Thi hành án hình sự là thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Hoạt động THAHS cũng là khâu cuối cùng trong Tố tụng hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm thực thi quyền Tư pháp, hiện thực hóa công lý mà Tòa án đã nhân danh Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra bản án, quyết định, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự trị an của xã hội, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, pháp nhân. Thi hành án hình sự là một chủ đề không quá mới mẻ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn và quan trọng. Đa phần khi nói về THAHS thì mọi người kể cả sinh viên theo học ngành luật chỉ tập trung quan tâm đến thi hành hình phạt tù, tử hình, chung thân hoặc trục xuất ít khi nào quan tâm đến thi hành các hình phạt khác nhất là thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ. Thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ là một vấn đề nhỏ được quy định tại luật THAHS, BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật khác tuy nhiên giá trị nó mang lại là không hề nhỏ thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt và tính nhân đạo của pháp luật qua đó giúp mọi người hiểu rằng không phải pháp luật lúc nào cũng là khô cứng, giáo điều mà bên cạnh đó còn có sự khoan hồng, tạo điều kiện đối với những ai biết ăn năng, hối lỗi, biết sữa chữa sai lầm.
Trang 1CÔNG TÁC KIỂM SÁT THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ CHO HƯỞNG ÁN TREO VÀ
CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN NINH PHƯỚC – TỈNH
NINH THUẬN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu 2
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 3
7 Cấu trúc của chuyên đề tốt nghiệp 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN TREO VÀ CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo án treo 4
1.1.1 Khái niệm án treo 4
1.1.2 Đặc điểm 5
1.2 Khái niệm và đặc điểm về thi hành hình phạt tù cải tạo không giam giữ 5
1.2.1 Khái niệm cải tạo không giam giữ 5
1.2.2 Đặc điểm 6
1.3 Chủ thể thi hành hình phạt tù án treo, cải tạo không giam giữ 6
1.3.1 Tòa án nhân dân 6
1.3.2 Viện kiểm sát nhân dân 7
1.3.3 Công an cấp xã 7
1.3.4 Gia đình, các cơ quan, tổ chức, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, cộng đồng dân cư 8
1.3.5 Người hưởng án treo, chấp hành hình phạt tù cải tạo không giam giữ 9
1.4 So sánh thi hành hình phạt tù án treo, cải tạo không giam giữ 10
1.5 Những điểm mới về thi hành hình phạt tù án treo, cải tạo không giam giữ
13
1.5.1 Những quy định mới của pháp luật liên quan đến án treo 13
1.5.2 Những quy định mới của pháp luật liên quan đến cải tạo không giam giữ 16
1.6 Nội dung thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 19
1.6.1 Hoạt động ra quyết định thi hành hoặc ủy thác thi hành 19
1.6.2 Trình tự, thủ tục thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 20
1.6.3 Thời gian thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 22
1.6.4 Miễn giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ và rút ngắn thời gian thử thách án treo 23
1.6.5 Xóa án tích đối với án treo, cải tạo không giam giữ 26
Trang 3CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VÀ KỸ NĂNG KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN
TREO, CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ 27
2.1 Một số vấn đề về công tác kiểm sát thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 27
2.1.1 Đối tượng của công tác kiểm sát thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 27
2.1.2 Phạm vi của công tác kiểm sát thi hành án treo, cải tạo không giam giữ
27
2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát khi kiểm sát thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 27
2.1.4 Phương thức kiểm sát thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 28
2.1.5 Kháng nghị, kiến nghị trong kiểm sát thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 29
2.2 Kỹ năng kiểm sát thi hành án treo 29
2.2.1 Kiểm sát việc ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác thi hành án 29
2.2.2 Kiểm sát việc thi hành án treo 31
2.2.3 Kiểm sát việc rút ngắn thời gian thử thách của án treo 32
2.2.4 Kiểm sát biện pháp xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo 32
2.3 Kỹ năng kiểm sát thi hành án phạt cải tạo không giam giữ 33
2.3.1 Kiểm sát việc ra quyết định thi hành hoặc ủy thác thi hành án 33
2.3.2 Kiểm sát việc thi hành án 33
2.3.3 Kiểm sát việc miễn, giảm hình phạt 34
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VIỆC THI HÀNH ÁN TREO, CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NINH PHƯỚC- TỈNH NINH THUẬN TỪ NĂM 2017 ĐẾN NĂM 2019 36
3.1 Sơ lược về huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận 36
3.2 Thực tiễn việc thi hành án treo, cải tạo không giam giữ trên địa bàn huyện Ninh Phước 36
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ CHO HƯỞNG ÁN TREO, CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ 43
4.1 Những sai phạm tồn tại trong công tác thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 43
4.1.1 Một số quy định pháp luật về thi hành án treo, cải tạo không giam giữ còn bất cập và chưa cụ thể 43
4.1.2 Những nguyên nhân khác 43
4.2 Đề xuất, kiến nghị để nâng cao công tác thi hành án treo, cải tạo không giam giữ 44
KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thi hành án hình sự là thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Hoạt động THAHS cũng là khâu cuối cùng trong Tố tụng hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm thực thi quyền Tư pháp, hiện thực hóa công
lý mà Tòa án đã nhân danh Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra bản án, quyết định, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự trị an của xã hội, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, pháp nhân
Thi hành án hình sự là một chủ đề không quá mới mẻ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn và quan trọng Đa phần khi nói về THAHS thì mọi người kể cả sinh viên theo học ngành luật chỉ tập trung quan tâm đến thi hành hình phạt tù, tử hình, chung thân hoặc trục xuất ít khi nào quan tâm đến thi hành các hình phạt khác nhất
là thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ Thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ là một vấn đề nhỏ được quy định tại luật THAHS, BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật khác tuy nhiên giá trị
nó mang lại là không hề nhỏ thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt và tính nhân đạo của pháp luật qua đó giúp mọi người hiểu rằng không phải pháp luật lúc nào cũng là khô cứng, giáo điều mà bên cạnh đó còn có sự khoan hồng, tạo điều kiện đối với những ai biết ăn năng, hối lỗi, biết sữa chữa sai lầm
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Công tác kiểm sát thi hành hình phạt tù cho hưởng
án treo và cải tạo không giam giữ theo quy định pháp luật hiện hành thực tiễn tại địa bàn huyện Ninh Phước – tỉnh Ninh Thuận” một phần là để bổ sung nâng
cao kiến thức, mai sau cũng có ước muốn làm việc trong các cơ quan Tư pháp vì vậy để khi nào đi làm thực tế sẽ không bị bỡ ngỡ, phục vụ cho công việc, mặt khác
là muốn giúp tất cả mọi người hiểu được sâu sắc hơn về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ Điều quan trọng nhất, giúp mọi người có thể biết cụ thể về công tác kiểm sát của cơ quan Viện kiểm sát về vần đề này
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, ở Việt nam và ngoài nước có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, các công trình nghiên cứu nói về vấn đề thi hành hình phạt tù cho hưởng
án treo, cải tạo không giam giữ Tuy nhiên, chủ yếu là đề cập đến hệ thống những quy định chung, kiến thức tổng thể và thống nhất còn đặc biệt hơn là hầu như ít có những công trình nghiên cứu nào nói về công việc cụ thể của các cơ quan thực thi
về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ theo đó tôi nghĩ
là một điều vô cùng thiếu sót
Hoạt động THAHS được trình bày trong một số tài liệu giáo trình và sách tham khảo như: Luật THAHS năm 2010; Luật THAHS năm 2019; Bộ luật hình sự
Trang 6năm 1999; Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015; Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật thi hành án hình sự của GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên, Nxb Lao động, năm 2011; Giáo trình Luật tố tụng hình
sự Việt nam của tập thể tác giả do TS Hoàng Thị Minh Sơn, Nxb Tư pháp, năm 2006; Một số vấn đề về thi hình án hình sự của TS Trần Quang Tiệp, Nxb Công an nhân dân, năm 2002 …
Bên cạnh đó còn được đề cập trong một số báo cáo, tạp chí, tài liệu như: Tạp chí Tòa án nhân dân về thi hành án phạt cải tạo, vướng mắt và kiến nghị; Một số vương mắt mỗi khi áp dụng pháp luật hình phạt cải tạo không giam giữ; Tạp chí Tòa án nhân dân về chế định án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam; Giáo trình luật TP Hồ Chí Minh về Thi hành án hình sự; …
Hơn thế nữa, vấn đề thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ cũng có nhiều văn bản quốc tế đề cập như: Công ước chống đố xử hoặc hình phạt tàn bạo, được thông qua bằng Nghị quyết số 39/46 ngày 10/02/1984 của Đại hội đồng Liên hợp quốc; Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về các biện pháp không giam giữ (các quy tắc Tokyo, 1990), được thông qua bằng Nghị quyết số 45/110 ngày 14/12/1990 của Đại hội đồng Liên hợp quốc …
Qua những kết quả liệt kê nêu ở trên thì rõ ràng ta thấy rằng vấn đề về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ và công việc thực thi nó ít có những công trình nghiên cứu, giáo trình, tài liệu nào đề cập đến và nếu có đề cập thì chỉ mang tính chất chung chung chưa đi vào phân tích sâu, cụ thể Bởi lẽ đó, chuyên
đề về “công tác kiểm sát thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo và cải tạo không giam giữ theo quy định pháp luật hiện hành Thực tiễn tại địa bàn huyện Ninh
Phước, tỉnh Ninh Thuận” là không trùng khớp với các công trình nghiên cứu khoa
học nào Như vậy, tình hình nghiên cứu đề tài là một sự đòi hỏi khách quan, cấp thiết vừa có tính chất lý luận, thực tiễn vừa mang tính nghiệp vụ
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu
Mục đích của chuyên đề này là nghiên cứu các quy định của pháp luật, những điểm mới của luật thi hành hình sự, tìm hiểu sâu sắc công việc của cơ quan Viện kiểm sát trong công tác thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ và đưa ra lý luận, thực trạng để có những giải pháp nâng cao hiệu quả cho vấn
đề này
Đối tượng nghiên cứu ở đây chỉ tập chung xoay quanh vào các vấn đề lý luận
và thực tiễn về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ và các công việc, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Viện kiểm sát về vấn đề này
Trang 74 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Chuyên đê tập chung nghiên cứu giải quyết các vấn đề xung quanh lý luận và thực tiễn thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ trên địa bàn huyện Ninh Phước- tỉnh Ninh Thuận, nguyên nhân của những tồn động, hạn chế và đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả nghiệp vụ thi hành pháp luật của cơ quan Viện kiểm sát
5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu
Chuyên đề này sử dụng chủ yếu là các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp quy nạp, phương pháp thống kê, phương pháp diễn dịch để áp dụng vào nghiên cứu một cách hiệu quả, cụ thể và chính xác hơn
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Chuyên đề nghiên cứ có ý nghĩa quan trọng trong việc học tập nâng cao kiến thức đối với sinh viên đang theo học ngành luật nói riêng và tất cả mọi người không theo ngành luật nói chung ai cũng có thể cần chuyên đề này nếu gặp vấn đề về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo, cải tạo không giam giữ Đồng thời, việc ứng dụng đề tài này là rất thực tế và dễ áp dụng vì đã nêu ra rất cụ thể, rõ ràng
7 Cấu trúc của chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài phần mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì cấu trúc nội dung của chuyên đề gồm 4 chương:
Chương 1 Khái quát chung về thi hành án treo và cải tạo không giam giữ Chương 2 Một số vấn đề và kỹ năng kiểm sát về thi hành án treo và cải tạo không giam giữ
Chương 3 Thực tiễn kiểm sát về thi hành án treo và cải tạo không giam giữ trên địa bàn huyện Ninh Phước- tỉnh Ninh Thuận
Chương 4 Đề xuất, kiến nghị để nâng cao công tác thi hành án treo và cải tạo không giam giữ
