1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN tâm lý học phạm trù nhân cách trong tâm lý học mác xít vận dụng trong giáo dục, rèn luyện nhân cách quân nhân hiện nay

24 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 142,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử phát triển của khoa học tâm lý đã cho thấy vấn đề nhân cách luôn là vấn đề phức tạp và cũng là vấn đề trung tâm của tâm lý học. Một số nhà triết học, tâm lý học ngoài mácxít đã có những đóng góp không nhỏ trong việc luận giải vấn đề bản chất, nguồn gốc của nhân cách. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt phương pháp luận cũng như điều kiện lịch sử nên việc luận giải vấn đề nhân cách còn nhiều khiếm khuyết, chưa thấy được cái bản chất thực sự của nhân cách cũng như nguồn gốc, con đường hình thành nên nhân cách. Trong đó nổi bật có một số tư tưởng, quan niệm đáng chú ý như sau:

Trang 1

Nhân cách là vấn đề trung tâm trong các nghiên cứu của tâm lý học Nhà

tâm lý học nổi tiếng người Nga L.X.Vưgốtxki đã từng khẳng định: “Vấn đề nhân cách và phát triển nhân cách là vấn đề tập trung cao nhất của toàn bộ tâm lý học” Việc nghiên cứu, nắm chắc quan điểm về nhân cách trong tâm lý học mác-

xít có ý nghĩa vô cùng to lớn cả về phương diện lý luận, phương pháp luận cũngnhư trong thực tiễn Vì:

Thứ nhất, vấn đề nhân cách đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của rấtnhiều ngành khoa học như: giáo dục học, đạo đức học, y học, xã hội học, tâm lýhọc Tuy nhiên, nhân cách lại là vấn đề rất phức tạp Ngay trong tâm lý học, xuấtphát từ cơ sở lý luận và phương pháp luận khác nhau nên có rất nhiều quan điểm,

tư tưởng, cách tiếp cận, các trường phái khác và lý thuyết khác nhau khi nghiêncứu về nhân cách Việc nắm chắc lý luận mác-xít về nhân cách là cơ sở để phêphán những quan điểm, lý thuyết bàn về nhân cách một cách phiến diện, máy móc,phản động, phản khoa học, phi giai cấp, phi lịch sử trong tâm lý học Đồng thời,khẳng định bản chất cách mạng và giá trị khoa học của phạm trù nhân cách cũngnhư vai trò của tâm lý học mác-xít trong sự hình thành, phát triển nhân cách

Thứ hai, việc tìm hiểu, làm rõ phạm trù nhân cách trong tâm lý học mác-xít

là cơ sở để tìm hiểu, giải quyết những vấn đề khác của đời sống tâm lý cá nhân, tậpthể cũng như nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đàotạo nói chung và giáo dục, phát triển nhân cách người quân nhân trong Quân đội nhândân Việt Nam nói riêng

Thứ ba, thực tiễn hiện nay, trước sự biến đổi và thay thế không ngừng của hệthống giá trị xã hội và định hướng giá trị, các thang giá trị, chuẩn giá trị có nhiềubiến đổi theo những chiều hướng khác nhau Việc tìm hiểu làm rõ lý luận về nhâncách cũng như những nhân tố tác động đến sự hình thành phát triển nhân cách có ýnghĩa quan trọng trong việc giáo dục giá trị, lựa chọn giá trị và định hướng giá trịnhân cách đáp ứng yêu cầu của xã hội và quân đội trong từng giai đoạn cách mạng

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tác giả lựa chọn vấn đề: " Phạm trù nhân cách trong tâm lý học mác-xít Vận dụng trong giáo dục, rèn luyện nhân cách quân nhân hiện nay" làm đề tài viết tiểu luận

Trang 2

I MỘT SỐ QUAN ĐIỂM NGOÀI MÁC-XÍT VỀ NHÂN CÁCH.

Lịch sử phát triển của khoa học tâm lý đã cho thấy vấn đề nhân cách luôn làvấn đề phức tạp và cũng là vấn đề trung tâm của tâm lý học Một số nhà triết học,tâm lý học ngoài mác-xít đã có những đóng góp không nhỏ trong việc luận giải vấn

đề bản chất, nguồn gốc của nhân cách Tuy nhiên, do hạn chế về mặt phương phápluận cũng như điều kiện lịch sử nên việc luận giải vấn đề nhân cách còn nhiềukhiếm khuyết, chưa thấy được cái bản chất thực sự của nhân cách cũng như nguồngốc, con đường hình thành nên nhân cách Trong đó nổi bật có một số tư tưởng,quan niệm đáng chú ý như sau:

