Theo Điều 574 BLDS năm 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM
THẢO LUẬN DÂN SỰ LẦN 1: NGHĨA VỤ MÔN: PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI
HỢP ĐỒNG
Giảng viên: Cô Ngô Thị Anh Vân
Lớp: 114 - TM45.1
Danh sách thành viên nhóm 7:
Nguyễn Minh Thùy Duyên 2053801011062
9/2021
Trang 2
VẤN ĐỀ 1: THỰC HIỆN CÔNG VIỆC KHÔNG CÓ ỦY QUYỀN Câu 1: Thế nào là thực hiện công việc không có ủy quyền?
Theo Điều 574 BLDS năm 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
Câu 2: Vì sao thực hiện công việc không có ủy quyền là căn cứ phát sinh nghĩa vụ?
Vì khi thực hiện công việc không được ủy quyền theo Điều 574 sẽ phát sinh một trong các nghĩa vụ được chỉ ra tại Điều 274 BLDS năm 2015 của chủ thể thực hiện đối với bên được thực hiện Ngoài ra:
+ Bên có công việc được thực hiện có nghĩa vụ phải thanh toán
+ Bên được thanh toán có nghĩa vụ hoàn thành công việc
Câu 3: Cho biết điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 về chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền".
Về chế định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền”:
+ Đ594 BLDS năm 2005 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện
công việc đó, hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người
này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
+ Đ574 BLDS năm 2015 quy định: “Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người có công việc được thực hiện khi người này không biết hoặc biết mà không phản đối.”
Có thể thấy, chế định thực hiện công việc có ủy quyền trong BLDS năm
2005, điều kiện để áp dụng chế định thực hiện công việc không có ủy quyền còn bất cập khi điều kiện quy định “hoàn toàn vì lợi ích của người có công việc được thực hiện” Chúng ta hiểu rằng người thực hiện công việc hoàn toàn không có lợi ích trong công việc mà họ thực hiện và tất cả phải vì lợi ích của người có công việc được thực hiện Điều này có nghĩa, người thực hiện công việc không có bất kì lợi ích nào từ việc thực hiện công việc cho người khác
Tuy nhiên, trên thực tế xét xử có rất nhiều trường hợp người thực hiện công việc cũng có lợi ích từ việc bản thân thực hiện công việc cho người khác Chính vì thế nên BLDS năm 2015 đã cải thiện, bám sát thực tiễn khi bỏ đi hai từ “hoàn toàn” trong quy định của BLDS là hoàn toàn hợp lí
Trang 3Bên cạnh việc sửa đổi điều kiện của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”, tại K4 Đ575 BLDS năm 2015 cũng bổ sung thêm trường hợp pháp nhân chấm dứt tư cách pháp nhân thì “người thực hiện công việc không có ủy quyền phải tiếp tục thực hiện công việc cho đến khi người thừa kế hoặc người đại diện của người có công việc được thực hiện đã tiếp nhận.”
Câu 4: Các điều kiện để áp dụng chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền" theo BLDS năm 2015? Phân tích từng điều kiện.
Để thực hiện chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”, cần phải thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Khi có công việc cần thiết, cấp bách mà theo đó, các công việc này cần phải thực hiện ngay Nếu không thực hiện thì chủ công việc hoặc những người xung quanh
sẽ phải chịu hậu quả bất lợi
+ Người thực hiện công việc đã tự nguyện thuwjcc hiện công việc dù pháp luật không quy định và chủ công việc không yêu cầu Nói cách khác, việc thực hiện công việc đối với người thực hiện công việc không có ủy quyền hoàn toàn không phải là nghĩa vụ do các bên thỏa thuận cũng như do pháp luật quy định
+ Người thực hiện công việc đã thực hiện công việc vì lợi ích của người chủ công việc
+ Việc thực hiện công việc đã gây ra hao tổn công sức, tốn kém chi phí nhất định
Câu 5: Trong tình huống trên, sau khi xây dựng xong công trình, nhà thầu
C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” trong BLDS năm 2015 không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
- Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người không có nghĩa vụ thực hiện công việc nhưng tự nguyện thực hiện công việc vì lợi ích người có công việc Mà người có công việc không biết hoặc biết mà không phản đối Căn cứ pháp lý tại Điều 574 Thực hiện công việc không có uỷ quyền
- Nhà thầu C có thể yêu cầu chủ đầu tư A thực hiện những nghĩa vụ trên cơ sở các quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền” Theo tình huống trên Ban quản lý B ký hợp đồng với nhà thầu C mà không nếu rõ người đại diện là A Nếu trong quá trình thực hiện A không phản đối việc B ký kết hợp đồng với nhà thầu
C Cho nên sau khi đã xong công trình, nhà thầu C có quyền yêu cầu A thực hiện nghĩa vụ trên cơ sở quy định của chế định “thực hiện công việc không có ủy quyền”
VẤN ĐỀ 2: THỰC HIỆN NGHĨA VỤ (THANH TOÁN MỘT KHOẢN TIỀN.