Trang 8CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN TREO VÀ CẢI TẠO
KHÔNG GIAM GIỮ 1.1 Khái niệm, đặc điểm về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo án treo
1.1.1 Khái niệm án treo
Trong thời gian vừa qua, trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều quy định khác nhau về chế định án treo, chẳng hạn luật hình sự của Anh và Mỹ coi
án treo là trường hợp hoãn tuyên án kèm theo biện pháp bão lĩnh hoặc biện pháp bảo đảm bằng tiền Luật hình sự của Pháp, Bỉ và một số nước lại coi án treo là việc hoãn hoặc miễn chấp hành hình phạt có điều kiện nhưng cũng có nước coi án treo là hình phạt chính như Cộng hòa dân chủ Đức
Ở nước ta, chế định án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam ra đời rất sớm, ngay từ những ngày đầu lập pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Theo quy định tại Điều 10 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về tổ chức tòa án quân sự, thì “Khi phạt tù, tòa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng” Các Bộ luật Hình
sự (BLHS) năm 1985, năm 1999 đã quy định án treo tại các Điều 44 BLHS năm
1985, Điều 65 BLHS năm 1999 Kế thừa nội dung trên, tại Điều 65 BLHS năm
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về án treo như sau:
“Nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù trong trường hợp bị
xử phạt tù không quá 03 (ba) năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01 (một) năm đến 05 (năm) năm và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Ngoài ra, Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với
cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó Tòa án có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Trong quá trình thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo có cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án
Trang 9trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.”
Trong thời gian qua, đã có nhiều nghiên cứu đưa ra các quan điểm vể án treo nhưng nhìn tổng thể đều thống nhất với sự hướng dẫn, giải thích của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 01/1990/NQ-HĐTP ngày 18/10/1990 hướng dẫn về việc áp dụng Điều 44 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 hướng dẫn về việc áp dụng Điều 60 Bộ luật Hình sự về án treo Luật THAHS năm 2019 và mới đây nhất là Bộ luật Hình sự năm
2015 sửa đổi, bổ sung 2017, từ đó ta có thể thống nhất xác định rằng: Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 (ba) năm, căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt buộc phải chấp hành hình phạt
tù
1.1.2 Đặc điểm
Trên cơ sở khái niệm nêu ở trên ta có thể rút ra đặc điểm của hình phạt tù cho hưởng án treo như sau:
Thứ nhất, chúng ta phải hiểu rằng án treo là một biện pháp miễn chấp hành
hình phạt tù có kèm theo một số điều kiện, mà không phải là hình phạt tù
Thứ hai, người được hưởng án treo phải chịu một thời gian thử thách bằng lần
mức phạt tù nhưng không dưới 1 (một) năm và không quá 5 (năm) năm
Thứ ba, người được hưởng án treo không phải chấp hành hình phạt tù trong
trại giam hoặc cơ sở giam giữ mà chấp hành ngay tại địa phương nơi cư trú, không
bị cách ly khỏi đời sống xã hội mà vẫn đảm bảo được việc giáo dục, cải tạo, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hôi
Thứ tư, trong quá trình thời gian thử thách, nếu người đó có phạm tội mới thì
biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù sẽ được bị xóa bỏ, người được hưởng án treo bắt buộc phải chấp hành hình phạt mà Tòa án đã tuyên trong bản án Hội đồng xét
xử tuyên trước đó cộng với hình phạt của bản án về tội phạm mới được thực hiện
1.2 Khái niệm và đặc điểm về thi hành hình phạt tù cải tạo không giam giữ
1.2.1 Khái niệm cải tạo không giam giữ
Cũng như chế định án treo thì cải tạo không giam giữ cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau Theo từ điển Luật học: “cải tạo không giam giữ là bắt buộc người phạm tội phải có nghĩa vụ tự cải tạo dưới sự dám sát, quản lý của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi họ làm việc hoặc cư trú qua việc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định”, BLHS năm 1985 ghi nhận hình phạt cải tạo không giam giữ là một trong những hình phạt chính quy định tại Điều 24 BLHS quy định: “Cải tạo
Trang 10không giam giữ được áp dụng từ sáu tháng đến hai năm đối với người phạm tội ít nghiêm trọng
Nếu người bị kết án đã bị tạm giam thì thời gian tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ mọt ngày tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ”, so với BLHS năm 1999 mở rộng thêm việc áp dụng
và đẩy mạnh tăng cường nghĩa vụ Kế thừa các quy định trên, tại Điều 36 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định cụ thể:
“Cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng được quy định cụ thể trong BLHS mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi cư trú một cách rõ ràng nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội, cụ thể là trong khung hình phạt từ 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm Nguyên tắc 01 (một) ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ được áp dụng nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam và thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ”
1.2.2 Đặc điểm
Khác với án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, phải hiểu rằng cải tạo không giam giữ là một hình phạt chính, mang
tính chất nghiêm khắc nhất trong các hình phạt không phạt là phạt tù, nhẹ hơn hình phạt tù và nặng hơn phạt tiền và phạt cảnh cáo
Thứ hai, tính chất của hình phạt vẫn thể hiện sự hạn chế tự do biểu hiện ở việc
người bị kết án dù được cải tạo, giáo dục tại địa phương nhưng không được rời khỏi nơi cư trú (nếu có thì phải có văn bản hợp pháp)
Thứ ba, cải tạo không giam giữ cụ thể riêng biệt có nội dung, điều kiện và giới
hạn áp dụng so với hình phạt khác Người bị kết án bị khấu trừ một phần thu nhập
từ 5% đến 20% để sung vào công quỹ Nhà nước và đó là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện về cải tạo không giam giữ vả
1.3 Chủ thể thi hành hình phạt tù án treo, cải tạo không giam giữ
1.3.1 Tòa án nhân dân