I 1 Tư tưởng phương Đông cổ đại về nhân cách

Các nhà tư tưởng triết học phương Đông cổ đại cho rằng con người là tiểu

vũ trụ, mang những đặc tính của vũ trụ Những đặc tính này chi phối sự phát triểncon người Con người liên hệ với vũ trụ bao la nên con người cần biết được cácthông tin của vũ trụ Thực thể con người là sản phẩm của nguyên lý âm dương, vừađối lập vừa thống nhất, chứa đựng và chuyển hoá lẫn nhau, trời - đất - người hợpthành một (thiên - địa - nhân hợp nhất) Tính cách của con người chịu ảnh hưởngcủa ngũ hành và chia ra loại người: Kim, Hoả, Thổ, Mộc, Thuỷ Người mệnh Kim

ăn ở có nghĩa khí, nếu Kim vượng thì tính cách cương trực Người mệnh Hoả thì lễnghĩa, đối với mọi người nhã nhặn, lễ độ, thích nói lý luận; nhưng nếu Hoả vượngthì nóng nảy, vội vã, dễ hỏng việc Người mệnh Thổ trọng chữ tín, nói là làm; nếuThổ vượng thì hay trầm tĩnh, không năng động, dễ bỏ thời cơ Người mệnh Mộchiền từ, lương thiện, độ lượng; Mộc vượng thì tính cách bất khuất Người mệnhThuỷ thì khúc khuỷu, quanh co, nhưng thông suốt; nếu Thuỷ vượng thì tính tìnhhung bạo, dễ gây tai hoạ

Người phương Đông đánh giá con người qua chất là chủ yếu, lượng là phụ:lấy “Tâm thiện” là lý tưởng, đề cao tính thiện, tính nhân, thích sự im lặng, nhẹnhàng, đề cao sự cân bằng không thái quá Mọi tu nhân, xử thế, chính trị đềuhướng tới Thiện Biết đủ là giàu, giản dị ở vật chất, giản dị trong nội tâm, trongngôn từ Khổng Tử quan niệm về nhân cách con người thể hiện ở Nhân, Nghĩa,

Lễ, Trí, Tín Trong đó Nhân là gốc và chỉ có người “Đại nhân” mới có Nhân

Trang 3

I.2 Quan niệm về nhân cách trong tâm lý học phương Tây.

Trong tâm lý học phương Tây có nhiều học thuyết khác nhau về nhân cách.Trong đó nổi bật có các trường phái như Phân tâm học, trường phái Gestalt, tâm lýhọc nhân văn về nhân cách, tâm lý học nhận thức của Piagiê về nhân cách…

I.2.1 Phân tâm học về nhân cách

* Quan niệm của S.Freud về nhân cách

- Về cấu trúc của nhân cách.

Theo S.Freud (1856 - 1939) người sáng lập ra trường phái Phân tâm học,cấu trúc nhân cách con người gồm 3 khối: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi, tương ứngvới 3 cấp độ vô thức, ý thức và siêu thức

Khối vô thức là khối bản năng, trong đó bản năng tình dục giữ vị trí trungtâm Khối vô thức (id) là thùng năng lượng tâm thần chất chứa những khát vọngbản năng sôi sục Hoạt động của “cái nó” theo nguyên tắc khoái cảm đòi hỏi sựthoả mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng Vô thức là cái ngấm ngầm điềukhiển, điều chỉnh hành vi con người

Khối ý thức tương đương với cái “tôi” (ego) Cái tôi được hình thành do áplực thực tại bên ngoài đến toàn bộ khối bản năng Nó đảm bảo các chức năng tâm

lý như chú ý, trí nhớ…Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại Nhiệm vụcủa cái tôi là làm cho cái nó thoả mãn mà không làm tổn hại đến cơ thể, làm giảm

Từ quan niệm như trên S.Freud nêu ra cơ chế hoạt động tâm lý của con người

Đó là cơ chế kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng, cơ chế suythoái Con người sống gồm các bản năng, xu hướng của các bản năng này là luônvươn lên chiếm đoạt những cái khác (cái tôi và siêu tôi) Nhưng cái bản năng luôn bị

sự chèn ép, kiểm duyệt của cái siêu tôi Do đó, nó phải biến dạng bằng một hình thức

