijaya chỉ thực sự trở thành trung tâm của mandala Champa từ thế kỷ thứ XII với những ghi chép chính thức trong bi ký cổ Michael Vickery, “Champa revised”, Asia Research
Institute, Working paper series, no.37, 2005, tr.38-47
Trang 11(complex) toàn diện nhất với đầy đủ những tiềm năng nội lực và nhân tố ngoại sinh có
thể dẫn tới sự phồn vinh cho tiểu quốc này Cũng giống như hầu hết các tiểu quốc khác
thuộc mandala Champa, nagara Vijaya có sự hiện diện của ba không gian sinh thái chính, đó là không gian đồng bằng (plain space) ở trung tâm của nagara, không gian
thượng nguyên (highland space) ở vùng cao nguyên phía Tây, và cuối cùng là không gian duyên hải (coastal/litteral space) ở phía Đông.24
Mỗi một không gian như vậy có một đặc trưng riêng về địa lý môi sinh, môi trường hoạt động kinh tế của các cư dân bản địa và có những vai trò/chức năng khác nhau/và tương hỗ nhau trong việc đóng góp vào sự phát triển của toàn bộ chính thể Các không gian địa lý, các cộng đồng cư dân, các trung tâm kinh tế như vậy được kết nối với nhau và vận hành trong một tổng thể thống nhất và hài hòa
Ở trung tâm của phức thể ấy là một không gian đồng bằng rộng lớn, với trọng tâm
là kinh thành của hoàng gia – Thành Cha25
và thành Chà (Đồ) Bàn26, và một hệ thống các
24 Hầu hết các sử gia nghiên cứu về Đông Nam Á thường có nhận thức mang tính lưỡng phân (dichotomy)
về khu vực này, đặc biệt là vùng lục địa, bao gồm highland và lowland, điều này tương ứng với sự phân
chia về mặt xã hội trong nghành nhân học đối với những nền văn minh cận hải/ven sông (coastal/reverine
civilizations) của vùng lowland và/với người miền núi (hill peoples) ở inland/upland Tuy nhiên vùng bao
quanh Tonle Sap, vùng cao nguyên Khorat, vùng Thượng Miến, hay vùng Java lục địa, là vị trí của những
vùng trung tâm (core areas) của các thể chế trọng nông/hướng nông (rice-oriented) cổ xưa Bởi thế, giáo sư Fukui Hayao nhận xét rằng: nhìn từ khía cạnh địa lý học hay nhân học thì một sự nhận thức tam phân (trichotomy) bao gồm thượng lưu (highland), trung lưu (middleland) và hạ lưu (lowland) thì có vẻ hợp lý hơn là nhận thức lưỡng phân, tham khảo: Fukui Hayao, “An overview: The scope of the dry areas study”,
in trong: The dry areas in Southeast Asia: Harsh or benign environment, biên tập bởi Fukui Hayao, The
Center for Southeast Asia Studies (CSEAS), 1999, tr.3-4
25 Theo giáo sư Ngô Văn Doanh thì, “qua nghiên cứu tổng thể những di vật và di tích của Thành Cha, của các địa điểm liên quan xung quanh khu vực thành Cha, chúng tôi cho rằng, thành Cha có thể chính là thành Chà Bàn ban đầu Chỉ mãi sau này, do nhiều lí do, các vua chúa Champa đã xây dựng lại kinh đô Chà Bàn của mình, nhưng ở một địa điểm khác cách tòa thành cũ không xa… Các bằng chứng vật chất đã cho thấy thành Đồ Bàn có niên đại muộn hơn niên đại của Thành Cha chừng cả hơn trăm năm”, xem: Ngô Văn
Doanh, “Thành Cha-Thành Đồ Bàn ban đầu (qua những phát hiện mới), in trong Những phát hiện mới về
khảo cổ học năm 1996, Nxb Khoa học Xã hội, 1997, tr.821
26 Đại Việt Sử Ký Tiền biên chép về thành Đồ Bàn “Thành Đồ Bàn ở huyện Tuy Viễn, phủ Hoài Nhơn, tỉnh Quảng Nam, dựa vào núi Long Cốt làm thế vững Nay có 12 tòa tháp gọi là tháp Nữ Nhi”, Đại Việt sử ký
tiền biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, tr.414 Đồ Bàn Thành Ký cũng cung cấp những thông tin
chi tiết về thành Đồ Bàn: “Nói về quy chế và địa thế, thì thành Đồ Bàn, được xây dựng vào trung tâm của nước, tựa vào thế vững của núi Long cốt, non xanh bày hàng trước mặt nước biếc uốn réo chung quanh, thành xây hình vuông, tường xây bằng gạch, phía ngoài có lớp chông già, 4 mặt có mở 4 cửa, chu vi rộng hơn 10 dặm, có tháp đá để hộ vệ, không cần hào sâu mà vẫn kiên cố, bên trong co lầu các lan can, tháp núi
là từng án thứ nhất, bên hữu lấy núi Phong làm lũy, bên tả lấy bể làm hào, núi Cù Mông như rồng guộn khúc ở phía trước, bến Thạch Tân như cọp hùng cứ ở mặt sau, quả là nơi hiểm trở thiên nhiên vậy”, tham