Có rất nhiều quy định nói về chủ thể Tòa án trong việc thi hành án treo, cải tạo không giam giữ ví dụ như: Theo Điều 102 Hiến pháp năm 2013, Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án khác do luật định là cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp Được quy định trong Luật THAHS năm 2019 tại các Điều 20, 61, 62, 66, 69, 72, 73, 77, 78, Tòa án yêu cầu mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc và chính xác nhằm đảm bảo các bản án, quyết định phải đưa ra thi hành nghiêm chỉnh Bên cạnh đó, trong BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 được quy định ở Điều 64, 66, 67,73, 76,
Trang 1177… hơn thế nữa, trong BLTTHS năm 2015 quy định tại các Điều 254, 255, 250,
276, 288, 293, 294, 299… qua những quy định trên thì ta thấy được rằng Tòa án có tầm quan trọng rất cao trong công tác thi hành án Cụ thể như sau:
(1) Ra quyết định THA;
(2) Ra hoặc hủy một số quyết định như: Quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện; Quyết định đình chỉ THA; Quyết định miễn chấp hành án, giảm thời hạn chấp hành án; Quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù; Quyết định kéo dài thời hạn trục xuất; Quyết định rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
(3) Xem xét, giải quyết việc cho nhận tử thi của người bị THA tử hình;
(4) Gửi bản án, quyết định được thi hành và một số quyết định khác liên quan đến THAHS, tài liệu có liên quan cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này;
(5) Trường hợp phạm nhân là công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án phạt tù
ở nước ngoài được chuyển giao về Việt Nam để chấp hành án, chuyển giao phạm nhân là người nước ngoài thì Tòa án có trách nhiệm ra quyết định tiếp nhận;
(6) Có trách nhiệm ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với phạm nhân có biểu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất đi khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
(7) Bên cạnh đó, thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về THAHS theo thẩm quyền
1.3.2 Viện kiểm sát nhân dân
Vì mục đích của chuyên đề có phần trình bày rất cụ thể về chức năng, nhiệm
vụ của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát thi hành án treo, cải tạo không giam giữ nên chủ thể này sẽ được trình bày cụ thể tại Chương 2 của chuyên đề
1.3.3 Công an cấp xã
UBND cấp xã là cơ quan có nhiệm vụ quan trọng trong công tác thi hành án treo, cải tạo không giam giữ Tuy nhiên, nguyên nhân do Nghị định số 60, 61/2000/NĐ-CP của Chính phủ không quy định rõ bộ phận, cá nhân nào chịu trách nhiệm trong việc tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án treo, cải tạo không giam giữ nên ở nhiều địa phương đã rất lỏng lẽo, ít chú tâm đồng thời không thống nhất trong việc phân công người chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ và không rõ bộ phận, cá nhân nào thuộc UBND cấp xã chịu trách nhiệm chính trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ trên, có địa phương thì giao cho Công an xã chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục người chấp hành án treo Để đảm bảo cho công tác tổ chức
Trang 12thi hành án treo, cải tạo không giam giữ tại các xã, phường, thị trấn thực sự mang lại hiệu quả cao, nâng cao chất lượng THA về án treo và cải tạo không giam giữ
trong tình hình hiện nay, tại Điều 19, 63, 74 Luật THAHS năm 2019 đã giao cho
Công an cấp xã, mà cụ thể là Trưởng Công an cấp xã có nhiệm vụ tham mưu, hỗ trợ giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án treo, cải tạo không giam giữ Cụ thể như sau:
(1) Trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về việc giám sát, giáo dục, quản lý người được hưởng án treo, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, quản lý người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải được UBND cấp xã đôn đốc và tích cực thực hiện một cách hiệu quả nhất; kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế; Và cấm một số vấn đề như: cấm cư trú, đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân;
(2) Công an xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Công an cấp xã) tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định pháp luật
1.3.4 Gia đình, các cơ quan, tổ chức, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, cộng đồng dân cư
Có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức, quản lý giám sát tiến hành các hoạt động giáo dục người bị kết án tạo điều kiện thuận lợi cho họ sửa chữa lỗi lầm giúp họ sớm có thể trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội Tại Điều 6 Luật THAHS năm 2019 quy định: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật”
Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, tổ chức ở cơ sở có trách nhiệm phối hợp với UBND cấp xã trong việc tổ chức họp tại cộng đồng dân cư nơi người được hưởng
án treo, chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ cư trú, làm việc để kiểm điểm người đó trong trường hợp họ vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 64, 75 Luật THAHS năm 2019 và bị nhắc nhở từ hai lần trở lên mà tiếp tục vi phạm nhưng chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự
Bên phía gia đình là một chủ thể cũng không kém phần quan trọng trong công tác thi hành án treo, cải tạo không giam giữ bởi lẽ gia đỉnh là nơi trực tiếp tiếp xúc giáo dục các bị án vì vậy có thể nói rằng sự tham gia của phía gia đình là vô cùng quan trọng Gia đình người được hưởng án treo, chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ là chủ thể có vai trò rất quan trọng trong việc giúp cho người bị kết án cải tạo, tích cực phấn đấu vươn lên trở thành người có ích cho xã hội Xuất phát từ mối quan hệ thân thiết, gần gũi, gắn bó trực tiếp, hàng ngày tạo nên môi trường sống ảnh
Trang 13hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, nhận thức và khuynh hưởng xử sự của người bị kết
án Điều 94 Luật THAHS quy định gia đình người được hưởng án treo, chấp hành
án phạt cải tạo không giam giữ có những trách nhiệm:
(1) Cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội trong việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;
