1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

DAO TO NGUN NHAN LC DU LCH VIT NAM

20 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 641,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lê Thế Hiển Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh Email: hienlt@uef.edu.vn TÓM TẮT: trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và quá trình toàn cầu hóa đã và đa

Trang 1

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM HƯỚNG ĐẾN TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP

CỘNG ĐỒNG ASEAN: THỜI Ơ VÀ THÁCH THỨC

ThS Lê Thế Hiển

Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh

Email: hienlt@uef.edu.vn

TÓM TẮT: trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 và quá

trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra nhanh chóng, mạnh mẽ trong nhiều lĩnh vực, cùng với sự ra đời của Cộng đồng ASEAN năm 2015 và những thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội nổi bật của Việt Nam, chất lượng nguồn nhân lực nói chung và của bậc giáo dục đại học nói riêng đang đặt ra nhiều vấn đề đ ng quan tâm cho toàn xã hội Bài viết trình bày những vấn đề lý thuyết và thực tiễn về thời cơ và thách thức của công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch tại Việt Nam, dưới góc nhìn đa chiều của giáo dục học, xã hội học, du lịch học và quản trị học Thông qua việc đ nh giá những thời cơ thuận lợi cùng với các thế mạnh của giáo dục đại học Việt Nam, xem xét những lợi thế so sánh với các nước Đông Nam Á, tác giả nhận định và phân tích thực trạng “v a thiếu lại v a yếu” về mặt chất lượng lẫn số lượng của sinh viên ngành du lịch và lực lượng lao động ngành du lịch tại Việt Nam hiện nay Qua đó, tác giả đề xuất một số ý kiến đóng góp cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam

hướng tới việc chuẩn hóa và đ p ứng nhu cầu hội nhập khu vực

Từ khóa: nguồn nhân lực du lịch, giáo dục đại học, hội nhập quốc tế,

cộng đồng ASEAN

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Nguồn nhân lực du lịch ngày càng khẳng định vai trò quan trọng và là nhân

tố chủ chốt quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển ổn định về mặt văn hóa - xã hội của đất nước, trong đó có sự phát triển của du lịch - ngành mũi nhọn, động lực phát triển kinh tế quốc gia

Trang 2

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII đ xác định “ ây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước nói chung và từng ngành, lĩnh vực nói riêng, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho công tác giáo dục và đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh.” Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 16/01/2017 đ xác định “phát triển nguồn nhân lực du lịch

là vấn đề cấp bách và cần thiết nhằm hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030

để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” Mới đây, tháng 04/2021, Tổng cục Du lịch cũng đ xây dựng và trình bày dự thảo hương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế–xã hội giai đoạn 2021–2025 trong lĩnh vực du lịch Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lưu ý việc chú trọng nhóm giải pháp về thể chế chính sách, đặc biệt là chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp, cộng đồng tham gia du lịch để phục hồi sau đại dịch Covid-19, nhóm giải pháp công nghệ và số hoá trong du lịch, cải thiện hạ tầng du lịch, phát triển sản phẩm du lịch đặc th

Nhìn rộng hơn, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đ và đang diễn ra nhanh chóng, ảnh hưởng sâu rộng trong nhiều lĩnh vực góp phần định hình rõ nét cho du lịch Việt Nam mang nhiều đặc điểm, tính chất và đặt ra yêu cầu mới trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và hội nhập liên minh khu vực Đông Nam Á Kể từ năm 1986, Đảng và Nhà nước Việt Nam đ tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa và tăng cường, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại” Đến nay, du lịch Việt Nam đ kịp thời bắt nhịp và sớm có nhiều hoạt động hợp tác quốc tế hiệu quả, thiết thực tại khu vực châu Á - Thái Bình ương và nhiều các quốc gia đối tác chiến lược trên thế giới Hợp tác khu vực với khối ASEAN của ngành