Trang 4

nào đó như bệnh tâm thần, nói lắp, Trong trường hợp không thoát lên được thì nósiêu thăng Cái siêu tôi thể hiện ở sự dạy dỗ, quy định của bố mẹ, thể hiện trongtruyền thống của thế hệ trước truyền lại Cơ chế tâm lý của việc hình thành siêu tôi là

sự đồng nhất hoá - cá nhân đồng nhất với cha mẹ và những người giáo dục

- Các giai đoạn phát triển nhân cách

S.Freud chia sự phát triển nhân cách con người thành bốn giai đoạn, trong

đó, ba giai đoạn đầu gọi là tiền sinh dục

+ Giai đoạn lỗ miệng (Onal): Có từ lúc trẻ mới sinh, trẻ tìm thấy khoái lạc ởmiệng như mút vú mẹ, cho các đồ vật vào mồm

+ Giai đoạn hậu môn (Anles): Ở trẻ năm thứ hai và năm thứ ba Giai đoạnnày trẻ chú ý tìm khoái lạc của hoạt động hậu môn

+ Giai đoạn âm vật và dương vật: Giai đoạn này trẻ chú ý đến bộ phận sinhdục, nảy sinh ra tình cảm lãng mạn đối với cha hoặc mẹ, người khác giới

+ Đến giai đoạn thứ tư, cá nhân hướng ra đối tượng bên ngoài bắt đầu từ tuổidậy thì Các năng lượng của con người đựơc sử dụng ở mục đích khác nhau như đihọc, vui chơi, bắt chước, hướng ra đối tượng khác giới để làm tình…

Học thuyết phân tâm của S.Freud đã đưa ra giả thuyết về vô thức, tiềm thức lànhững mặt quan trọng trong đời sống tâm lý của con người S.Freud đã khám phá mộtthế giới vô thức mà trước đây chưa được khám phá Mặt khác, đóng góp của S.Freud còn

ở chỗ đưa ra một số cơ chế tâm lý như cơ chế tự vệ, dồn nén, mặc cảm, đồng nhất hoá,các giai đoạn phát triển nhân cách S.Freud đã lần đầu tiên đưa ra được mô hình tâm lý

để chữa bệnh tâm thần có hiệu quả Phương pháp chữa bệnh bằng “liên tưởng tự do” đãđược sử dụng khá rộng rãi và hiệu quả trong điều trị bệnh tâm thần

Tuy nhiên, S.Freud đã quá nhấn mạnh đến mặt vô thức trong con người,không thấy được mặt bản chất trong ý thức tâm lý của con người, không thấy đượcbản chất xã hội - lịch sử của các hiện tượng tâm lý người Mặt khác, quan niệm vềcon người và nhân cách con người của S.Freud bộc lộ những khía cạnh khôngđúng đắn: con người trong học thuyết phân tâm là con người sinh vật, con người

cơ thể bị phân ly ra nhiều mảng, con người với những mong muốn là những đam

mê tính dục và luôn đối lập với xã hội

Trang 5

- Phân tâm học mới về nhân cách

+ K.Jung (1879 - 1961) cho rằng hành vi con người được điều chỉnh bằng vôthức và cả ý thức Đó là quá trình điều chỉnh tổng hợp, là một hệ thống tự điềuchỉnh Ông cho rằng con người có vô thức đạo đức bẩm sinh Các hoạt động củacon người có tính chất bản năng và tạo thành vô thức tập thể Điều đó được thểhiện trong nền văn hoá dân tộc cũng như trong nghệ thuật Ông cho rằng có vôthức tập thể bởi vì mỗi người đều tiềm tàng trong mình một di sản tinh thần đượctruyền từ nhiều thế hệ trong một nền văn hoá dân tộc và nền văn minh nhân loại.Chính vì vậy, hình thức phản ứng của mỗi cá nhân cũng giống nhau

K.Jung không thừa nhận bản năng tình dục là quyết định tâm lý con ngườinhư S.Freud quan niệm, nhưng ông lại thừa nhận trong con người có vô thức Vìvậy, bản chất học thuyết của K.Jung vẫn là học thuyết phân tâm được cải biếnthành học thuyết phân tâm mới

Trong cấu trúc nhân cách của K.Jung, cái tôi là trung tâm của ý thức Nhâncách là mẹ của ý thức Vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân Quanđiểm của Jung về nhân cách còn gọi là lý luận nhân cách tầng sâu Lý luận nhâncách tầng sâu xuất phát từ quan niệm vô thức Vô thức được xác định bằng những

sự kiện của hành vi Đó là những bản năng trực tiếp và bản năng tức thời Lý luậnnhân cách tầng sâu là một khám phá mới về vô thức Song điều này chưa đủ để nóilên bộ mặt nhân cách con người Nhân cách con người còn thể hiện những phẩmchất cũng như bộ mặt đạo đức trong nó