Trang 4*Tóm tắt quyết định số 15/2018/DS-GĐT ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội:
Đây là vụ án “Tranh chấp nghĩa vụ trả tiền trong hợp đồng chuyển nhượng nhà ở
và quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là cụ Ngô Quang Bằng và bị đơn là bà Mai Hương Phần diện tích 1.101m2 thuộc thửa đất số 49, tờ bản đồ số 13 tại số 49A Trần Hưng Đạo … tỉnh Quảng Ninh có nguồn gốc từ ông nội của cụ Bằng, sau đó thì cụ được ông Phục (cha của cụ) chuyển nhượng lại cho cụ Năm 1991, cụ chuyển nhượng căn nhà cấp bốn cùng toàn bộ thửa đất trên cho bà Hương và ông Thịnh với giá 5.000.000 đồng nhưng bà Hương chỉ mới thanh toán cho cụ 4.000.000 và hứa hẹn hết quý II sẽ thanh toán Cụ Bằng đã nhiều lần đòi nợ nhưng bà Hương không trả với lý
do chồng ốm đau, không có tiền Năm 1996, bà Hương chuyển nhượng phần tài sản trên cho người khác nhưng vẫn không thanh toán số tiền còn lại cho cụ Bằng nên cụ khởi kiện yêu cầu bà Hương phải trả số tiền còn thiếu tương đương với 1/5 giá trị nhà, đất với số tiền 1.697.000 đồng Bà Hương cho rằng trước khi chuyển nhượng cho người khác bà có đến tìm cụ Bằng để trả tiền nhưng cụ không chịu nhận và bà đồng ý trả số tiền nợ gốc là 1.000.000đ và lãi theo mức lãi suất cơ bản của nhà nước và bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiên cả cụ Bằng Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều buộc
bà Hương phải thanh toán cho cụ Bằng với số tiền 2.710.000đ bao gồm nợ gốc lẫn lãi Xét thấy không hợp lý, TANDTC tại Hà nội đã hủy 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ vụ án lại cho TAND tỉnh Quảng Ninh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm
Câu 1: Thông tư trên cho phép tính lại giá trị khoản tiền phải thanh toán như thế nào? Qua trung gian là tài sản gì?
Mục 1 chương I thông tư liên tịch 01/TTLT cho phép tính lại giá trị các khoản thanh toán như sau
• Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày
1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền
đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó (điểm a K1)
• Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ xảy ra sau ngày 1-7-1996 hoặc tuy xảy ra trước ngày 1-7-1996, nhưng trong khoảng thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo không tăng hay tuy có tăng nhưng ở mức dưới 20%, thì Toà án chỉ xác định các khoản tiền đó để buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán bằng tiền Trong trường hợp người có nghĩa vụ có lỗi thì ngoài khoản tiền nói trên còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác (điểm b K1)
Trang 5Việc tính lại khoản tiền phải trả qua trung gian là giá gạo.
Câu 2: Đối với tình huống thứ nhất, thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là bao nhiêu? Nêu rõ cơ sở pháp lý khi trả lời.
