TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ********************* TIỂU LUẬN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ Đề tài: “VẬN DỤNG HỌC THUYẾT KTCT MÁC-LENIN VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ T
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
*********************
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
Đề tài: “VẬN DỤNG HỌC THUYẾT KTCT MÁC-LENIN VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM”
Giảng viên giảng dạy : TS Hoàng Hải
Hưng Yên, ngày 20 tháng 6 năm 2021
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU.
Lí do chọn đề tài
Học thuyết kinh tế chính trị Mác- Lênin là một trong những học thuyết nổi bật trong lịch sử các học thuyết kinh tế Kinh tế chính trị là một trong ba bộ phận cấu thành của lý luận Mác - Lênin, là khoa học nghiên cứu về quan hệ sản xuất trong mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng; nghiên cứu quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất trong xã hội Mặc dù ra đời tương đối muộn hơn so với các môn khoa học khác như triết học, sử học , nhưng kinh tế chính trị có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội
Vượt lên mọi giới hạn về không gian và thời gian, học thuyết kinh tế chính trị Mác-Lênin nói riêng và chủ nghĩa Mác-Mác-Lênin nói chung là nền tảng tư tưởng vững chắc, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng trong quá trình đấu tranh xây dựng Đất nước Đặc biệt , bằng việc vận dụng đúng đắn học thuyết kinh tế chính trị Mac-Lênin, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được Nhà nước ta hoàn thiện
và được chứng minh tính đúng đắn khi đã đưa đất nước đạt được thành tựu này đến thành tựu khác Chính vì vậy , để hiểu rõ hơn đặc điểm của học thuyết đang được áp dụng tại Việt Nam và vai trò của học thuyết đó đối với sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở nước ta, em đã chọn đề tài “Vận dụng học thuyết KTCT Mac-Lenin vào phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam” là đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ nội dung môn học Lịch sử học thuyết kinh tế
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về hoàn cảnh ra đời, đặc điểm, đóng góp của học thuyết Kinh tế chính trị Mác-Lenin; kết quả vận dụng học thuyết đó vào phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
1 Làm rõ những nội dung cơ bản của học thuyết KTCT Mac-Lenin
2 Tìm hiểu , phân tích quá trình vận dụng học thuyết vào kinh tế Việt Nam hiện nay
Đối tượng nghiên cứu
Trang 3Cuối cùng, em xin được chân thành cảm ơn Tiến sĩ Hoàng Hải, giảng viên bộ môn Lịch sử các học thuyết kinh tế đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài tiểu luận này Bài tiểu luận đã được hoàn thành, tuy nhiên do tầm hiểu biết còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Chính vì thế, em rất mpng nhận được những nhận xét, bổ sung và góp ý của thầy để bài tiểu luận được thêm hoàn chỉnh
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 4
I Khái quát học thuyết kinh tế chính trị Mác- Lenin 4
1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm phương pháp luận 4
2 Những đóng góp chủ yếu của KTCT Mác-Lenin 5
II Vận dụng học thuyết Mác-Lenin vào phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 6
1 Đặc điểm nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam 7
2 Thành tựu đã đạt được 8
3 Những thách thức đặt ra và cách khắc phục 9
C KẾT LUẬN 11
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 5B NỘI DUNG
I Khái quát học thuyết kinh tế chính trị Mác- Lenin
1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm phương pháp luận
1.1 Hoàn cảnh ra đời
Học thuyết kinh tế chính Mác-Lenin nói riêng và chủ nghĩa Mác-Lenin nói chung ra đời vào những năm 40 của thế kì XIX, trong hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản đã giành được
vị trí thống trị Vào thời điểm này, giai cấp công nhân có mâu thuẫn gay gắt và đấu tranh với giai cấp tư sản Những cuộc đấu tranh xuất hiện ngày càng nhiều và trở nên gay gắt, điển hình là khởi nghĩa của thợ dệt ở Lyon nước Pháp, phong trào hiến chương ở Anh trong những năm 30, 40 của thế kỉ XIX Phong trào đấu tranh phát triển từ tự phát đến tự giác, từ đấu tranh kinh tế đến đấu trannh về chính trị Từ đó đòi hỏi phải có lý luận Cách mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp công nhân
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, Chủ nghĩa Mác-Lenin phát sinh là sự tiếp tục trực tiếp của triết học cổ điển Đức, KTCT cổ điển Anh và CNXH không tưởng ở Pháp
1.2 Đặc điểm phương pháp luận
Đối tượng nghiên cứu
Theo nghĩa hẹp, Các Mác khẳng định, đối tượng nghiên cứu của KTCT là quan hệ sản xuất, tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với con người trong cả 3 mặt của quan hệ sản xuất (quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất, về tổ chức và quản lí sản xuất và về phân phối sản phẩm) thể hiện trong 4 khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Từ đó, vạch rõ quy luật vận động, phát triển của quan hệ sản xuất tức là các quan hệ kinh tế
Theo nghĩa rộng, KTCT là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất
và sự trao đổi những tư liệu sản xuất vật chất trong xã hội loài người
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp biện chứng duy vật