du lịch Việt Nam chính thức bắt đầu từ Hội nghị Thượng đỉnh Bangkok

1995 Hội nhập quốc tế về du lịch của Việt Nam thời gian qua được triển khai theo hướng thúc đẩy ký kết và thực hiện các hiệp định thỏa thuận hợp tác cấp chính phủ, cấp ngành song phương và đa phương, tranh thủ hợp tác,

hỗ trợ của các nước thông qua các chương trình, dự án cụ thể và các cam kết

mở cửa tự do hóa thương mại dịch vụ du lịch trong các khuôn khổ WTO,

Trang 3

ASEAN, APEC, ASEM, GMS Chúng ta đều đang kỳ vọng rằng Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ giúp tạo ra một nền kinh tế mở, đổi mới, cạnh tranh và năng động, một cộng đồng văn hóa-xã hội có tính gắn kết và chia sẻ cao, lấy người dân làm trung tâm và hướng đến các xã hội văn minh, hiện đại, phồn vinh và thịnh vượng Cụ thể, Việt Nam đ ký Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau

về nghề du lịch trong ASEAN (MRA-TP 2009) để làm cơ sở cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch nước nhà đồng thời tạo thuận lợi cho việc chuyển dịch lao động trong khu vực Đông Nam Á Theo đó, các yếu tố nền tảng và mục tiêu cơ bản đ được đặt ra cho các quốc gia Đông Nam Á đó là: (1) Đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo điều kiện cho nghiên cứu và phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, thương mại hoá sản phẩm; (2) Phát triển hạ tầng kết nối, xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu lớn (big data) bao gồm hạ tầng kỹ thuật số, kết nối Internet tốc độ cao; (3) Phát triển nền kinh tế tri thức, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng về số lượng cho thị trường lao động trong nước và cả xuất khẩu nước ngoài

2 Ơ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

2.1 Các văn bản pháp luật của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và du lịch

Sự nghiệp giáo dục đại học từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đ trải qua quá trình gần 80 năm hình thành và phát triển, đ gặt hái được nhiều thành tựu to lớn, trong đó quan trọng nhất là đ góp phần tạo ra các thế hệ nguồn lực con người Việt Nam - nhân tố quyết định thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, vấn đề đổi mới nền giáo dục nước nhà, trong đó có giáo dục đại học nói riêng, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Văn kiện Đại hội XI của Đảng năm 2011 khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” Luật Giáo dục năm 2012 đ nhấn mạnh sự thay đổi rõ rệt: “ ác định quan niệm, mục đích của giáo dục đại học là đào tạo nhân tài”

Trang 4

Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng đ đề ra 9 mục tiêu và định hướng giải pháp nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 22/06/1993 của Thủ tướng Chính phủ cũng đ xác định phương hướng, nhiệm vụ của ngành Du lịch cần: “đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học phát triển du lịch” Bên cạnh đó, Chiến lược Phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (theo Quyết định số 2473- Đ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30/12/2011) cũng đặt mục tiêu cụ thể về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch là phải “đa dạng hóa phương thức đào tạo, khuyến khích đào tạo tại chỗ, tự đào tạo theo nhu cầu của các doanh nghiệp”

Trên cơ sở đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đ ban hành Quyết định số 3066/ Đ-BVHTTDL ngày 29/09/2011 phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Du lịch giai đoạn 2011-2020, trong đó đặt ra mục tiêu tạo ra 3 triệu việc làm, với khoảng 870.000 việc làm trực tiếp và tỷ lệ tăng bình quân mỗi năm 6% Đây được xem là ước đi đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển nhân lực quốc gia đến năm 2020 trong lĩnh vực du lịch, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch 5 năm phát triển nhân lực ngành du lịch trong giai đoạn 2011-2020 và tương lai sau này

Gần đây nhất là Nghị quyết số 45/NQ-CP ban hành ngày 16/04/2021 công bố kết luận sau phiên họp triển khai công việc của Chính phủ sau khi được kiện toàn tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIV, chỉ đạo thực hiện hai nhiệm vụ trọng tâm: “tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển nền kinh tế số, xã hội số” và “phát huy giá trị văn hóa và con người Việt Nam trở thành nguồn lực, động lực quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội”