Theo tình huống thì ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền thế chân của bà Cô 50.000đ, chúng ta thấy rằng đây là một hợp đồng thuê giữu ông Qưới và bà Cô Bởi vì, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, là sự biểu lộ ý chí trong mỗi bên của chủ thể và cả hai bên chủ thể, cho nên giữa ông Qưới và bà Cô đã
có sự thông nhất ý chí với nhau (ông Qưới muốn cho thuê nhà và bà Cô muốn thuê nhà), thêm vào đó khi 2 người này tiến hành thảo thuận thì đều có đầy đủ năng lực chủ thể, sự thỏa thuận này không vi phạm điều cấm của luật cũng như không trái đạo đức
xã hội Như vậy, sự thoả thuận này đáp ứng đủ điều kiện trở thành hợp đồng và đây là căn cứ để làm phát sinh nghĩa vụ giữa các bên (Điều 275 BLDS năm 2015), trong đó
có nghĩa vụ đó là khi mà bà Cô không thuê nhà nữa thì ông Qưới có nghĩa vụ phải hoàn trả lại tiền thế chân cho bà Cô
Căn cứ theo Khoản 1 Phần I của Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản và các quy định liên quan khác (nếu có) có quy định về nghĩa vụ là các khoản tiền hoàn trả Đối với tình huống thứ nhất này, cụ thể đó là tiền thế chân mà bà Cô yêu cầu ông Qưới hoàn trả sau khi bà Cô trả nhà Ngày 15/11/1973, ông Quới cho bà Cô thuê nhà và nhận tiền thế chân của bà Cô 50.000đ Như vậy, căn cứ theo Điểm a Khoản 1 Phần I của Thông tư 01/TTLT ngày 19/6/1997 thì thực tế ông Qưới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể như sau:
“1- Đối với nghĩa vụ là các khoản tiền bồi thường, tiền hoàn trả, tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công sức, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính thì giải quyết như sau:
a Nếu việc gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ dân sự xảy ra trước ngày
1-7-1996 và trong thời gian từ thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ đến thời điểm xét xử sơ thẩm mà giá gạo tăng từ 20% trở lên, thì Toà án quy đổi các khoản tiền
đó ra gạo theo giá gạo loại trung bình ở địa phương (từ đây trở đi gọi tắt là "giá gạo") tại thời điểm gây thiệt hại hoặc phát sinh nghĩa vụ, rồi tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm xét xử sơ thẩm để buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán và chịu án phí theo số tiền đó.”
Cụ thể trong tình huống này, thời điểm phát sinh nghĩa vụ là ngày 15/11/1973 (tức là xảy ra trước ngày 1/7/1996) và giá gạo trung bình vào năm 1973 là 137đ/kg và giá gạo trung bình hiện nay theo Sở tài chính Tp HCM là 15.000đ/kg Và theo như quy định trên thì ông Qưới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền là:
Trước tiên, Quy đổi số tiền là 50.000 đồng ra số kilogam gạo theo giá gạo trung bình tại địa phương tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả (năm 1973) được là: 50.000/137 (kg)
Trang 6Sau đó, tính số lượng gạo đó thành tiền theo giá gạo tại thời điểm buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán, ta được kết quả là: (50.000/137) X 15.000 = 5.474.452 đồng
Như vậy thực tế ông Quới sẽ phải trả cho bà Cô khoản tiền cụ thể là 5.474.452 đồng
Câu 3: Thông tư trên có điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT không?
Vì sao?
Thông tư 01/TTLT ngày 19/06/1997 không điều chỉnh việc thanh toán tiền trông hợp đồng chuyển nhượng bất động sản như trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT Thông Tư 01/TTLT ngày 19/06/1997 liệt kê nhiều đối tượng lag những nghĩa vụ thanh toán tiền có thể được tính lại trong trường hợp trượt giá như các khoản bồi thường, tiền hoàn lại, trả tiền công, tiền lương, tiền chia tài sản, tiền đền bù công ứ, tiền cấp dưỡng, tiền vay không có lãi, tiền truy thu thuế, tiền truy thu lợi bất chính, ngoài ra thông tư này cũng điều chỉnh nghĩa vụ về tài sản là hiện vật Nên thông tư trên không điều chỉnh việc thanh toán tiền trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản
Câu 4: Đối với tình huống trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT, nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì, theo Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
Nếu giá trị nhà đất được xác định là 1.697.760.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm đã làm thì khoản tiền bà Hường phải thanh toán cho cụ Bảng là 1.697.760.000đ
Vì Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội nhận định: “Bà Hương phải thanh toán cho
cụ Bảng số tiền còn nợ tương đương 1/5 giá trị nhà, đất theo định giá tại thời điểm xét
xử sơ thẩm mới đúng với hướng dẫn tại điểm b2, tiểu mục 2.1, mục 2, phần II Nghị Quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”
Căn cứ vào điểm b2 tiểu mục 2.1 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP thì bà Hương phải thanh toán theo giá trị quyền sử dụng đất tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử sơ thẩm tức 1.697.760.000đ
Câu 5: Hướng như trên của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội có tiền lệ chưa? Nêu một tiền lệ (nếu có)?
