1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lịch sử các học thuyết kinh tế ĐỀ TÀI: Lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo và sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam hiện nay.

18 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 630,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí thuyết lập luận rằng các nước có thể hưởng lợi từ thương mại quốc tế bằng cách chuyên sản xuất hàng hóa mà họ có chi phí cơ hội tương đối thấp hơn ngay cả khi họ không có lợi thế tuyệ

Trang 1

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế ( ECO06A)

ĐỀ TÀI: Lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo và sự vận

dụng vào thực tiễn Việt Nam hiện nay.

Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Giang

Sinh viên thực hiện : Tạ Thị Giang

Lớp : K23KTDND

Mã sinh viên : 23A4020082

Hà Nội, ngày 12 tháng 01 năm 2022

Trang 2

Mục Lục

MỞ ĐẦU……… 1

1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1

2 Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu……… 1

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu……… 1

4 Cấu trúc của tiểu luận ……… 2

NỘI DUNG……… 3

Chương I: Phần lý luận……….3

1.1, Khái niệm về lý thuyết lợi thế so sánh……… 3

1.2, Lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo……… …3

1,3, Ưu điểm và hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo…… 6

Chương II: Thực trạng vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo vào thực tiễn Việt Nam hiện nay……… 7

2.1, Lợi thế so sánh Việt Nam hiện nay theo quan điểm của D.Ricardo……7

2.2, Lợi thế so sánh ngành dệt may Việt Nam………9

Chương III: Giải pháp nhằm phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam…11 3.1, Chuyển đổi mô hình xuất khẩu……… 11

3.2, Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu……… 12

3.3, Điều chỉnh cơ cấu thị trường……… 13

3.4, Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu……… 13

KẾT LUẬN……… 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 16

Tài liệu Tiếng Việt

Tài liệu trực tuyến

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bước vào thế XXI, Việt Nam là nước đang phát triển, để khẳng định vị thế của mình nước ta còn phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách và cũng cần

áp dụng nhiều lý thuyết của các trường phái trên thế giới để khắc phục thúc đầy phát triển kinh tế của nước nhà Tự do hoá thương mại đã và đang trở thành là xu hướng chung của thế giới, và Việt Nam cũng không ngoại lệ Điều này mang đến cho nước ta nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với việc phát triển nền kinh tế nói chung Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam

đã đạt được những thành tựu đáng kể, dần khẳng định vị trí của mình trên thị trường quốc tế Nước ta đã áp dụng lý thuyết của D.Ricardo vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế Một trong số những lí thuyết nổi bật mà D.Ricardo đưa ra trong "Nguyên tắc Kinh tế Chính trị và Thuế" là lí thuyết về lợi thế so sánh

Lí thuyết lập luận rằng các nước có thể hưởng lợi từ thương mại quốc tế bằng cách chuyên sản xuất hàng hóa mà họ có chi phí cơ hội tương đối thấp hơn ngay cả khi họ không có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất bất kỳ hàng hóa

đặc biệt nào Chính vì thế, em đã chọn đề tài: “Lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo và sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu

luận

2 Mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích lợi thế so sánh theo quan điểm David Ricardo từ đó vận dụng lý thuyết vào thực tiễn Việt Nam hiện nay và đề ra một số giải pháp nhằm giúp nước ta vận dụng có hiệu quả lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: dựa trên quan điểm của D.Ricardo về lý thuyết lợi thế so sánh

Trang 4

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp luận, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp,…

4 Cấu trúc của tiểu luận

Chương 1: Phần lý luận

Chương 2: Thực trạng vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo

vào thực tiễn Việt Nam hiện nay

Chương 3: Giải pháp nhằm phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam

Trang 5

NỘI DUNG

Chương I: Phần lý luận

1.1, Khái niệm về lý thuyết lợi thế so sánh

Trong kinh tế học, lý thuyết lợi thế so sánh (Comparative Advantage) đề cập đến khả năng của một bên (có thể là một cá nhân, một

công ty hoặc một quốc gia) trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể với chi phí cơ hội thấp hơn một bên khác Đó là khả năng sản xuất một sản phẩm hiệu quả nhất so với tất cả các sản phẩm khác có thể được sản xuất Lợi thế so sánh có thể được xem là đối lập với lợi thế tuyệt đối đề cập đến khả năng của một bên sản xuất một hàng hóa cụ thể với chi phí tuyệt đối thấp hơn bên khác Đây là lý do tại sao thương mại có thể tạo ra giá trị cho cả hai bên - bởi vì mỗi bên có thể tập trung vào hoạt động mà họ có chi phí cơ hội thấp

hơn

1.2, Lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo

a, Bối cảnh ra đời của học thuyết của David Ricardo

Học thuyết của David Ricardo ra đời trong thời kì cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xác lập địa vị thống trị hoàn toàn với hai giai cấp tư sản và vô sản đối lập nhau; phân công lao động xã hội phát triển, mâu thuẫn giai cấp bộc lộ rõ ràng hơn sống trong thời kì này, David Ricardo có thể nhìn nhận và phân tích các quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản và nhìn rõ hơn mâu thuẫn giai cấp trong xã hội

tư bản chủ nghĩa cũng như vạch ra cơ sở kinh tế của những mâu thuẫn đó Ông đã nhận thấy những hạn chế trong học thuyết của Adam Smith và phát triển nó thành học thuyết lợi thế so sánh/lợi thế tương đối (comparative advantage)

