Chính vì vậy, để làm sáng tỏ thêm về vấn đề này em xin chọn đề tài “Thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” nghiên cứu làm tiểu luận kết thúc học phần môn Những quy định chung
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ,
TÀI SẢN VÀ THỪA KẾ
THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG CỦA
DI CHÚC
Người thực hiện: Đặng Thanh Hải MSSV: 2053801011074
Lớp: 114-TM45.1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 Phần mở đầu 1
2 Nội dung nghiên cứu 2
2.1 Khái quát chung về thừa kế và những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam 2
2.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 2
2.1.1.1 Khái niệm thừa kế 2
2.1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế 2
2.1.2 Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam 3
2.1.3 Khái niệm và đặc điểm của di chúc 3
2.1.3.1 Khái niệm của di chúc 3
2.1.3.2 Đặc điểm của di chúc 4
2.2 Thực trạng và một số vấn đề lý luận về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 4
2.2.1 Cơ sở quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 4
2.2.2 Chủ thể và những bất cập về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 6
2.2.3 Điều kiện hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 7
2.2.4 Nghĩa vụ của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 7
2.2.5 Cách xác định kỷ phần bắt buộc của người được hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc 8
2.2.6 Ý nghĩa của việc quy định những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 9
2.3 Thực tiễn của quy định thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc .10 2.3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc và một số vấn đề còn vướng mắc 10
2.3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 12
3 Phần kết luận 14
Trang 3BLDS Bộ luật Dân sự
Trang 41 Phần mở đầu
Pháp luật thừa kế là một phần quan trọng trong Bộ luật Dân sự Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền của công dân Chính vì vậy, thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội Mỗi nhà nước dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và được ghi nhận trong Hiến pháp
Những quy định về pháp luật thừa kế trong Bộ luật Dân sự đã góp công sức không nhỏ trong việc ổn định và phát triển đời sống xã hội trong nhiều năm qua Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự phát triển ngày càng đa dạng của các quan hệ xã hội, các vấn đề tranh chấp về thừa kế ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về nội dung, bởi vì giá trị của di sản thừa kế không chỉ đơn thuần là là tài sản thông thường phục vụ sinh hoạt tiêu dùng mà là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, vốn đầu tư, cổ phần, cổ phiếu Nói đến thừa kế chắc hẳn ai cũng nghĩ tới người thừa kế theo pháp luật hay người thừa kế theo di chúc Tuy nhiên có một loại thứ ba, vừa không phải là người thừa kế theo pháp luật cũng không phải người theo di chúc đó là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (Điều 644) Đây là một vấn đề quan trọng nhưng khá phức tạp của chế định thừa kế
Chính vì vậy, để làm sáng tỏ thêm về vấn đề này em xin chọn đề tài “Thừa kế không phụ thuộc vào
nội dung của di chúc” nghiên cứu làm tiểu luận kết thúc học phần môn Những quy định chung về
Luật dân sự, tài sản và thừa kế
Trang 52 Nội dung nghiên cứu
2.1 Khái quát chung về thừa kế và những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam
2.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế
2.1.1.1 Khái niệm thừa kế
Theo giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và thừa kế của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì thừa kế được hiểu dưới nhiều phạm trù khác nhau:
Thứ nhất, thừa kế là một phạm trù lịch sử bởi lẽ đây là một vấn đề gắn liền với lịch sử loài người, kể
cả trước khi xuất hiện giai cấp và nhà nước
Thứ hai, thừa kế là một phạm trù kinh tế Thừa kế chính là tiếp nối quá trình luân chuyển tài sản
giữa các thế hệ, các tài sản này tiếp tục được chiếm hữu, sử dụng trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng
Thứ ba, thừa kế là một phạm trù pháp lý mà nội dung của nó xác định phạm vi các quyền, nghĩa vụ
của các chủ thể trong quan hệ nhà nước bảo đảm thực hiện
Theo giáo trình Luật Dân Sự của trường đại học Luật Hà Nội thì: “Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định đồng thời quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế”
Theo Bình luận khoa học BLDS năm 1995 của Bộ Tư Pháp thì: “Thừa kế thường được hiểu là người sống thừa hưởng tài sản của người đã qua đời Việc thừa kế chỉ được thực hiện khi người có tài sản chết”.1
Như vậy, khái niệm về thừa kế là việc di chuyển tài sản của người chết cho người sống được thực hiện dựa trên mối quan hệ về huyết thống, dòng tộc hoặc quan hệ về nuôi dưỡng Từ khái niệm về thừa kế hình thành lên các quyền về thừa kế
2.1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế
Quyền thừa kế cần được hiểu theo hai phương diện: khách quan và chủ quan
- Về phương diện khách quan: Quyền thừa kế được hiểu là tổng hợp các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản (di sản) của người chết cho người còn sống
- Về phương diện chủ quan: Quyền thừa kế được hiểu là quyền dân sự cơ bản của công dân được để lại tài sản của mình cho những người còn sống và quyền của công dân được nhận di sản theo sự định đoạt của người có tài sản (bằng di chúc) hoặc theo một trình tự và thủ tục pháp luật nhất định (thừa kế theo pháp luật)
1 Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.13.