Hướng giải quyết như trên đã có tiền lệ Đó là quyết định giám đốc thẩm số 09/HĐTP-DS về “Vụ án tranh chấp nhà đất và đòi nợ”
Nội dung như sau: Bà Lai cho ông Xuân vay 1 khoảng tiền Đến một thời gian thì cả 2 bên thống nhất tổng số nợ + lãi là 188.600.000đ, đồng thời chuyển nhượng
Trang 7căn nhà số 16 Chu Văn An của ông Xuân cho bà Lai với giá 188.600.000đ Nhưng vì ông Xuân không trả nợ cũng như không bàn giao nhà cho bà Lai nên bà Lai tiếp tục tính lãi của số tiền 188.600.000đ nêu trên Đến ngày 5-8-1997 thì các bên lại chốt nợ + lãi là 250.000.000đ và thỏa thuận chuyển nhượng quyền sở hữu căn nhà với giá 250.000.000đ Sau khi lập hợp đồng thì bà Lai vẫn tính lãi 250 triệu trong vòng 2 tháng
Tòa án nhận định:
- Quan hệ giữa ông Xuân và bà Lai là mối quan hệ cho vay lãi xuất cao, khi bên
nợ không thể trả nợ thì 2 bên có thỏa thuận chuyển quyền sử dụng đất Vì vậy đây không chỉ là quan hệ vay nợ mà còn là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Trong trường hợp có đủ căn cứ xác định việc mua bán chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất là hợp pháp và công nhận hợp đồng mua bán nhà đất giữa các bên thì phải lấy giá nhà, đất thoả thuận trong hợp đồng trừ đi số tiền nợ gốc và lãi; trường hợp còn thiếu bên mua chưa trả đủ thì phần còn thiếu (tính theo tỷ lệ % giá trị nhà đất) bên mua phải thanh toán cho bên bán theo giá thị trường tại địa phương ở thời điểm xét xử sơ thẩm lại Đây chính là nội dung của tiền lệ cho hướng giải quyết của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong Quyết định số 15/2018/DS-GĐT
VẤN ĐỀ 3: CHUYỂN GIAO NGHĨA VỤ THEO THỎA THUẬN.
*Tóm tắt bản án số 148/2007/DSST ngày 26/9/2007 của Tòa án nhân dân thị
xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Bà Tú và bà Phượng xác lập quan hệ vay tiền, có thỏa thuận lãi suất Bà Tú nhận tiền lãi đến tháng 5/2005 thì bên vay không trả tiền lãi như đã thỏa thuận Tuy nhiên, phía bà Tú đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh Tòa xét rằng, kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng với bà Tú chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ theo hợp đồng vay tiền đã ký
Câu 1: Điểm giống và khác nhau cơ bản giữa chuyển giao quyền yêu cầu và chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận?