+ A Adller là nhà tâm lý học người Áo Ông cho rằng tất cả hành vi của conngười đều chịu ảnh hưởng xã hội Nhân cách thống nhất với hoàn cảnh và môi trường xãhội Ông vẫn cho vô thức bản năng hay năng lượng tâm hồn là những cơ chế của tínhtích cực, xung đột và bảo vệ Theo ông, con người luôn muốn hơn người khác, khi cónhược điểm trong lĩnh vực này lại siêu đẳng trong lĩnh vực khác Đó là cơ chế bù trừ xuấtphát từ động cơ xã hội ( Freud xuất phát từ động cơ tình dục) Ví dụ một cô gái khi kémcỏi về nhan sắc thì lại được bù đắp trong lĩnh vực học hành Sự bù trừ là có thật trongđời sống con người Nhưng sự bù trừ này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu

tố xã hội có tính chất quyết định Ở đây, Adller quá thổi phồng tính chất bù trừtrong con người, mà không thấy vai trò hoạt động của con người trong xã hội

Trang 6

+ E.Fromm là nhà tâm lý học sinh ra ở Đức sau đó chuyển sang Mỹ Ông có

ý đồ pha trộn phân tâm học của S.Freud và học thuyết xã hội học của Mác vàonhau và xây dựng nên lý thuyết “chủ nghĩa nhân đạo mới” Về tâm lý học, Frommcho rằng cơ chế tự nhiên và xã hội trong con người là vô thức, đó là cái phi lý, hạtnhân của nhân cách Nó biểu hiện sự mong muốn vươn tới cái phi lý, hạt nhân củanhân cách Nó biểu hiện cho sự mong muốn vươn tới cái hài hoà toàn diện của conngười Sự tiến bộ xã hội là do tâm lý con người tạo ra Ông đưa ra mô hình conngười mới giữa các đặc điểm sau:

* Con người mới phải từ bỏ vật chất để sống thanh thản

* Con người phải làm cho cuộc đời có ý nghĩa

* Phải có lòng yêu thương và trân trọng cuộc sống

* Phải trau dồi tình yêu thương vốn có

* Phải khắc phục được tính tự yêu mình và chấp nhận tính chất hạn chếtrong cuộc sống con người

Tuy nhiên, đây chỉ là con người trừu tượng, chung chung không thể thựchiện trong xã hội tư bản Cái sai lầm của Fromm là dung hoà giữa quan niệm củaS.Freud và chủ nghĩa Mác Sự thật không thể có cơ sở tự nhiên nào do Freud tạo ralàm cơ sở cho chủ nghĩa Mác Đồng thời, sự tiến bộ xã hội do động lực kinh tếquyết định chứ không do yếu tố tâm lý nào như Fromm giải thích

I.2.2 Trường phái Gestalt về nhân cách

Tâm lý học Gestalt hay còn gọi là tâm lý học cấu trúc nghiên cứu, xem xéthình ảnh tâm lý trong trong một cấu trúc trọn vẹn, hoàn chỉnh Là trường pháichuyên nghiên cứu về tri giác và ít nhiều nghiên cứu về tư duy, nhân cách conngười Nổi bật trong trường phái này là K.Lewin Nếu như hầu hết các nhà tâm lýhọc Gestalt quan tâm đến vấn đề tri giác, tư duy thì K.Lewin lại quan tâm đến vấn

đề động cơ, nhân cách và tâm lý học xã hội Ông đưa ra thuyết trường tâm lý, chorằng con người luôn luôn tồn tại trong một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó

Ông quan tâm đến tiên trị âm và tiên trị dương trong cùng một không giansống Tiên trị dương là nhằm thoả mãn những nhu cầu nào đó của cá nhân (như kẹovới đứa trẻ) Các khái niệm “trường tâm lý”, “không gian sống” thể hiện một phươngpháp mới miêu tả hành vi hiện thực của nhân cách Về thuyết “trường tâm lý”, ôngcho rằng thế giới xung quanh ta là thế giới của các sự vật và có những trình tự nhấtđịnh, con người luôn luôn tồn tại trong một hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó

Trang 7

Khái niệm “không gian sống” K.Lewin đưa ra nhằm giải thích hành vi củanhân cách, không gian sống bao gồm cả trường tâm lý Ông cho rằng, nếu ta biết rõ

về không gian sống của con người; có những thông tin về người ấy thì có thể dựđoán hành vi của người ấy Lý luận và các công trình thực nghiệm của Lêvin vềkhông gian sống đã đưa ông chiếm một vị trí cao trong tâm lý học nhân cách Cáckhái niệm “trường tâm lý”, “không gian sống” thể hiện một phương pháp mớimiêu tả hành vi hiện thực của nhân cách Ông đã khám phá động lực của mối quan

hệ cá nhân và hoàn cảnh, nhu cầu, nguyện vọng Ông đã sơ đồ hoá các khái niệmtâm lý bằng trường không gian, địa thế, véctơ

Tuy vậy, lý luận về “ trường tâm lý ” và “không gian sống” cũng có nhữngkhó khăn mà không thể giải quyết được Ví dụ ta không thể biết được cấu trúc vàkhông gian sống của một con người Hoàn cảnh con người sống luôn thay đổi, do

đó không gian sống cũng thay đổi Vì vậy, nếu dựa vào không gian sống thì khóđánh giá được nhân cách con người Quan điểm của K.Lewin là quan điểm củatrường phái Gestalt mang cấu trúc trọn vẹn Nhân cách được xét trong hoàn cảnh,trong nhóm, nhưng những quy định về chính trị, kinh tế đối với hành vi nhân cáchkhông được ông để ý đến một cách thoả đáng Vì vậy, lý luận nhân cách của ôngkhông tránh khỏi sự sơ lược trong quan niệm của Gestalt

I.2.3 Tâm lý học nhân văn về nhân cách

Trường phái tâm lý học nhân văn hình thành ở Mỹ như là một khuynhhướng đối lập với tâm lý học hành vi và phân tâm học Nếu tâm lý học hành vi lấyđiều kiện bên ngoài quyết định cho tâm lý con người thì phân tâm học lấy điềukiện bên trong làm nguyên tắc quyết định Tâm lý học nhân văn khác với haikhuynh hướng trên là ở chỗ nó không tạo nên một bộ mặt lý luận thống nhất vềnhân cách Trường phái này là sự tổng hợp nhiều hướng mới và nhiều trường phái

tư tưởng khác nhau Nhưng những nhà tâm lý học nhân văn đều có chung những tưtưởng là tôn trọng con người, tôn trọng những phẩm giá cá nhân về con người Họcho rằng con người bẩm sinh là tốt và đề cao vai trò của hoài bão, khát vọng tự docũng như khả năng vươn tới cái tốt đẹp trong con người Động cơ chính trong cuộcđời là khuynh hướng tự thể hiện mình, khuynh hướng này là bẩm sinh và khôngngừng thúc đẩy con người hướng đến hoạt động, giúp họ tự thể hiện mình

Trang 8

Từ những quan điểm trên của trường phái tâm lý học nhân văn về nhân cáchcon người ta thấy tâm lý học nhân văn đã nhìn thấy được bản chất tốt đẹp trongcon người Đề cao hoài bão và nỗ lực vươn lên của con người Tuy vậy tâm lý họcnhân văn đã dựa vào những kinh nghiệm chủ quan để phân tích nhân cách conngười, quay về với truyền thống tôn giáo nên rơi vào quan điểm duy tâm phảnkhoa học Con người được tâm lý học nhân văn quan niệm giống như kiểu ngườiđược mô tả trong văn chương, tôn giáo diễn tả kiểu tư duy ước ao, mong muốn,không có những cơ sở thực tiễn để hiện thực hoá.

Người đầu tiên có công xây dựng nền tâm lý học nhân văn là A.Maslow(1908 - 1970) đã từng là chủ tịch hội tâm lý nhân văn đầu tiên ở Mỹ

Về nhân cách, ông đưa ra hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức triệu chứngnhân cách và năng lực Động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu Theo ông cóthể chia ra năm loại nhu cầu theo thứ tự từ thấp đến cao và nếu nhu cầu cấp thấpkhông thoả mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể thực hiện được

Nhu cầu cấp cao: Nhu cầu thực tiễn; Nhu cầu được thực hiện; Nhu cầu yêu

thương, lệ thuộc

Nhu cầu cấp thấp: Nhu cầu an toàn; Nhu cầu sinh lý

Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người Những nhucầu như giao tiếp, lòng kính trọng đều có tính chất bản năng đặc trưng cho giốngngười Các nhu cầu đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định Chính vì vậy, họcthuyết nhu cầu của A.Maslow có những điểm giống học thuyết của S.Freud

I.2.4 Quan niệm về nhân cách của J.Piagiê

J.Piagiê nhà tâm lý học Thuỵ Sỹ chủ yếu nghiên cứu về tâm lý trẻ em, sựhình thành và phát triển trí tuệ, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể Ông chorằng phải nghiên cứu cá nhân con người, đó là chủ thể của mối quan hệ xã hội