Trang 6Ngoài ra, dưới góc độ pháp lý thì quyền thừa kế còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự Quan hệ này bao gồm chủ thể, khách thể và nội dung Đây là một loại quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh và có mối quan hệ mật thiết với quan hệ sở hữu
2.1.2 Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam
Nguyên tắc thừa kế là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật thừa kế
Những nguyên tắc pháp luật thừa kế ở Việt Nam được áp dụng chung cho cả hai hình thức thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật đã xuất hiện ngay từ khi có những văn bản pháp luật đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, có thể kể đến cụ thể như sau:
Thứ nhất, nguyên tắc pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân:
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được nhà nước bảo hộ Quy định này
đã được khẳng định tại Điều 32 Hiến pháp 2013" Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và
quyền thừa kế của công dân" Trên cơ sở đó, Điều 609 BLDS năm 2015 đã xác định rõ nội dung của
quyền này Thậm chí là quyền từ chối nhận di sản thừa kế, được quy định tại khoản 1 Điều 620
BLDS năm 2015: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm
trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác"
Thứ hai, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về thừa kế:
Nguyên tắc này là sự cụ thể hóa một phần của nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 16 Hiến
Pháp 2013: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” Từ sự quy định mang tính khái quát đó, nên trong chế định riêng về thừa kế đã xác định rõ nội dung của nguyên tắc này là: “Mọi cá nhân
đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc
Tóm lại, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền thừa kế, là một nguyên tắc cơ bản trong pháp luật thừa kế ở Việt Nam Nó không những phản ánh chế độ chính trị nói chung mà điều quan trọng
là nhằm đảm bảo sự bình đẳng của mọi công dân trong lĩnh vực về thừa kế, tạo được sự đoàn kết tốt giữa các thành viên trong gia đình, góp phần xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc, bền vững
2.1.3 Khái niệm và đặc điểm của di chúc
2.1.3.1 Khái niệm của di chúc
Việc chuyển dịch tài sản của người đã chết cho người còn sống có thể được thực hiện theo ý chí của người để lại di sản (thừa kế theo di chúc) nhưng cũng có thể được thể hiện thông qua ý chí của nhà nước (thừa kế theo pháp luật) Xét về cơ sở hình thành thì thừa kế theo di chúc xuất hiện sau thừa kế theo pháp luật Vậy di chúc và thừa kế theo di chúc là gì?
2 Điều 610 BLDS năm 2015.
Trang 7Theo Điều 624 BLDS năm 2015 thì “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản
của mình cho người khác sau khi chết” Như vậy, di chúc là sự bày tỏ ý chí của một người định đoạt
tài sản của mình để cho ai, tặng cho ai sau khi chết, đây là ý chí mang tính đơn phương của người lập di chúc Sự bày tỏ được thể hiện bằng văn bản được gọi là di chúc viết tay hay còn gọi là chúc thư hoặc bằng miệng thường là lời trăn trối trước khi chết Di chúc được thể hiện dưới hai hình thức
là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng.3 Pháp luật chỉ cho phép lập di chúc miệng trong những trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 629 BLDS năm 2015
Theo quy định của BLDS Pháp thì di chúc có nhiều điểm tương tự như pháp luật dân sự nước ta, được thể hiện:
Điều 895 quy định: “Di chúc là một chứng thư theo đó người để lại di chúc định đoạt sau khi chết,
một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình, người đó có thể hủy bỏ di chúc”.
Pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp còn quy định hình thức của di chúc bí mật Bản chất của di chúc bí mật tương tự như di chúc lập tại công chứng nhà nước ở nước ta, nhưng có thủ tục chặt chẽ hơn
2.1.3.2 Đặc điểm của di chúc
Di chúc có những điểm riêng biệt so với các giao dịch dân sự khác ở những điểm như sau:
Thứ nhất, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phương của cá nhân.
Thứ hai, di chúc nhằm chuyển dịch di sản của người chết cho người khác đã được xác định trong di
chúc
Thứ ba, di chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi người xác lập ra di chúc đã chết.
2.2 Thực trạng và một số vấn đề lý luận về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 2.2.1 Cơ sở quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc lần đầu tiên được quy định trong Thông tư 81 ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao Theo Thông tư này, nếu bằng
di chúc người có di sản định đoạt, vì lợi ích của người khác, một phần tài sản lớn hơn giá trị của di sản trừ đi giá trị các “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thì các phần di sản được hưởng theo di chúc sẽ bị cắt giảm theo yêu cầu của những người này Những người “thừa kế bắt buộc” bao gồm vợ, chồng, con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bố mẹ già yếu và túng thiếu Phần này được ấn định bằng hai phần ba suất của một người thừa
kế theo pháp luật
Kế thừa các quy định tại Thông tư 81, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 bổ sung: 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật được tính bằng cách giả định toàn bộ di sản được chia theo pháp luật (Điều
3 Điều 627 BLDS năm 2015.
Trang 820) Pháp lệnh cũng thay cụm từ “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thành “những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc”
Sau Pháp lệnh Thừa kế, BLDS 1995, 2005 và 2015 tiếp tục quy định về vấn đề này Cụ thể, Điều
644 BLDS năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau:
“1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
2 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”.
Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng 2/3 một suất theo pháp luật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật Mục đích của quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của cha, mẹ, vợ, chồng, con của người để lại di sản trước những quyết định bất lợi đối với họ Đây đều là những người có mối quan hệ thân thiết gần gũi nhất với người để lại di sản Nếu những người này, vì một lý do nào đó mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ bổn phận của mình thì pháp luật bằng những quy định của mình sẽ ấn định cho những người có quan hệ gần gũi với người này luôn được hưởng một phần di sản từ khối
di sản của người đó để lại Đó chính là phần di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là một phần di sản được trích ra từ khối tài sản của người chết để lại sau khi đã thanh toán xong các nghĩa vụ về tài sản Mỗi nước có một chính sách riêng về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc và còn phụ thuộc vào từng thời kỳ
Ở Thụy Sĩ, trước đây người được hưởng chế định này là con, chắt, bố, mẹ, ông, bà và có thể là vợ, chồng còn sống của người để lại di sản Tuy nhiên từ năm 2007, bố mẹ, ông bà, không được bảo vệ bởi chế định này nữa trong pháp luật Thụy Sĩ Ở Việt Nam, trong quá trình sửa đổi BLDS, có ý kiến
cho rằng đây không phải là “những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất”.