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, vấn đề đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) là phải đổi mới từ một nền giáo dục nặng về lý thuyết, trang bị kiến thức nền tảng cho người học sang nền giáo dục giúp phát triển

kỹ năng, thúc đẩy tư duy đổi mới sáng tạo Ở thế kỷ XXI, các cơ sở giáo dục

Trang 5

đại học sẽ không còn chỉ là thầy, trò, giảng đường, thư viện, các phòng thí nghiệm mà sẽ là môi trường sinh thái với ba đặc trưng cốt lõi xuyên suốt

và tác động lên mọi hoạt động của nhà trường là: số hóa, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo theo phương châm giáo dục khai phóng, lấy người học làm trọng tâm, tích cực chủ động và phát triển bền vững Chuẩn đầu ra của quá trình đào tạo trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 là nguồn nhân lực có năng lực, tinh thần đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp Trước xu thế và nhu cầu cấp thiết

đó, Thủ tướng Chính phủ đ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 và Quyết định số 67 / Đ-TTg ngày 30/11/2018 về việc phê duyệt “Đề án tổng thể ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực du lịch giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 202 ” Đây là những chính sách nền tảng mang tính định hướng quan trọng cho ngành du lịch nhằm hiện thực hóa các mục tiêu do Nghị quyết số 08-NQ/TW đ đề ra

2.2 Một số lý luận, quan điểm về nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao và công dân toàn cầu

Theo Liên hợp quốc: “ guồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng” Giáo trình Nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Lao động Xã hội (2005) đưa ra định nghĩa “ guồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây

là nguồn nhân lực xã hội” GS Phạm Minh Hạc (1996) nêu quan điểm về nguồn nhân lực chất lượng cao phải là “đội ngũ lao động có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta” Còn Phạm Thị Khanh (2021) thì cho rằng nguồn nhân lực chất lượng cao là “nguồn nhân lực

có khả năng (hay năng lực) tạo ra những sản phẩm hàng hóa có giá trị gia tăng cao, sức cạnh tranh tốt, đảm bảo cho nền kinh tế hội nhập sâu rộng và hiệu quả vào nền kinh tế thế giới”

Theo Tổ chức Giáo dục và phát triển quốc tế của Úc, “ ông dân Toàn cầu - Global itizen” là một khái niệm mới, nhưng vẫn được hình thành trên nền tảng của khái niệm thời cổ đại: một công dân toàn cầu là bất kỳ một cá nhân

Trang 6

nào có mong muốn đóng góp cho thế giới trở nên tốt đẹp hơn” Richard (2014) cho rằng “chúng ta phải phát triển hiểu biết và thể chế chính trị trên khắp hành tinh, theo cách mà mỗi chúng ta trước tiên phải là một công dân toàn cầu Parker, Ninomiya & Cogan (1999) đ đưa ra nhận định về những đặc điểm của một “ ông dân toàn cầu” như sau:

- Có khả năng xác nhận các vấn đề trên toàn cầu cũng như tại địa phương

- Khả năng cùng làm việc với mọi người một cách hợp tác và chịu trách nhiệm

- Khả năng hiểu, chấp nhận, trân trọng và khoan dung với các khác biệt văn hóa

- ăng lực tư duy một cách hệ thống và có tính phản biện

- Quyết tâm giải quyết mâu thuẫn theo những phương cách phi bạo lực

- Quyết tâm tham gia các hoạt động chính trị tại địa phương, quốc gia và toàn cầu