Khái niệm “cân bằng” là khái niệm trung tâm trong học thuyết về nhân cáchcủa ông Ông dùng khái niệm “cân bằng” đề giải thích nguồn gốc của các cấu trúcthao tác Nhờ có luật bù trừ mà có sự cân bằng trong tâm lý Qua những công trìnhnghiên cứu về trí tuệ trẻ em, ông đã rút ra những bài học quý về nhân cách Đó là

sự cân bằng tâm lý, tính tự kỷ trung tâm sơ khai và con đường phát triển nhâncách Ông khẳng định giáo dục đúng đắn là yếu tố quan trọng nhất trong việc pháttriển nhân cách, cùng với nó là tôn trọng quyền con người

Trang 9

II QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ TÂM LÝ HỌC MÁC-XÍT VỀ NHÂN CÁCH

II.1 Quan điểm của các nhà tâm lý học Xô Viết về nhân cách.

Đứng trên lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tâm lý học

Xô Viết đã cống hiến cho nhân loại những thành tựu to lớn, phong phú, đa dạng,không ai có thể phủ nhận Đặc biệt là vấn đề nhân cách và cấu trúc nhân cách Cácnhà tâm lý học theo quan điểm mác-xít đều cho rằng khái niệm nhân cách phải làmột phạm trù xã hội chứ không thể thuần tâm lý Dưới đây là một số quan điểm vềnhân cách của các nhà tâm lí học Xô Viết được thừa nhận và sử dụng rộng rãi:

II.1.1 Quan điểm của B.G.Ananhiev về nhân cách.

B.G.Ananhiev đã xuất phát từ những khái niệm cá thể, chủ thể, khách thể,hoạt động, cá nhân để giải quyết vấn đề nhân cách Ông cho rằng nhân cách là cáthể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ thể của từng bước tiến lịch sử Nhâncách không tồn tại ngoài xã hội, không tồn tại ngoài lịch sử Sự phong phú của mốiquan hệ xã hội của cá nhân đã tạo nên những đặc điểm của nhân cách Cấu trúcnhân cách được dần dần hình thành trong quá trình cá nhân hoạt động trong mốiquan hệ xã hội Vì vậy, những yếu tố sinh học không tác động trực tiếp trong mốiquan hệ, trong cấu trúc nhân cách mà nó tác động gián tiếp với tư cách là yếu tố đãđược xã hội hóa, mang tính chất xã hội của nhân cách

Ông đưa ra cấu trúc nhân cách theo hai nguyên tắc: Nguyên tắc thứ bậc vànguyên tắc phối hợp Nguyên tắc thứ bậc là sự sắp xếp đặc điểm xã hội chung nhấtquy định những đặc điểm tâm sinh lý Nguyên tắc phối hợp là sự tác động qua lại giữacác thành phần độc lập tương đối và thành phần phụ thuộc Theo B.G.Ananhiep, đểnghiên cứu con người với tư cách là nhân cách phải nghiên cứu xu hướng, tính cách,hành vi xã hội, động cơ hành vi, cấu trúc nhân cách, vị thế nhân cách, con đường sốngcủa nhân cách trong xã hội Điều này đòi hỏi các nhà khoa học, tâm lý học, xã hộihọc, giáo dục học, đạo đức học phải quan tâm nghiên cứu Ananhiev coi con người làtiểu vũ trụ Điều này rất tương đồng với quan niệm phương Đông về con người Conngười là tinh hoa của vũ trụ, trong con người có đại diện của quy luật vũ trụ

Như vậy, luận điểm của Ananhiev coi việc nghiên cứu nhân cách là tổnghợp các khoa học nghiên cứu về con người là một đóng góp quan trọng trong việcchỉ hướng nghiên cứu nhân cách Nghiên cứu nhân cách không tách rời việcnghiên cứu con người và các khoa học khác nghiên cứu về con người

Trang 10

II.1.2 Quan điểm của A.N.Lêônchiep về nhân cách.