(2) Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp hành án của người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được hưởng án treo theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục
1.3.5 Người hưởng án treo, chấp hành hình phạt tù cải tạo không giam giữ
Dù sự quản lý, giám sát và giáo dục đến mức nào thì ý thức của người được án treo, cải tạo không giam giữ là phần quan trọng và máu chốt Theo đó, nghĩa vụ của người được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ được quy định tại Điều 87, Điều
99 Luật THAHS Cụ thể như sau:
(1) Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật THAHS năm 2019;
(2) Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận;
(3) Chịu sự giám sát, giáo dục của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan THAHScấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc;
(4) Phải có mặt theo yêu cầu của UBND cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, Cơ quan THAHS Công an cấp huyện, Cơ quan THAHS cấp quân khu;
(5) Hằng tháng phải báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật THAHS năm
2019 thì khi hết thời hạn vắng mặt, người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình
Trang 141.4 So sánh thi hành hình phạt tù án treo, cải tạo không giam giữ
Đều không để người bị kết án phải ngồi tù mà được tự do hoạt động ở ngoài
xã hội Người được áp dụng hai biện pháp này phải có nơi cư trú rõ ràng, nơi làm việc ổn định
Cơ quan chịu trách nhiệm giám sát, giáo dục các đối tượng được hưởng án treo và cải tạo không giam giữ là:
(1) Cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc;
(2) Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc giám sát, giáo dục người đó
Thực hiện một số nghĩa vụ giống nhau như:
(1) Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, làm việc; (2) Tích cực tham gia lao động, học tập;
(3) Phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục;
(4) Phải khai báo tạm vắng nếu đi khỏi nơi cư trú 01 ngày;
(5) Nộp bản tự nhận xét 03 tháng một lần cho người trực tiếp giám sát, giáo dục
Trang 15- Luật Thi hành án hình sự 2019
- Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017
- Nghị định 60/2000/NĐ-CP của Chính phủ
- Thông tư liên tịch 09/2012/TTLT-BCA-BQP-
họ phải chấp hành hình phạt tù
Hình phạt cải tạo không giam giữ
là hình phạt nhằm tạo điều kiện cho người bị phạt cải tạo không giam giữ được lao động, học tập tại cộng đồng và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình
- Có nhiều tình tiết giảm nhẹ;
- Xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù
- Phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng;
- Xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội
- Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp,
- Người phạm tội ngoài tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng;
- Người phạm tội không có nơi cư trú rõ ràng;
Trang 16lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
- Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội;
- Người phạm tội nhiều lần;
- Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm;
6
Thời hạn
phạt, thử
thách
- Bị phạt tù không quá 03 năm;
- Thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, trong khoảng từ
01 năm – 05 năm;
- Có thể được rút ngắn thời gian thử thách;
- Thời gian áp dụng từ 06 tháng đến 03 năm;
- Được xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt:
+ Đã chấp hành được một phần ba thời hạn
+ Có nhiều tiến bộ + Lập công
cư trú từ 03 tháng đến 06 tháng
- Làm bản cam kết nêu rõ nội dung quyết tâm và hướng sửa chữa lỗi lầm của mình và phải có ý kiến của người được phân công trực tiếp giám sát, giáo dục
- Trường hợp đi khỏi nơi cư trú từ
03 tháng đến 06 tháng, thì phải có nhận xét của Công an cấp xã nơi người đó đến lưu trú hoặc tạm trú
để trình UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục người đó
- Ghi chép đầy đủ các nội dung quy định trong sổ theo dõi và nộp cho người trực tiếp giám sát, giáo dục khi hết thời hạn cải tạo không giam giữ;
- Khai báo và giao nộp đầy đủ phần thu nhập bị khấu trừ theo quyết định của Tòa án cho cơ quan thi
Trang 17hành án dân sự Nếu không nộp đúng hạn thì phải chịu lãi suất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
- Trường hợp người phạm tội cố ý
vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì
bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án được hưởng án treo
- Phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới
- Nếu vi phạm nghĩa vụ chấp hành
án, đã bị nhắc nhở từ hai lần trở lên nhưng vẫn còn tiếp tục vi phạm thì
sẽ bị kiểm điểm
1.5 Những điểm mới về thi hành hình phạt tù án treo, cải tạo không giam giữ
1.5.1 Những quy định mới của pháp luật liên quan đến án treo
So với BLHS năm 1999, quy định về án treo thì trong BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 giữ nguyên một số quy định như:
(1) Căn cứ áp dụng án treo: mức xử phạt tù không quá 03 năm; Nhân thân người phạm tội và các tính tiết giảm nhẹ; Xét thấy không cần phải bắt người bị kết
án chấp hành hình phạt tù
(2) Thời gian thử thách được Tòa án ấn định từ 01 năm đến 05 năm
(3) Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó
(4) Người được hưởng án treo có thể được rút ngắn thời gian thử thách khi đã chấp hành được ½ (một phần hai) quá trình thời gian thử thách, đã có nhiều tiến bộ, được sự đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục
Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 cũng có những điểm mới trong quy định về án treo như sau:
Trang 18Thứ nhất, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 thu hẹp phạm vi điều kiện
để được miễn việc chấp hành hình phạt tù của người trước đó đã được Tòa án quyết định xử phạt tù cho hưởng án treo
Khoản 5 Điều 60 BLHS năm 1999 quy định: “Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này.” Từ quy định này có thể hiểu điều kiện được hưởng án treo trong BLHS năm 1999 chỉ là người bị kết án phải không phạm tội mới trong thời gian thử thách và nếu trường hợp vi phạm điều kiện này thì người
bị kết án không được hưởng án treo nữa mà chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của BLHS Khoản 5 Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều
56 của Bộ luật này.” Từ quy định này có thể hiểu điều kiện để người đã được Tòa