- Quyết tâm thay đổi lối sống và thói quen tiêu dùng để bảo vệ môi trường

- Khả năng nhạy bén và hiểu biết cũng như bảo vệ quyền con người Công trình nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh hội nhập của PGS.TS Phạm Trung Lương (2016) đ khái quát hóa về công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch hiện nay và phân tích những ảnh hưởng của quá trình hội nhập khu vực ASEAN đến hoạt động du lịch ưới tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 nhiều lĩnh vực du lịch mới ra đời (như du lịch trực tuyến, du lịch thông minh, du lịch công nghệ 4.0) đem lại hiệu quả vượt trội so với trước đây Bài viết của tác giả Trần Văn Anh và Hà Thị Hải (2019) tập trung phân tích những tiêu chuẩn, tiêu chí của nguồn nhân lực du lịch trong thời kỳ hội nhập, từ đó xác định vai trò của nhà trường và doanh nghiệp trong sứ mệnh phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch Việt Nam Trong kỷ yếu hội thảo “ hát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế” tại TP Hồ Chí Minh năm 2019, PGS.TS Lê

Trang 7

Anh Tuấn đ phân tích các vấn đề về chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực du lịch, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đ đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển ngành du lịch nhưng còn nhiều vấn đề tồn tại Bàn về những hạn chế và lợi thế của công tác giáo dục và hoạt động đào tạo nguồn nhân lực du lịch, TS Vũ Văn Viện (2020) đ đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường tính liên kết giữa

cơ sở đào tạo và doanh nghiệp du lịch nhằm nâng cao chất lượng lao động và đáp ứng yêu cầu hội nhập trong giai đoạn hiện nay

3 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH CỦA VIỆT NAM 3.1 Những ưu điểm và mặt hạn chế

ăm 2019, theo công bố của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Chỉ số ăng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI9) của Việt Nam đạt 61,5/100 điểm, xếp vị trí 67 trên tổng số 141 quốc gia và nền kinh tế So với năm 2018, Chỉ số GCI của Việt Nam tăng 3,5 điểm và xếp hạng tăng 10 bậc, mức tăng cao nhất trên thế giới trong năm qua (Chu Thị Thảo, 2019) Theo báo cáo thường niên năm

2019 của Tổng cục Du lịch, trước khi xảy ra đại dịch SARS-CoV 2, toàn ngành đ đóng góp trên 9,2% vào GDP cả nước; tạo ra 2,9 triệu việc làm, trong đó có 927.000 việc làm trực tiếp Tính chung trong giai đoạn

2015-2019, ngành du lịch nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao 22,7%

Hiện nay, cả nước có hơn 190 cơ sở đào tạo du lịch và tham gia giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp du lịch ở trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ cấp và đào tạo ngắn hạn, cả nước có 62 trường đại học, 80 trường cao đẳng, trong đó có 8 trường cao đẳng nghề, 117 trường trung cấp, trong đó có 12 trường trung cấp nghề, 2 công ty đào tạo và 23 trung tâm có tham gia đào tạo nghiệp vụ du lịch hư vậy, hàng năm, các cơ sở đào tạo chỉ có thể cung cấp khoảng 2.000 sinh viên cử nhân đại học, 3.000 sinh viên cao đẳng, còn lại là học viên trung cấp nghề (hệ ngắn hạn) Điều này còn quá ít ỏi cả về số lượng lẫn chất lượng đối với nhu cầu xã hội về nguồn lao động trực tiếp lẫn gián

9 hỉ số G I được F sử dụng như một công cụ để đo lường các yếu tố inh tế vi mô và vĩ mô ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh quốc gia, những điểm mạnh, điểm yếu của các nền inh tế

Trang 8

tiếp trong ngành du lịch tại Việt Nam Tổng cục Du lịch Việt Nam dự báo: với đà tăng trưởng hiện tại, mỗi năm ngành du lịch cần có thêm 40.000 lao động nhưng thực tế, các trường chỉ có thể cung cấp tối đa là 15.000 lao động, trong đó chỉ hơn 1,2% có trình độ tốt nghiệp đại học, cao đẳng ăm 2025 số lao động các loại làm việc trực tiếp trong ngành du lịch ước tính theo nhu cầu

dự báo là trên 1.165.000 người với tốc độ tăng trưởng là 6,2% năm (Bảng 1)

Bảng 1 Nhu cầu nhân lực trực tiếp trong ngành du lịch đến năm 2020

2010

2015

Tăng trưởng

TB (%)