Cuối cùng, theo BLDS hiện hành, người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di
chúc chỉ bao gồm “con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng” và “con đã thành niên mà không còn
khả năng lao động” Như vậy, không phải ai trong hàng thừa kế thứ nhất cũng được hưởng thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung của di chúc mà chỉ một số người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được bảo vệ bởi chế định này
Trang 92.2.2 Chủ thể và những bất cập về thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Trong số những người nêu trên, không phải trong mọi trường hợp họ được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc Bởi lẽ, tại khoản 2 Điều 644 BLDS năm 2015 theo đó "quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc
họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.” Với quy định trên, người thuộc diện nêu trên từ chối nhận di sản sẽ không được bảo vệ bởi chế định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
- Về chủ thể và điểm bất cập của các chủ thể hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di
chúc
Thứ nhất, con chưa thành niên của người để lại di sản
+ Cần xác định tuổi chưa thành niên tại thời điểm người có di sản lập di chúc, tại thời điểm
mở thừa kế hay tại thời điểm chia di sản? Trong thực tế, có Tòa án theo hướng xác định tuổi của người chưa thành niên ở thời điểm lập di chúc trong khuôn khổ thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
+ BLDS không nói rõ về vấn đề này Thiết nghĩ, giải pháp thuyết phục là xác định tuổi tại thời điểm mở thừa kế vì lúc này di chúc mới có hiệu lực và khả năng chia di sản mới có thể được tiến hành
Thứ hai, con đã thành niên mà không có khả năng lao động
+ Về thời điểm xác định tuổi, chúng ta cũng nên áp dụng như trên là xác định ở thời điểm mở
thừa kế Đối với khái niệm “không có khả năng lao động”, BLDS không cho biết đó là
những trường hợp nào trong Thừa kế
+ Khả năng lao động của cá nhân biến động theo thời gian nhưng văn bản vẫn chưa làm rõ việc xác định khả năng lao động của người con đã thành niên dựa vào những thông tin ở thời điểm nào (thời điểm lập di chúc, thời điểm mở thừa kế hay thời điểm chia di sản) Ở đây, sẽ
là thuyết phục khi chúng ta căn cứ vào thông tin ở thời điểm mở thừa kế
Thứ ba, vợ chồng của người để lại di sản
+ Với quy định này, “bất luận trong mọi trường hợp vợ, chồng của người chết đều được
chồng của người lập di chúc tại thời điểm mở thừa kế Nhưng được hưởng sự bảo vệ của quy định này thì phải là vợ, chồng hợp pháp của người lập di chúc
Thứ tư, cha mẹ của người để lại di sản
4 Phạm Văn Tuyết: Thừa kế, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, Sđd, tr 211.
Trang 10+ Với quy định này, “bất luận trong mọi trường hợp bố, mẹ của người chết đều được hưởng
một phần di sản” Hơn hết, cá nhân có thể có cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi và cha mẹ vợ/chồng.
Trong thừa kế theo pháp luật, hàng thừa kế thứ nhất chỉ bao gồm “cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi”
của người để lại di sản (không có cha mẹ vợ/chồng) Trong phần thừa kế không phụ thuộc
vào nội dung của di chúc, BLDS chỉ nêu “cha, mẹ” mà không nói rõ là cha mẹ để, cha mẹ
nuôi nên chúng ta suy luận là cha mẹ để, cha mẹ nuôi đều được bảo vệ bởi chế định mà chúng ta đang nghiên cứu (nhưng không bao gồm cha mẹ vợ/chồng)
2.2.3 Điều kiện hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Không phải tất cả những người ở hàng thừa kế thứ nhất của người để lại di sản đều là người được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc; để được nhận phần di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc những người này còn phải thỏa mãn các điều kiện:
- Người lập di chúc không cho họ hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật (2/3 một suất theo luật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật)
- Không thuộc trường hợp những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 BLDS năm 2015
- Không thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015
Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nói trên, thì những người này sẽ được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật mặc dù họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản
Như vậy, qua Điều 644 BLDS năm 2015, có thể thấy: một phần pháp luật tôn trọng ý chí của người
để lại di sản, nhưng mặt khác, chính pháp luật lại hạn chế quyền định đoạt ấy nếu người để lại di sản còn có những người mà khi họ sống họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc Vì thế, có thể nói rằng sự quy định trên của pháp luật là sự dung hòa giữa phương tiện kinh tế và phương tiện đạo đức
2.2.4 Nghĩa vụ của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc
Nhận phần di sản được hưởng không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, người thụ hưởng có nghĩa
vụ thanh toán nợ di sản như tất cả những người thừa kế khác, họ tiếp nhận không chỉ 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật mà họ còn cả 2/3 suất đó trong tập hợp các khoản nợ
2.2.5 Cách xác định kỷ phần bắt buộc của người được hưởng di sản không phụ thuộc vào di chúc
Để xác định một suất thừa kế theo pháp luật thì về nguyên tắc, một suất thừa kế theo pháp luật là kết quả của một phép chia, trong đó số bị chia là tổng giá trị di sản thừa kế mà như đã xác định thì di