- Phương pháp logic thống nhất với lịch sử
- Phương pháp trừu tượng hoá khoa học
Trang 6- Các phương pháp khác
2 Những đóng góp chủ yếu của KTCT Mác-Lenin
2.1 Hoàn thiện lí thuyết giá trị lao động
Khác với các nhà kinh tế học trước đó cho rằng 2 thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị trao đổi của hàng hoá có sự mâu thuẫn nhau, Các-Mác khẳng định rằng hàng hoá là sự thống nhất biện chứng của 2 thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị
Ông là người đầu tiên đưa ra lí luận về tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá: là lao động cụ thể và lao động trừu tượng
Theo Các-Mác, lượng giá trị của hàng hoá do thời gian lao động xã hội cần thiết tạo
ra, song thời gian lao động xã hội cần thiết trong nông nghiêp và công nghiệp có sự khác nhau.Ông cho rằng, trong quá trình sản xuất, lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển giá trị
cũ (c) vào trong sản phẩm mới , lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới (v+m), toan fbooj giá trị hàng hoá bao gồm c+v+m
2.2 Lý thuyết giá trị thặng dư
Khi nghiên cứu về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Các-Mác đã phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư, trên cơ sở đó, ông đã vạch trần được bản chất bóc lột của nhà tư sản đối với công nhân và người làm thuê Các-Mác đã phân biệt được sự khác nhau giữa lao động và sức lao động, từ đó thấy được sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt Các-Mác là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh học thuyết giá trị thặng dư và khẳng định giá trị thặng dư tồn tại và phát triển hoàn toàn tuân theo quy luật giá trị Giá trị thặng dư là phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không
2.3 Lý thuyết tiền lương
Các-Mác khẳng định bản chất của tiền công trong chủ nghĩa tư bản chính là giá trị hay giá cả của sức lao động, nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động
và tiền lương đã che đậy bản chất bóc lột của CNTB
Trang 72.4 Lý thuyết về tư bản
Tư bản là một quan hệ sản xuất xã hội nhất định giữa người với người trong quá trình sản xuất, có tính lịch sử, tu bản là giá trị đem lại m bằng cách bóc lột công nhân làm thuê
Các-Mác cũng là người đầu tiên phân chia TB thành tư bản bất biến và tư bản khả biến, đồng thời vạch rõ vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất m
2.5 Lý thuyết khủng hoảng kinh tế
Các-Mác cho rằng:
- Khủng hoảng kinh tế là khủng hoảng sản xuất thừa
- Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ mâu thuẫn cơ bản của CNTB
- Khủng hoảng kinh tế có tính chu kì
2.6 Quan điểm của Lenin về xây dựng CNXH
Lenin đã chỉ ra tính tất yếu khách quan của thời kì quá độ lện CNXH, đặc điểm, nhiệm vụ cơ bản của thời kì quá độ Nội dung đó gồm các vấn đề:
- Những nguyên lý về nền kinh tế XHCN: dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất với 2 hình thức sở hữu toàn dân và tập thể
- Quốc hữu hoá: XHCN nhằm thủ tiêu sở hữu tư nhân của giai cấp bóc lột về tư liệu sản xuất chủ yếu, chuyển nó thành sở hũu toàn dân, bao gồm: hợp tác hoál công nghiệp hoá và cách mạng văn hoá tư tưởng
Chính sách kinh tế mới của Lênin có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với sự khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá trong nước, cũng như có ý nghĩa quốc tế to lớn đối với các nước phát triển theo định hướng XHCN
II Vận dụng học thuyết Mác-Lenin vào phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Văn kiện Đại hội IX đã khẳng định: “Khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta”
Trang 8Tại Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định : phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lí của Nhà nước
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là: nền kinh tế nước ta không phải là kinh tế quản lí theo kiểu tập trung, quan liêu, bao cấp; nhưng đó cũng không phải là kinh tế thị trường như ở các nước TBCN và cũng chưa hoàn toàn là kinh tế thị trường XHCN, bởi ta vẫn đang ở trong thời kì quá độ lên CHXH, còn có sự đan xen
và đấu tranh giữa cái mới và cái cũ; vừa có, vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của CNXH Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế, vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lí và phân phối Vì vậy, nền kinh tế nước ta vừa có tính phổ biến mang đặc trưng của nền kinh tế thị trường, vừa có đặc trưng riêng của tính định hướng XHCN
1 Đặc điểm nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam.
Đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của Đất nước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lí của Nhà nước pháp quyền XHCN, do ĐCSVN lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN VN có quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân
bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với
cơ chế thị trường
Trang 9Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các nguồn lực của nhà nước và công cụ, chính sách để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thự hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế
xã hội
2 Thành tựu đã đạt được
Tại phiên khai mạc Đại hội XIII của Đảng ngày 26/01/2021, tổng kết nhiệm kì khoá XII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “ Đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.”