*CSPL:
Điều 365, 370, 371 BLDS năm 2015
* Điểm giống nhau:
- Đều phải thông báo cho bên có nghĩa vụ/ bên có quyền nếu chuyển giao quyền/ chuyển giao nghĩa vụ
- Không được chuyển giao trong trường hai bên dã thỏa thuận không chuyển giao hoăc pháp luật có quy định về việc không được chuyển giao, như nghĩa vụ gắn liền với
nhân thân, quyền yêu cầu cấp dưỡng, bồi dưỡng do xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân thân, uy tín
- Hậu quả pháp lí là làm chấm dứt tư cách chủ thể của người chuyển giao quyền/
Trang 8nghĩa vụ, làm phát sinh tư cách chủ thể, quyền và nghĩa vụ dân sự ở người được chuyển
giao
- Sau khi chuyển giao quyền/ nghĩa vụ, bên có quyền/ nghĩa vụ ban đầu chấm dứt toàn
bộ quan hệ nghĩa vụ với bên có nghĩa vụ/ quyền
- Xuất phát từ sự thỏa thuận giữa các bên
- Chỉ áp dụng đối với các nghĩa vụ quan hệ đang còn hiệu lực
- Hình thức thực hiện: bằng văn bản hoặc bằng lời nói trừ trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao phải được lập thành văn bản, phải có công chứng hoặc chứng
thực, phải đăng ký, xin phép thì mới tuân thực hiện theo quy định đó (điều 310, 316
Bộ luật dân sự năm 2015)
*Điểm khác nhau:
Tiêu chí Chuyển giao quyền yêu cầu Chuyển giao nghĩa vụ theo thỏa thuận
Đối tượng có quyền
chuyển giao
Bên có quyền có quyền chuyển giao quyền cho sang bên thứ ba (người thế quyền)
Bên có nghĩa vụ có thể chuyển nghĩa vụ cho bên thứ
ba (người thế nghĩa vụ)
Nguyên tắc
Người chuyển giao quyền yêu cầu không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên
có nghĩa vụ nên việc chuyển giao quyền không cần có sự đồng ý của
bên có nghĩa vụ (khoản 2 Điều 365 BLDS)
Người đã chuyển giao nghĩa
vụ phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bên có quyền nên để bảo vệ lợi ích của bên có quyền, việc chuyển giao nghĩa vụ phải được sự đồng ý của bên có quyền (khoản 1 Điều 370 BLDS)
Hiệu lực của
biện pháp bảo
đảm
- Đối với chuyển quyền yêu cầu có các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì việc chuyển giao
quyền yêu cầu bao gồm cả các biện pháp bảo đảm đó (Điều 368 BLDS)
- Người chuyển giao quyền
có nghĩa vụ đối với người thế quyền: người chuyển giao quyền yêu cầu vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin
và chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền mà gây thiệt hại thì
- Đối với chuyển giao nghĩa
vụ có biện pháp bảo đảm thì biện pháp bảo đảm sẽ đương nhiên chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều
371 BLDS)
- Không quy định về nghĩa vụ của người chuyển giao nghĩa vụ đối với người thế nghĩa vụ
Trang 9phải bồi thường thiệt hại (Điều 366 BLDS)
Câu 2: Thông tin nào của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú?
Thông tin của bản án cho thấy bà Phượng có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tú là:
“Theo các biên nhận tiền do phía bà Tú cung cấp thì chính bà Phượng là người trực tiếp nhận tiền của bà Tú vào năm 2003 với tổng số tiền 555.000.000đ và theo biên nhận ngày 27/4/2004 thì thể hiện bà Phượng nhận của bà Lê Thị Nhan số tiền 615.000.000đ Phía bà Phượng không cung cấp được chứng cứ xác định bà Ngọc thỏa thuận vay tiền với bà Tú Ngoài ra, cũng theo lời khai của bà Phượng thì vào tháng 4 năm 2004, do phía bà Loan, ông Thạnh và bà Ngọc không có tiền trả cho bà Tú để trả vốn vay ngân hàng nên bà đã cùng với bà Tú vay nóng bên ngoài để có tiền trả cho ngân hàng Xác định bà Phượng là người xác lập quan hệ vay tiền với bà Tú.”
Câu 3: Đoạn nào của bản án cho thấy nghĩa vụ trả nợ của bà Phượng đã được chuyển sang cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh?
Trong phần “Xét thấy” của bản án, đoạn “Xét hợp đồng vay tiền của bà Phượng
và bà Tú, phía bà Phượng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ vay, không trả vốn, lãi cho bà Tú, lẽ ra phía bà Phượng phải có trách nhiệm thực hiện Tuy nhiên, phía bà Tú
đã chấp nhận cho bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thể hiện qua việc bà Tú đã lập hợp đồng cho bà Ngọc vay 465.000.000đ và hợp đồng cho bà Loan, ông Thạnh vay số tiền 150.000.000đ vào ngày 12/5/2005 Như vậy kể từ thời điểm bà Tú xác lập hợp đồng vay với bà Ngọc, bà Loan và ông Thạnh thì nghĩa vụ trả nợ vay của bà Phượng và bà Tú đã chấm dứt, làm phát sinh nghĩa vụ của bà Loan, bà Ngọc và ông Thạnh đối với bà Tú theo hợp đồng vay tiền đã kí Việc yêu cầu bà Phượng có trách nhiệm thanh toán nợ cho bà Tú là có căn cứ chấp nhận”
Câu 4: Suy nghĩ của anh/chị về đánh giá trên của Tòa án?