án quyết định xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo được miễn việc chấp hành hình phạt tù trong BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 là:
(1) Người bị kết án không phạm tội mới trong thời gian thử thách;
(2) Người bị kết án không được cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 (hai) lần trở lên theo quy định của LTHAHS năm 2019
Như vậy, ở BLHS năm 1999 nếu người được hưởng án treo trong thời gian thử
thách có vi phạm nghĩa vụ của việc chấp hành án (dù cố ý hay vô ý, dù bao nhiêu lần) thì họ vẫn tiếp tục được hưởng án treo, chỉ khi họ có hành vi phạm tội mới thì mới được coi là vi phạm điều kiện được hưởng án treo và không được hưởng án treo nữa Tuy nhiên, ở BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 thì khác hoàn toàn nếu trường hợp người được hưởng án treo trong thời gian thử thách cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của LTHAHS 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể không cho họ được hưởng án treo nữa mà bắt họ chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo Đây là điểm mới được coi là bất lợi với người được hưởng án treo
Thứ hai, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 có quy định cụ thể về việc
phải thực hiện nghĩa vụ của người được hưởng án treo trong thời gian thử thách tại khoản 1 Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 Khi cho bị án được hưởng
án treo, tòa án buộc người chấp hành án phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian
Trang 19thử thách theo quy định của LTHAHS năm 2019 Các nghĩa vụ của người chấp hành hình phạt án treo được quy định tại Điều LTHAHS năm 2019, đó là:
Quy định người chấp hành án phải thực hiện nghĩa vụ trong thời gian thử thách là quy định mới làm tiền đề cho những quy định tiếp theo khi người chấp hành án vi phạm các điều kiện được hưởng án treo, có tác dụng làm cho công tác thi hành án treo, việc chấp hành án treo có hiệu quả hơn, không mang tính hình thức
Thứ ba, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 sử dụng thuật ngữ “nơi cư
trú” thay cho “nơi thường trú” trong BLHS năm 1999 về nơi người bị kết án chấp hành án
Khoản 2 Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: “Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú để giám sát, giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó” Nơi cư trú là địa bàn hành chính trong phạm vi ở xã, phường nơi người đó được hưởng án treo thường trú hoặc tạm trú Thường trú là nơi người chấp hành án có đăng kí hộ khẩu thường trú còn cư trú là nơi người chấp hành án sinh sống ngoài nơi đã đăng kí thường trú và đã đăng kí tạm trú Như vậy, địa điểm người được hưởng án treo chấp hành án đã được mở rộng hơn, cho phép có thể cải tạo, giáo dục cả ở những nơi người chấp hành án không có hộ khẩu thường trú mà chỉ đăng kí tạm trú theo quy định của pháp luật nhưng sinh sống, làm việc lâu dài, thường xuyên việc tạm trú phải lâu dài, thường xuyên và có đăng kí tạm trú theo đúng quy định của pháp luật
Thứ tư, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 có ghi nhận về việc người
được hưởng án treo bị áp dụng hình phạt bổ dung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt bổ sung
Khoản 3 Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định: “Tòa án
có thể quyết định áp dụng đối với người được hưởng án treo hình phạt bổ sung nếu trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này” Hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 32 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, bao gồm:
(1) Bị cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định; (2) Cấm được cư trú;
(3) Quản chế;
(4) Bị tước một số quyền công dân;
(5) Tịch thu tài sản;
(6) Phạt tiền, trường hợp không áp dụng là hình phạt chính;
(7) Trục xuất, trường hợp không áp dụng là hình phạt chính
Trang 20Nhìn chung, quy định về án treo trong BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
nghiêm khắc hơn, bảo đảm tính khả thi và tính hiệu quả giáo dục, cải tạo cao hơn đối với người bị kết án
1.5.2 Những quy định mới của pháp luật liên quan đến cải tạo không giam giữ
So với BLHS năm 1999, quy định về cải tạo không giam giữ thì trong BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có những nội dung mới sau đây:
Thứ nhất, tại khoản 2 Điều 36 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 sử dụng
thuật ngữ “Cư trú” thay cho thuật ngữ “Thường trú” được quy định tại Điều 31 BLHS năm 1999 Như vậy, ta thấy rằng nơi người chấp hành án cải tạo không giam giữ đã được mở rộng hơn, cho phép có thể chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cả ở những nơi người chấp hành án không có hộ khẩu thường trú Quy định mới này đã khắc phục được hạn chế trong thực tiễn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, trong trường hợp người phạm tội đến cư trú tại nơi ở mới mà chưa có hộ khẩu thường trú
Thứ hai, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 bổ sung một số quy định
về việc khấu trừ thu nhập của người bị kết án cải tạo không giam giữ như: việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng và không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 thì người chấp hành án bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung vào công quỹ Nhà nước Việc khấu trừ được thực hiện hàng tháng… và không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành
án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự Như vậy, điểm mới so với BLHS năm
1999 là xác định rõ hàng tháng và những người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự trong thời gian chấp hành án cải tạo không giam giữ thì vấn đề khấu trừ thu nhập không được đặt ra với họ Quy định này tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ trên thực tế, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, ưu đãi của Nhà nước đối với người đang làm nghĩa vụ quân sự, bảo vệ tổ quốc Đây cũng có thể coi là quy định có lợi cho người bị kết án cải tạo không giam giữ;
Thứ ba, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định việc thực hiện công
việc lao động phục vụ cộng đồng trong trường hợp người bị phạt hình phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm
Khoản 4 Điều 36 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, quy định:
“Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ
Trang 21Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần
Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng”
Lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ là quy định mới mang tính thay thế trong những trường hợp mà người chấp hành án không
có khả năng thực hiện được nghĩa vụ cải tạo không giam giữ (khấu trừ thu nhập) do không có việc làm hoặc bị mất việc làm Một nội dung quan trong của cải tạo không giam giữ là người chấp hành án phải bị khấu trừ một phần thu nhập từ kết quả làm việc, lao động của mình để xung công quỹ Tuy nhiên, trong trường hợp người chấp hành án bị mất việc làm hoặc không có việc làm, để đảm bảo rằng người chấp hành
án phải thực hiện nghĩa vụ lao động, cải tạo để trở thành công dân tốt và tăng thêm thu nhập cho Nhà nước từ việc lao động của người bị kết án thì buộc người chấp hành án phải lao động công ích phục vụ cộng đồng Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội đồng thời khắc phục được hạn chế trong công tác thi hành phạt cải tạo không giam giữ trước đây Tuy nhiên, Nhà nước cũng có chính sách nhân đạo đối với người lao động công ích, đó là: Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá
05 ngày trong 01 tuần Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
Thứ tư, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định cụ thể việc
người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại LTHAHS năm 2019 Nghĩa vụ quy định tại Điều 99 LTHAHS năm 2019 đối với người chấp hành án cải tạo không giam giữ bao gồm:
(1) Có mặt theo giấy triệu tập và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 97 của Luật này;
(2) Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, các hình phạt bổ sung theo bản án của Tòa án;
(3) Thực hiện nghĩa vụ nộp phần thu nhập bị khấu trừ; thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định của pháp luật;
(4) Chịu sự giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, nơi làm việc;
Trang 22(5) Chấp hành quy định tại Điều 100 của Luật này;
(6) Có mặt theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
(7) Hằng tháng phải nộp bản tự nhận xét về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành
án cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục
Thứ năm, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mở rộng phạm vi áp
dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Điều 100 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô
ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng thì Hình phạt cải tạo không giam giữ vẫn được áp dụng”
So với quy định BLHS năm 1999 thì quy định này có tính mở rộng hơn Tại BLHS năm 1999, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người dưới 18 tuổi trở lên đó là: đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng Nhưng BLHS năm
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 lại cho phép áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi họ phạm tội rất nghiêm trọng
do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng phạm tội nghiêm trọng hoặc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng Đây là một quy định có lợi cho người phạm tội là người dưới 18 tuổi;
Thứ sáu, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định chặt chẽ hơn
về giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017 thì điều kiện để người chấp hành án cải tạo không giam giữ có thể được giảm thời hạn chấp hành hình phạt nếu: đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự
Theo quy định tại khoản 4 Điều 62 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017 thì:
Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền theo quy định của LTHAHS năm 2019 thi hành các biện pháp giám sát, giáo dục, khấu trừ một phần thu nhập, buộc lao động công ích đối với người chấp hành án nhằm bảo đảm cho người chấp hành án tự cải tạo trở thành công dân tố, có ích cho xã hội Người chấp hành án có thể được tiếp tục làm việc tại
cơ quan, tổ chức trong công an nhân dân, quân đội nhân dân trong thời gian chấp hành án Với những quy định mới về cải tạo không giam giữ trong BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì công tác thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
Trang 23cũng phải có những nội dung mới, đó là: Tòa án cho phép có thể cải tạo không giam giữ cả ở những nơi người chấp hành án không có hộ khẩu thường trú mà chỉ có tạm trú; Việc khấu trừ thu nhập của người chấp hành án được thực hiện hàng tháng; Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa
vụ quân sự; Có thể buộc người chấp hành án phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ công ích trong thời gian cải tạo không giam giữ và phải thực nghĩa vụ quy định tại Điều 75 LTHAHS năm 2019; Chặt chẽ hơn trong việc áp dụng các quy định giảm thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Nhìn chung, những quy định BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về
hình phạt cải tạo không giam giữ có nhiều điểm có lợi cho người phạm tội so với BLHS năm 1999 nhưng cũng đồng thời quy định nghiêm khắc hơn về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt này Đối với những điểm không có lợi cho người phạm tội thì sẽ được thi hành trước ngày 01/01/2018, thời điểm BLHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật; Đối với những điểm có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng trước ngày 01/01/2018
1.6 Nội dung thi hành án treo, cải tạo không giam giữ
Thi hành án treo, cải tạo không giam giữ chứa đựng các nội dung sau:
Thứ nhất, Hoạt động ra quyết định thi hành hoặc ủy thác thi hành
Thứ hai, Trình tự, thủ tục thi hành án treo, cải tạo không giam giữ
Thứ ba, Thời gian thi hành án treo, cải tạo không giam giữ
Thứ tư, Miễn giảm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ và rút ngắn
thời gian thử thách án treo
Thứ năm, Xóa án tích đối với án treo, cải tạo không giam giữ
1.6.1 Hoạt động ra quyết định thi hành hoặc ủy thác thi hành
Thứ nhất, Về việc ra quyết định thi hành án