2020

Tăng trưởng

TB (%)

ĩn vự

hách sạn, nhà hàng 207.600 312.100 10,1 440.300 8,2

Lữ hành, vận chuyển 65.800 92.700 8,2 128.000 7,6 ịch vụ hác 146.200 215.300 9,4 302.000 8,1

t ìn độ đ tạ

Đại học, cao đẳng 53.800 82.400 10,6 113.500 7,5 Trung cấp và tương

đương

78.200 115.300 9,5 174.000 10,2

ưới sơ cấp 187.450 268.200 8,6 348.300 5,9

ại động

Lao động quản l 32.500 56.100 14,5 83.300 9,7

Trang 9

hỉ tiêu Nă

2010

2015

Tăng trưởng

TB (%)

2020

Tăng trưởng

TB (%)

Lao động nghiệp vụ 387.100 564.000 9,2 787.000 7,9

Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch - ITDR

Có thể thấy, mặc dù năng suất lao động Việt Nam đ được cải thiện nhiều trong thời gian qua, nhưng vẫn còn thấp và có khoảng cách khá xa so với các nước trong khu vực Nếu năm 2011, năng suất lao động của Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia lần lượt gấp năng suất lao động của Việt Nam 17,6 lần; 6,3 lần; 2,9 lần và 2,4 lần thì đến năm 2019 khoảng cách tương đối này giảm xuống tương ứng còn 13,1 lần; 5,1 lần; 2,6 lần và 2,2 lần (Nguyễn Thị Thu Trang, 2020) Xét trong ngành du lịch, năng suất lao động của người Việt Nam chỉ bằng 1/15 so với Singapore và 1/10 của Nhật Bản và 1/5 của Malaysia năm 2018

Trang 10

Biểu đồ 1 Mức thu nhập bình quân của lực lượng lao động du lịch các nước ASEAN

năm 2018

Nguồn: Đại học Fulbright Việt Nam

Ngày 05/12/2018, Thủ tướng Chính phủ đ ban hành Quyết định số 68 / Đ-TTg phê duyệt đề án “Tái cơ cấu ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn” Theo đó, với quan điểm phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, vận hành theo cơ chế thị trường, là động lực thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực khác, tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế với mục tiêu cơ cấu lại ngành du lịch nhằm khai thác tối

đa lợi thế về sản phẩm, thị trường, các nguồn lực, hệ thống quản lý ngành, nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, thực sự trở thành ngành kinh

tế mũi nhọn, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, lan tỏa các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập khu vực

Mặt khác, chương trình đào tạo Cử nhân Du lịch ở các trường còn nặng nề lý thuyết, dàn trải nhiều môn học về quản trị và đại cương, nhiều môn cơ sở ngành chưa thật sự thiết thực; thời lượng thực hành nghiệp vụ còn rất hạn chế Nhiều sinh viên ra trường mà vẫn chưa có định hướng nghề nghiệp rõ ràng, chưa hình dung được sở trường và năng lực cá nhân phù hợp thế nào so với yêu cầu