Đánh giá của Tòa án là hoàn toàn hợp lí Căn cứ vào Đ370 BLDS năm 2015 về chuyển giao nghĩa vụ, bà Phượng chuyển giao nghĩa vụ trả nợ cho bà Ngọc, bà Loan
và ông Thạnh và được bà Tú chấp nhận là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật
Câu 5: Nhìn từ góc độ văn bản, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Cơ sở pháp lý: Đ283, Đ370 của BLDS năm 2015
Từ góc độ văn bản, BLDS năm 2015 không quy định rõ liệu người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực
Trang 10hiện nghĩa vụ được chuyển giao hay không, mà chỉ quy định là “khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ” Để làm sáng tỏ điều này,
ta xét hai trường hợp sau:
+ Trường hợp thứ nhất: Người có nghĩa vụ ban đầu vẫn phải chịu Trách nhiệm đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nv được chuyển giao
Hệ quả pháp lý của trường hợp này giống với hệ quả của việc người có nghĩa vụ ủy quyền cho bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ thay mình Trong trường hợp này thì người
có nghĩa vụ ban đầu vẫn phải chịu trách nhiệm khi có vấn đề phát sinh
+ Trường hợp thứ hai: Người có nghĩa vụ ban đầu không phải chịu trách nhiệm đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao vì đã không còn nằm trong phạm vị chịu trách nhiệm của người có nghĩa vụ ban đầu nữa Hệ quả pháp lý của t/h này là người có nghĩa vụ ban đầu sẽ chấm dứt nghĩa
vụ đối với người có quyền và bên được thế nghĩa vụ sẽ nhận nghĩa vụ trong chính quan hệ đó Người thế nghĩa vụ sẽ chịu trách nhiệm khi có vấn đề phát sinh mà không phải là người có nghĩa vụ ban đầu Có sự khác biệt giữa chế định chuyển giao nghĩa
vụ và ủy quyền cho một bên thứ ba thực hiện nghĩa vụ
Trong BLDS không qui định rõ về vấn đề này nhưng về nguyên tắc thì người có nghĩa vụ ban đầu sẽ được giải phóng khỏi nghĩa vụ nếu như người có quyền đồng ý
Và nếu giữa các bên có thỏa thuận khác thì phải chấp nhận thỏa thuận đó Người có quyền phải cân nhấc có nên đồng ý hay không vì rất dễ xảy ra mâu thuẫn Hơn hết, chuyển giao nghĩa vụ thì biện pháp bảo đảm sẽ chấm dứt Chúng ta có thể hiểu rằng, mặc dù pháp luật chưa quy định minh thị, nhưng các nhà làm luật đã ngầm nhận định rằng người có nghĩa vụ không chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
Câu 6: Nhìn từ góc độ quan điểm các tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu có còn trách nhiệm đối với người có quyền không khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao? Nêu rõ quan điểm của các tác giả mà anh/chị biết.
Nhìn từ góc độ quan điểm của tác giả, người có nghĩa vụ ban đầu còn trách nhiệm đối với người có quyền khi người thế nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ chuyển giao, trừ trường hợp có thảo thuận khác
Quan điểm của tác giả Đỗ Văn Đại: “Nếu cho rằng người có nghĩa vụ ban đầu vẫn có trách nhiệm đối với người có quyền thì chúng ta không thấy có sự khác nhau giữa chuyển giao nghĩa vụ vơi “thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba”
Do vậy, để chuyển giao nghĩa vụ là một chế định độc lập với chế định thực hiện nghĩa
vụ dân sự thông qua người thứ ba, cần xác định rõ chuyển giao nghĩa vụ giải phóng người có nghĩa vụ ban đầu, trừ khi có bên có thỏa thuận khác.” 1
1 Đỗ Văn Đại (2017), Luật Nghĩa vụ Việt Nam-Bản án và Bình luận án, Nhà xuất bản Lao động, tr.642