A.N.Leonchiev (1903 - 1979) là nhà tâm lý học Xô Viết kiệt xuất Về mặtnhân cách, ông cũng có những quan điểm mới mẻ Leonchiev coi nhân cách nhưmột cấu tạo tâm lý mới, được hình thành trong các quan hệ sống của cá nhân dokết quả hoạt động cải tạo của người đó Khái niệm nhân cách thể hiện tính chỉnhthể của chủ thể cuộc sống Nhân cách là một cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn.Nhân cách là sản phẩm tương đối muộn của sự phát triển xã hội lịch sử và của sựtiến hoá cá thể của con người Sự hình thành nhân cách là một quá trình riêngkhông trùng khớp với quá trình biến đổi các thuộc tính tự nhiên của cá thể Nhữngquá trình thần kinh của cá nhân sẽ không biến thành những thuộc tính nhân cách,mặc dù quá trình thần kinh sẽ không thiếu được trong quá trình hình thành nhâncách Muốn hiểu nhân cách phải dựa vào hoạt động của chủ thể để phân tích hoạtđộng là cơ sở của nhân cách Việc nghiên cứu nhân cách phải xuất phát từ sự pháttriển của hoạt động, những loại hình cụ thể của hoạt động và mối liên hệ của nhâncách đó với những người khác

Quan điểm của A.N.Lêônchiep về động cơ, xúc cảm và nhân cách: Trướchết ông đưa ra cách hiểu sự hình thành nhu cầu của con người theo sơ đồ Hoạt động

- Nhu cầu - Hoạt động, luận điểm này cho rằng nhu cầu của con người cũng đượcsản xuất ra Nhu cầu được phân tích về mặt tâm lý sẽ dẫn tới phân tích động cơ Ôngchia ra hai loại động cơ: Động cơ tạo ý và động cơ kích thích Động cơ tạo ý gắnliền với nhân cách Động cơ tạo ý ở cấp cao hơn so với động cơ kích thích, song cókhi nó không tham gia vào kích thích, thúc đẩy hoạt động mà khuất đằng sau kíchthích Tiền đề của sự hình thành nhân cách là sự phát triển của quá trình hình thànhmục đích và phát triển những hành động của chủ thể tương ứng gắn với mục đích

Sự hình thành nhân cách là một quá trình liên tục gồm các giai đoạn tuần tự thay thếnhau, làm thay đổi tiến trình sự phát triển tâm lý sau này Nền tảng của nhân cách là

sự phong phú của mối quan hệ giữa cá nhân với thế giới Trong mối quan hệ nàycon người phải hoạt động bao gồm hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn Điềucuối cùng mà A.N.Leonchiev bàn đến là vấn đề con người tự ý thức mình là mộtnhân cách Đó là quá trình phát triển ý thức bản ngã Ý thức cá nhân không chỉ là

Trang 11

kiến thức, hệ thống ý nghĩ, hoặc các khái niệm thu nhận được mà còn là sự vận độngbên trong phân biệt sự hiểu biết về bản thân và tự ý thức về mình.

Tóm lại, trung tâm trong quan điểm chủ yếu về nhân cách của Leonchiev làlấy hoạt động làm cơ sở của nhân cách Vì vậy, phải lấy hoạt động để phân tích,biện giải hiện tượng nhân cách Khi phân tích nhân cách phải kể đến động cơ, nhucầu, mục đích và hành động của cá nhân trong hoạt động Có như vậy mới có thểtách bạch được những cấp độ khác nhau: Cấp độ sinh vật, cấp độ tâm lý với tưcách là chủ thể và cấp độ xã hội, ở đó con người thực hiện những quan hệ xã hộitrong nghiên cứu của mình Đây là một đóng góp to lớn của A.N.Leonchiev

II.1.3 Quan niệm của K.K.Polatonov về nhân cách.

K.K.Polatonov đưa ra đinh nghĩa nhân cách như sau: “nhân cách là một con người cụ thể như là một chủ thể cải tạo thế giới trên cơ sở nhận thức, thể nghiệm thế giới, trên cơ sở quan hệ với thế giới đó”, ta có thể diễn đạt tư tưởng đó

ngắn gọn hơn: “nhân cách là con người mang ý thức” Ý thức không phải là mộtthực thể thụ động mà là một hình thức phản ánh bậc cao chỉ có ở người Đứa trẻmới ra đời chưa có ý thức Nhân cách sẽ hình thành trong giao tiếp với người khác

Có nhân cách tiến bộ và nhân cách phản động, nhân cách lành mạnh và nhân cách

ốm yếu Ông cho rằng không thể xác định được lúc nào thì con người hình thànhnhân cách Theo K.K.Polatonov, cấu trúc tâm lý chức năng cơ động của nhân cáchgồm bốn cấu trúc nhỏ được xác định bằng bốn phạm trù sau đây

* Tính cần và đủ để đưa toàn bộ các yếu tố, các nét của nhân cách vào bốncấu trúc ấy