Sau hơn 30 năm đổi mới, bằng việc áp dụng học thuyết kinh tế chính trị Mác-Lenin nói riêng và chủ nghĩa Mác-Lenin nói chung vào xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đất nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận
Về kinh tế: công cuộc đổi mới đã nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những
nước nghèo nhất thế giới vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp Trong giai đoạn 2002-2019, GDP đầu người tăng 2.7 lần với hơn 45 triệu người thoát nghèo Năm 2019, GDP thực tăng thực tăng ước khoảng 7%- đạt tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện ba đột phá chiến lược đạt được những kết quả quan trọng Cán cân thương mại được cải thiện, xuất khẩu tăng nhanh Môi trường đầu tư, kinh doanh, tiềm lực quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế tiếp tục được tăng lên
Đặc biệt, năm 2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 gây ảnh hưởng nặng nề toàn cầu, bằng sự nỗ lực cố gắng vượt bậc,trong khi kinh tế thế giới suy thoái, tăng trưởng âm gần 4%, kinh tế nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng 2.91%- trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới và là điểm đến an toàn và tiềm năng cho các nhà đầu tư nước ngoài
Về xã hội: Việt Nam chứng kiến sự thay đổi nhanh về cơ cấu dân số và xã hội Hiện
nay, 70% dân số có độ tuổi dưới 35, với tuổi thọ trung bình gần 76 tuổi, cao hơn những
Trang 10nước có thu nhập tương đương trong khu vực Không chỉ vậy , Việt Nam còn là quốc gia
có Chỉ số vốn con người cao nhất trong số các quốc gia có thu nhập trung bình
Y tế của nước ta cũng đã và đang đạt được nhiều tiến bộ Trong giai đoạn
1993-2017, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6% xuống còn 16.7%; chỉ số bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân là 73, cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới, với 87% dân số có BHYT Việt Nam trong 2 năm trở lại đây đã được thế giới ghi nhận, coi là điểm sáng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu kép: vừa khống chế, ngăn chặn đại dịch COVID-19 thành công, vừa phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống an toàn cho người dân
Về an ninh- quốc phòng: Trước tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến
nhanh chóng, phức tạp, Việt Nam đã coi trọng củng cố và tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh; chủ động xử lí thành công các tình huống, không để bị động, bất ngờ Nhờ đó mà hoạt động an ninh chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội được đảm bảo
3 Những thách thức đặt ra và cách khắc phục
Công cuộc đổi mới đã đưa nước ta đi từ thành tựu này đến thành tựu khác, tuy nhiên vẫn còn tồn tại những hạn chế cùng với thách thức không hề nhỏ
Đó là, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, thiếu bền vững Trong những năm gần đây, đầu tư cơ sở vật chất tính theo phần trăm GDP của Việt Nam nằm trong nhóm thấp nhất trong khu vực ASEAN Điều này tạo ra thách thức không nhỏ đối với sự phát triển liên tục của các dịch vụ cơ sở hạ tầng hiện đại cần thiết cho giai đoạn tiếp theo Hiệu quả và năng lực của nhiều doanh nghiệp , trong đó có doanh nghiệp Nhà nước còn hạn chế; môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi; công tác quản lí, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập; Việt Nam là quốc gia có tốc độ già hoá dân số nhanh nhất, dự báo đến năm 2050 nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng gấp 2.5 lần
Không chỉ vậy, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước ra sức tấn công nhằm phủ nhận, hạ thấp vai trò và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác-Lenin Chúng mang luận điệu cho rằng chủ nghĩa Mác-Lenin không bắt kịp và phản ánh đúng sự phát triển của lực lượng sản xuất và khoa học-công nghệ hiện đại; cho rằng cả ba vị lãnh tụ
Trang 11đều từ phương Tây, vì vậy, lý luận của các ông không thể giải quyết được vấn đề có tính lịch sử và thời địa của các nước phương Đông, nhất là ở Việt Nam
Trước những vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta cần đổi mới quyết liệt mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh từ mô hình phát triển chiều rộng sang chiều sâu, lấy đổi mới sáng tạo liên tục làm nền tảng, tăng nhanh năng suất các ngành sử dụng công nghệ cao, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, chắc lọc kinh nghiệm phát triển kinh
tế bền vững ở các nước để áp dụng vào Việt Nam bao gồm 4 trụ cột của bền vững là: thể chế, kinh tế, xã hội và môi trường Đồng thời, nước ta cần ngăn chặn những thông tin mang tính thù ghét, phản động; đẩy mạnh nghiên cứu, giáo dục và phát triển chủ nghĩa Mác-Lenin , tư tưởng HCM; cần tuyên truyền rộng rãi những giá trị đích thực của học thuyết, luận điểm của C.Mác, Ph Ăng-ghen, Lenin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của Đất nước