Ngày đăng: 09/02/2022, 14:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Lê Anh Tuấn (2019). Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “ hát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, TP. Hồ Chí Minh, tr.83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Tác giả: Lê Anh Tuấn
Năm: 2019
[14] Phạm Trung Lương (2015). Phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Toàn cầu hoá du lịch và địa phương hoá du lịch”. Trường Cao đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá du lịch và địa phương hoá du lịch
Tác giả: Phạm Trung Lương
Năm: 2015
[16] Du lịch Việt Nam 2020: phát huy nội lực trong “ o Covid- 9”, Báo điện tử Nhân dân, nhandan.vn/dien-dan-dulich/du-lich-viet-nam-2020-phat-huy-noi-luc-trong-bao-covid-19-630469, truy cập ngày 31/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: o Covid- 9
[20] Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2017). Tài liệu Hội thảo quốc tế “ ăng suất và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế Việt Nam: Phát hiện từ nghiên cứu thực chứng”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăng suất và đổi mới sáng tạo của nền kinh tế Việt Nam: Phát hiện từ nghiên cứu thực chứng
Tác giả: Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2017
[21] Trần Văn Anh & Hà Thị Hải (2019). Phát triển bền vững nguồn nhân lực du lịch trong thời kỳ hội nhập toàn cầu, Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia “ hát triển chương trình đào tạo du lịch phù hợp cơ chế đặc thù tại các trường đại học, cao đẳng Việt am”, Đại học Đông Á, Đà Nẵng, tr.92-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: hát triển chương trình đào tạo du lịch phù hợp cơ chế đặc thù tại các trường đại học, cao đẳng Việt am
Tác giả: Trần Văn Anh & Hà Thị Hải
Năm: 2019
[22] Trần Văn Thông & Lê Thế Hiển (2018). Những yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực du lịch trong bối cảnh Cách mạng Công nghiệp 4.0, Kỷ yếu hội thảo quốc tế “ hát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Đại học Văn Hiến, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: hát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Tác giả: Trần Văn Thông & Lê Thế Hiển
Năm: 2018
[23] Vũ Văn Viện (2020), Phát triển nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao đáp ứng nhu cầu hội nhập, Kỷ yếu hội thảo quốc gia “Liên kết giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp trong công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao”, Đại học Hạ Long, tr.1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp trong công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Tác giả: Vũ Văn Viện
Năm: 2020
[1] Ban thư ký ASEAN (2016), Kế hoạch và Chiến lược Du lịch ASEAN 2016-2025, Tài liệu “ ội nghị Phổ biến Chiến lược Du lịch ASEAN giai đoạn 2016-2025 và các nội dung liên quan đến hội nhập khu vực của Việt Nam Khác
[2] Chu Thị Thảo (2019). ăng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 của Việt Nam qua các tiêu chí đánh giá của Diễn đàn kinh tế thế giới, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ Khác
[4] Lê Thị Lệ (2019). Đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao trong xu thế hội nhập và cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, Tạp chí Khí tượng Thủy văn số 10/2019, tr.76-78 Khác
[5] Lưu Đức Kế (2016). Thực trạng và các giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam, Tọa đàm Giải pháp phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, TP. Hồ Chí Minh Khác
[6] Nguyễn Minh Thảo (2019). ăng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Việt Nam qua từng chỉ số, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Khác
[7] baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Nang-luc-canh-tranh-toan-cau-40-cua-Viet-Nam-qua-tung-chi-so/377006.vgp, truy cập ngày 20/5/2021 Khác
[8] Nguyễn Thị Thu Trang (2020). Thực trạng năng suất lao động của Việt Nam và một số giải pháp tăng năng suất lao động, Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Tạp chí Công Thương số 12, tháng 05/2020 Khác
[10] Parker W.C., Ninomiya A. & Cogan J. (1999). Educating World Citizens: Toward Multinational Curriculum Development.doi.org/10.3102/00028312036002117, truy cập ngày 21/06/2021 Khác
[11] Phạm Công Nhất (2014). Đổi mới giáo dục đại học theo hướng hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận chính trị số 10/2014, tr.53-56 Khác
[12] Phạm Minh Hạc (1996). Phát triển giáo dục - phát triển con người phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. NXB. Khoa học Xã hội, tr.29 Khác
[13] Phạm Thị Khanh (2021). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, Tạp chí Khoa học Chính trị, số 02/2021, tr.33-35 Khác
[15] Du lịch tận dụng cơ hội bứt phá từ Cách mạng Công nghiệp 4.0, trang tin điện tử Tổng cục Du lịch Việt Nam:vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/27830, truy cập ngày 21/05/2021 Khác
[17] Bộ Văn hóa - Thể Thao và Du lịch. Một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo chất lượng cho ngành Du lịch trong bối cảnh hiện nay.Trang tin điện tử Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa - Thể Thao và Du lịch. daotao- vhttdl.vn/articledetail.aspx?sitepageid =628&articleid=858 (truy cập ngày 31/5/2021) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w