khảo tư liệu “Đồ Bàn Thành Ký” in trong Tập San Sử Địa, số 19-20, Sài Gòn, 1970, tr.241-242
Trang 12đền tháp tôn giáo dày đặc và mang nét đặc trưng sâu sắc của tiểu quốc này.27
Các trung tâm chính trị và tôn giáo đó được bao bọc bởi một cộng đồng cư dân sinh tụ và phát triển trên một vùng đồng bằng trù phú, một bệ đỡ về lương thực cho cả vùng Vijaya.28
Xét trong bối cảnh chung của khu vực Đông Nam Á cổ xưa, việc tự cung cấp lúa gạo có thể được coi như một nhân tố nội tại quan trọng để duy trì sự phát triển và thịnh vượng của
một cộng đồng cư dân, hay rộng lớn hơn là của cả một mandala29
Đặc biệt đối với các cảng thị, các thương nhân quốc tế trong quá trình giao thương thường ở lại Đông Nam Á một thời gian dài để đợi gió mùa, bởi vậy một cảng thị có nguồn cung cấp hoa lợi nông nghiệp được coi là thiết yếu đối với thành công của chúng Sự phồn vinh trong một thời gian dài của mandala Phù Nam ở Đông Nam Á được cho là có sự đóng góp quan trọng của năng xuất nông nghiệp cao và ổn định ở châu thổ sông Mê Kông, dẫn tới sự vượt trội vủa Phù Nam so với các tiểu quốc khác đương thời Một ví dụ khác có thể kể đến, đó là thịnh vượng và trội vượt của Srivijaya Palembang đối với các đối thủ ven biển Sumatra khác là bởi nguồn cung cấp lúa gạo từ vùng đồng bằng tương đối rộng lớn dọc theo sông
27 Đại Nam Nhất Thống Chí chép về các di tích Champa tại Bình Định: “Tháp cổ Chiêm Thành: có 8 cái: 1)
Tháp Dương Long, ở thôn Vân Tường huyện Tuy Viễn 2) Tháp Đồng, ở thôn Thủ Lương, 3) Tháp Cánh Tiên ở thôn Nam An, 4) Tháp Đôi, ở thôn Hưng thịnh huyện Tuy Phước, 5) Tháp Thanh trúc, thôn Bình Lâm, 6) Tháp Long Triều ở thôn Xuân Mỹ, 7) tháp Thị Thiện, có 4 cái ở trên núi đất chỗ giáp giới bốn thôn Đại Lộc, Hoàng Kim, Vạn Bảo và Phong niên, 8) Tháp Phúc Lộc, ở trên núi đất chỗ giáp giới hai thôn Phú
Thành và Châu Thành huyện Phù Cát”, xem: Viện Sử Học, Đại Nam Nhất thống Chí, tập III, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tr.36; tham khảo thêm công trình khảo sát của Lê Đình Phụng, Di tích văn hoá
Champa ở Bình Định, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 2002 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã
khảo sát các dấu tích vật chất của nền văn hoá Champa còn tồn tại ở vùng Vijaya xưa (nay là tỉnh Bình Định) và cho biết tại Bình Định hiện còn dấu tích của bảy cụm tháp cổ, bao gồm mười ba tháp cổ, phân bố dọc theo các nhánh của sông Côn
28
Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì đồng bằng lưu vực sông Côn “ruộng đất màu mỡ rộng rãi, xưa gọi là
“Tiểu Nông trại”, nhân dân đông, phẩm vật nhiều, thuyền xe tụ tập, buôn bán đông vui, trong ngoài sông
núi bao vây, đánh hay giữ hai đường đều tiện, thật là đất xung yếu ở Tả kỳ vậy”, theo Đại Nam Nhất thống
Chí, sđd, tr.11-12 Bên cạnh đó Đại Nam Nhất thống Chí cũng cung cấp các thông tin khác cho thấy độ trù
mật của cư dân và mức thuế đối với cư dân vùng Bình Định: về hộ khẩu thì “năm Gia Long thứ 18, số đinh hơn 38.400 người, nay 57.349 người”, về thuế ruộng “Ruộng đất 107.705 mẫu, ngạch thuế là: 79.850 hộc
thóc, 123.698 quan tiền, 11 lạng đồng và 2 phân vang, 4.898 lạng bạc”, theo Đại Nam Nhất thống Chí, sđd,
tr.16 Để có một cái nhìn đối sánh và thấy được sự trội vượt về mọi mặt của vùng Đồng Bằng Bình Định,
chúng ta có thể xem các thông tin cũng được cung cấp trong Đại Nam Nhất thống Chí, chẳng hạn ở Phú
Yên: “Hộ khẩu: Năm Gia Long thứ 18, số đinh có 7.651 người, nay 10.465 người”, “Thuế ruộng: ruộng đất
27.963 mẫu linh, ngạch thuế là 14.620 hộc thóc, 13.786 quan tiền” theo Đại Nam Nhất thống Chí, sđd,
tr.64; ở Khánh Hòa: “Hộ khẩu: Đời Gia Long, số đinh hộ 5.000 người, nay 8.563 người”, “Tô ruộng: ruộng
đất 12.593 mẫu, ngạch thuế là 6.539 hộc thóc, 16.431 quan tiền, bạc 111 lạng”, theo Đại Nam Nhất thống
Chí, sđd, tr.64
29 Fukui Hayao, “An overview: The scope of the dry areas study”, tlđd, tr.9-10