* Sự thừa nhận nhân cách phân loại các thuộc tính cá nhân và các kháiniệm tâm lý về phương diện thực tế

* Tỉ lệ nghịch của độ chênh lệch tính chế ước xã hội và tính chế ước sinhvật của các thuộc tính cá nhân riêng biệt và những cấu trúc nhỏ thống nhất nhữngthuộc tính ấy

* Tính chất chuyên biệt của các loại quan hệ trong sự hình thành mỗi cấutrúc nhỏ

Trang 12

Liên quan đến bốn phạm trù trên có bốn cấu trúc nhỏ: Cấu trúc nhỏ thứnhất là xu hướng (lý tưởng, thế giới quan, niềm tin…); cấu trúc nhỏ thứ hai là kinhnghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen); cấu trúc nhỏ thứ ba là các quá trìnhtâm lý; cấu trúc nhỏ thứ tư là các thuộc tính sinh học quy định nhân cách (khí chấtgiới tính, lứa tuổi, bệnh lý…) Ngoài cấu trúc kể trên, theo K.K.Polatonov, nhâncách con người còn ở thuộc tính khác là tính cách và năng lực Tính cách cũng nhưnăng lực là tổng hoà các thuộc tính có trong sự tương ứng với hoạt động Tính cách

và năng lực cá nhân tương hỗ với nhau Trong một mức độ nào đó, năng lực biểuhiện ra và trở thành tính cách

Tóm lại quan điểm của K.K.Polatonov là một đóng góp mới cho việc giảiquyết vấn đề nhân cách Hệ thống chức năng cơ động, bốn tiểu cấu trúc của nhâncách, tính cách và năng lực là các thuộc tính của nhân cách đã làm sáng tỏ thêmvấn đề nhân cách Tuy nhiên trong khi khẳng định nhân cách là con người có ýthức, ông đã không thấy được sự tham gia của vô thức trong hành vi con người.Thêm nữa, xã hội đóng vai trò quyết định như thế nào đối với nhân cách, chúng tacũng chưa thấy rõ

II.1.4 Luận điểm của trường phái Uzơnatze về nhân cách.

Để hiểu con người với tư cách là nhân cách, D.Uzơnatze đã phân chia tínhtích cực tâm lý của con người ra ba cấp độ Con người với tư cách là cá nhân đó làcấp độ đầu tiên, thấp nhất Cấp độ thứ hai, con người với tư cách là chủ thể Cấp

độ thứ ba phức tạp và cao nhất con người với tư cách là nhân cách

Theo quan niệm này, cá nhân, chủ thể, nhân cách là sự thể hiện ở ba mức

độ khác nhau của tâm thế con người Ở mức độ thứ nhất, tâm thế quan hệ nhiềuđến nhu cầu sinh vật; ở mức độ thứ hai, tâm thế có quan hệ đến quá trình tư duy đểnhận thức hoàn cảnh; ở mức độ thứ ba, tâm thế quan hệ đến ý chí và định hướnggiá trị Quan điểm trên đã đóng góp nhiều kiến thức quý cho vấn đề nhân cách.Song những vấn đề về tâm lý và nhân cách nếu chỉ dựa vào tâm thế để phân tích làchưa đủ Tâm lý và nhân cách con người vô cùng phong phú và phức tạp, liên quanđến nhiều khoa học khác nhau

Ngày đăng: 09/02/2022, 13:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. A.N.Leonchiev. (1989), Hoạt động – ý thức – Nhân cách, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động – ý thức – Nhân cách
Tác giả: A.N.Leonchiev
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1989
1. Nguyễn Ngọc Bích, Tâm lý học nhân cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 2000 Khác
2. Đào Thị Oanh (chủ biên), Vấn đề nhân cách trong Tâm lý học ngày nay, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 2007 Khác
3. Hoàng Đình Châu (chủ biên), Tâm lý học quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 2005 Khác
4. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 2004 Khác
5. Phạm Minh Hạc - Lê Đức Phúc (chủ biên), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2004 Khác
6. Lại Ngọc Hải (chủ biên), Nghiên cứu định hướng giá trị nhân cách đội ngũ sĩ quan trẻ quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 2002 Khác
7. Nguyễn Quang Uẩn - Nguyễn Thạc - Mạc Văn Trang, Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị, Đề tài KX-07-04, Hà Nội. 1995 Khác
9. Phan Trọng Ngọ, Các lý thuyết phát triển tâm lý người. Nxb GD 10. Phạm Minh Hạc, Tuyển tập Tâm lý học, Nxb CTQG, H 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w