Về thẩm quyền, cơ quan duy nhất có thể ra quyết định THAHS chỉ có thể là Tòa án Thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án là Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm
Về thời hạn, 07 ngày là thời hạn ra quyết định thi hành án kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm Trường hợp người
bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người đó phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thi hành án Ngoài ra, trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người bị
Trang 24kết án phạt tù đang tại ngoại ra quyết định truy nã (Điều 364 Bộ luật Tố tụng Hình
sự năm 2015)
Thứ hai, Về ủy thác ra quyết định thi hành án
Theo quy định tại khoản 1 Điều 364 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì:
“Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc
ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án” Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành của Chánh án Tòa án
đã xét xử sơ thẩm thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án
Cụ thể hơn, việc ủy thác cho Tòa án cung cấp ra quyết định thi hành án thuộc một trong hai trường hợp theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02/102007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
- Khi có căn cứ về việc người bị kết án đang cư trú trên địa bàn hành chính khác thì ra quyết định ủy thác thi hành án thì Tòa ản đã xét xử sơ thẩm vụ án có trách nhiệm gửi cho Tòa án được ủy thác các tài liệu kèm theo, trong đó có tài liệu
mà căn cứ vào tài liệu này, Tòa án biết rõ người bị kết án đang cư trú trên địa bàn của Tòa án được ủy thác thi hành án Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành án, Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án;
- Sau khi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án ra quyết định thi hành án và đã gửi cho cơ quan Công an cung cấp để thi hành nhưng cơ quan Công an cũng cấp thông báo bằng văn bản cho Toà án cung cấp biệt là người bị kết án đã chuyển đi nơi khác
có địa chỉ cụ thể hoặc từ các nguồn thông tin khác, thì Tòa án sơ thẩm hủy quyết định thi hành án và thực hiện việc ủy thác thi hành án như ở trường hợp thứ nhất
1.6.2 Trình tự, thủ tục thi hành án treo, cải tạo không giam giữ
Việc thi hành án treo, cải tạo không giam giữ được thực hiện theo trình tự, thủ tục như sau:
Thứ nhất, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định
thi hành án, Cơ quan THAHS Công an cấp huyện, Cơ quan THAHS cấp quân khu triệu tập người chấp hành án, người đại diện hợp pháp đến trụ sở cơ quan thi hành
án để ấn định thời gian phải có mặt tại UBND cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc và cam kết chấp hành án, lập hồ sơ thi hành án Hồ
sơ gồm: Bản án đã có hiệu lực pháp luật; Quyết định thi hành án; Cam kết của người chấp hành án, riêng đối với người chấp hành án là người chưa thành niên tử
đủ 14 đến dưới 16 tuổi thì bản cam kết phải có sự xác nhận của người đại diện hợp pháp và các tài liệu khác có liên quan
Thứ hai, trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày triệu tập người được hưởng án
treo, người đại diện hợp pháp của người được hưởng án treo thì Cơ quan THAHS
Trang 25Công an cấp huyện, Cơ quan THAHS cấp quân khu phải giao hồ sơ thi hành án cho UBND cấp xã, đơn vị quân đội để quản lý, bổ sung, cập nhật hồ sơ thi hành án phục
vụ theo dõi, giám sát việc chấp hành án
Thứ ba, Sau khi tiếp nhận hồ sơ thi hành án, UBND cấp xã, đơn vị quân đội
thực hiện nhiệm vụ giám sát, giáo dục người chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ theo Điều 85, 97 Luật THAHS năm 2019
Thứ tư, cơ quan THAHS Công an cấp huyện, Cơ quan THAHS cấp quân khu
có trách nhiệm lập hồ sơ và đề nghị Tòa án cung cấp xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, rút ngắn thời gian thử thách ăn treo
Thứ năm, viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực
nơi người chấp hành án đang cư trú, làm việc, tự mình hoặc theo đề nghị của Cơ quan THAHS Công an cấp huyện, Cơ quan THAHS cấp quân khu xem xét, lập hồ
sơ đề nghị Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự củng cấp xét miễn chấp hành án
Thứ sáu, trước khi hết thời hạn chấp hành án hoặc thời gian thử thách 03 ngày,
UBND cấp xã, đơn vị quân đội bản giao hồ sơ thi hành án cho Cơ quan THAHS Công an cấp huyện, Cơ quan THAHS cấp quân khu để xem xét, cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian thử thách, chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ
Trang 26
Như vậy, trình tự, thủ tục thi hành án treo, cải tạo không giam giữ có thể được
mô hình hóa bằng sơ đồ như sau:
1.6.3 Thời gian thi hành án treo, cải tạo không giam giữ
Khi Tòa án ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác thi hành án đánh dấu sự kiện chính thức tổ chức thi hành án treo, cải tạo không giam giữ, đồng thời phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan thi hành án và các cơ quan, cá nhân có liên quan theo quy định của Luật THAHS, mặc dù thời gian chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ được tính ngay từ thời điểm Tòa án tuyên án Thời gian thi hành
án treo là thời gian thử thách của án treo, bao gồm một khoảng thời gian do Tòa án
ấn định bằng hai lần mức hình phạt tù nhưng không được dưới 1 năm và không
Tòa án ra quyết định thi hành án
Cơ quan THAHS Công an cấp huyện hoặc Cơ quan THAHS cấp quân khu triệu tập người chấp hành án và
lập hồ sơ thi hành án
UBND cấp xã, đơn vị quân đội phân công người trực tiếp giám sát, giáo dục và phối hợp với các cơ quan, tổ chức, gia đình tiến hành giám sát, giáo dục người chấp
hành án
Cơ quan THAHS lập hồ sơ đề nghị
Tòa án xét giảm thời hạn chấp hành
án phạt cải tạo không giam giữ, rút
ngăn thời gian thử thách án treo
Viện kiểm sát xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa án quyết định miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
Khi chấp hành xong thời gian thử thách án treo, chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ, UBND cấp
xã, đơn vị quân đội có trách nhiệm bàn giao hồ sơ thi hành án cho Cơ quan THAHS Công an cấp huyện hoặc
Cơ quan THAHS cấp quân khu
Cơ quan THAHS Công an cấp huyện hoặc Cơ quan THAHS cấp quân khu xem xét và cấp giấy chứng nhận
đã chấp hành xong thời gian thử thách, chấp hành xong
án phạt cải tạo không giam giữ