Ý tưởng về lợi thế so sánh (lợi thế tương đối) được đề cập đến lần đầu tiên bởi Robert Torrens (1780 - 1864, người Anh) vào năm 1815 trong bài

Trang 6

viết về thương mại mặt hàng ngô (An essay on the external com trade) Robert kết luận rằng, nước Anh có lợi khi sản xuất các mặt hàng khác để đổi lấy ngô từ Ba Lan cho dù Anh có thể sản xuất ngô rẻ hơn Ba Lan Tuy nhiên,

lý thuyết lợi thế so sánh chỉ thật sự gắn liền với tên tuổi của David Ricardo khi ông phát triển nó trong tác phẩm nổi tiếng năm 1817 “Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa”

b, Nội dung của lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo

D.Ricardo đã đưa ra lý thuyết về lợi thế so sánh, với nội dung là tập trung phân tích chi phí so sánh và tìm hiểu bằng cách nào để một quốc gia thu lợi được từ thương mại khi chi phí thấp hơn tương đối

Theo David Ricardo, lợi thế so sánh là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế, khi các quốc gia tập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi những mặt hàng có bất lợi nhỏ nhất hoặc những mặt hàng có lợi lớn nhất thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi Vì vậy, những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, mức sản lượng và tiêu dùng trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại

Một nước cần phải lựa chọn mặt hàng để chuyên môn hoá sản xuất theo công thức:

Trang 7

Nếu chi phí để sản xuất của sản phẩm A của nước X so với thế giới nhỏ hơn chi phí để sản xuất sản phẩm B của nước X so với thế giới, hay là A < B thì nước X nên chuyên môn hoá vào việc sản xuất sản phẩm M, còn thế giới nên chuyên môn hoá vào sản xuất sản phẩm N Để làm rõ cho nội dung lý thuyết trên, ta xét mô hình thương mại đơn giản sau:

(giờ lao động)

Bồ Đào Nha (giờ lao động)

Theo số liệu trên thì Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối so với Anh cả về sản xuất lúa mì và rượu vang, năng suất lao động của Bồ Đào Nha gấp 2 lần của Anh trong sản xuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sản xuất lúa mỳ Tuy nhiên, nếu xét theo lợi thế so sánh, 1 đơn vị rượu vang tại Anh sản xuất tốn chi phí tương đương với chi phí sản xuất 2 đơn vị lúa mì Như vậy, Bồ Đào Nha sản xuất rượu vang rẻ hơn tương đối so với ở Anh và ở Anh sản xuất lúa

mỳ sẽ rẻ tương đối hơn so với Bồ Đào Nha Anh có lợi thế so sánh về sản xuất lúa mì còn Bồ Đào Nha có lợi thế so sánh về sản xuất rượu vang Từ đó, Anh nên chuyên môn hoá vào sản xuất lùa mỳ, còn Bồ Đào Nha nên chuyên môn hoá sản xuất rượu vang

Từ ví dụ trên ta có thể kết luận rằng sau khi tập trung sản xuất mặt hàng

có lợi thế so sánh cùng với sự trao đổi thương mại giữa hai nước, tổng sản phẩm tăng lên, thu nhập thực tế của xã hội nói chung, của mỗi quốc gia nói riêng cũng tăng lên Hay có thể nói ngắn gọn rằng, sau khi mỗi nước tập trung chuyên môn hoá sản xuất ngành hàng có lợi thế và thông qua trao đổi thương mại thì cả hai bên đều có lợi

c, Ý nghĩa của lý thuyết

Trang 8

Tư tưởng của D.Ricardo về lợi thế so sánh mở đầu cho những phân tích mới về mối quan hệ của một nền kinh tế với thế giới bên ngoài Nó chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn đạt hiệu quả cao cần phải gắn mình với phần còn lại của thế giới để lựa chọn chuyên môn hoá sản xuất sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh Đây chính là một trong những tư tưởng quan trọng của lý thuyết kinh tế mở, hội nhập kinh tế quốc tế hiện đại

1,3, Ưu điểm và hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo

Ưu điểm của lý thuyết:

Chi phí cơ hội thấp hơn và tỷ suất lợi nhuận cao hơn Các quốc gia -

hoặc các doanh nghiệp - có lợi thế so sánh có thể tập trung lao động, vốn và

nguồn lực của họ vào sản xuất đòi hỏi chi phí cơ hội thấp hơn và do đó đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn

Tăng hiệu quả Các doanh nghiệp chọn chuyên môn hóa sản xuất hàng

hóa hoặc dịch vụ mà họ có thể tạo ra hiệu quả hơn và sau đó mua những gì họ không thể tạo ra một cách hiệu quả từ các đối tác thương mại

Lợi thế cạnh tranh và lợi thế tuyệt đối Các doanh nghiệp tham gia vào

lĩnh vực thương mại áp dụng lợi thế so sánh để tận dụng lợi thế của mình Khi làm như vậy, họ có thể đạt được lợi thế cạnh tranh hoặc thậm chí là lợi thế tuyệt đối

Nhược điểm của lý thuyết

Chính phủ có thể hạn chế thương mại Nếu một quốc gia tự rút khỏi

hiệp định thương mại quốc tế hoặc chính phủ áp đặt thuế quan, điều đó có thể tạo ra phức tạp cho các doanh nghiệp đang dựa vào các quốc gia đó để tìm nguồn lực

Chi phí vận tải có thể lớn hơn lợi thế so sánh Mặc dù chi phí nguyên

vật liệu và nhân công ở nước ngoài có thể rẻ hơn so với việc sản xuất chúng ở

Trang 9

phí vận chuyển Trong một số trường hợp, chi phí vận chuyển có thể lớn hơn bất kỳ lợi thế so sánh nào

Sự chuyên môn hóa ngày càng tăng có thể gây khó khăn cho việc mở

rộng quy mô Nếu sản phẩm và dịch vụ của bạn yêu cầu các kỹ năng chuyên biệt, có thể khó tăng quy mô tổ chức hoặc sản lượng, vì khó tìm được nhân viên có các kỹ năng chuyên biệt đó

Chương II: Thực trạng vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo vào thực tiễn Việt Nam hiện nay

2.1, Lợi thế so sánh Việt Nam hiện nay theo quan điểm của D.Ricardo Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay thì hoạt động ngoại thương không

thể thiếu Từ việc nghiên cứu lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo, Việt Nam

đã xác định được lợi thế của mình là trong sản xuất nông nghiệp và sản xuất những mặt hàng sử dụng nhiều lao động Việt Nam chủ yếu tâp trung xuất khẩu những mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, cao su, những mặt hàng thô

sơ chưa qua sơ chế (dầu thô, than đá ) và sau này là những mặt hàng sử dụng nhiều lao động như dệt may, giầy dép… Xuất phát từ những lợi thế rất rõ mà Việt Nam đang có là vị trí địa lý thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp với trên 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có hai vùng đồng bằng phì nhiêu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, là những vùng trồng lúa được xếp vào loại tốt nhất của thế giới; có vùng đất đồi núi bao la có thể phát triển cây công nghiệp và rừng; có bờ biển dài tới 3.200 km, cùng với diện tích mặt nước lớn khác có thể phát triển thuỷ sản Ngoài ra, Việt Nam còn có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên phong phú bao gồm tài nguyên đất, nước, biển, rừng, sinh vật, khoáng sản và du lịch, lợi thế về nguồn lao động trẻ dồi dào, giá rẻ Tuy nhiên, những lợi thế so sánh Việt Nam hiện có chỉ là lợi thế “tĩnh” hay còn gọi là lợi thế cấp thấp (sản xuất ra sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố lao

động, giá trị gia tăng thấp)

Trang 10

Hiện tại, lợi thế so sánh cấp thấp đang là một nhân tố quan trọng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Nhưng nếu chỉ đơn thuần dựa vào lợi thế này thì Việt Nam khó có khả năng thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệp ở mức độ cao hơn Mặt khác, điều kiện tự do của AFTA, cùng với sự phát triển nhiều loại hình công nghệ mới, sẽ hướng các công ty xuyên quốc gia đầu tư vào những nước có các điều kiện và lợi thế sản xuất cấp cao hơn (gọi là lợi thế “động” bao gồm vốn, công nghệ cao, nhân công trình độ cao, cơ sở hạ tầng hiện đại…) Hơn nữa, giá cả của các loại hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra chủ yếu dựa trên lợi thế về điều kiện sản xuất cấp thấp luôn rẻ hơn so với các mặt hàng chế biến dựa trên lợi thế về các điều kiện sản xuất cấp cao hơn Vì vậy, Việt Nam cần phải có một bước chuyển rất căn bản: mở rộng lợi thế so sánh ra nhiều mặt hàng, nhóm hàng có giá trị cao Muốn vậy phải kết hợp đồng thời nhiều yếu tố: vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn nhân lực phong phú, trong đó nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng cho việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh phát triển hiện nay, bởi nó tạo ra bước nhảy vọt về năng suất

2.2, Lợi thế so sánh ngành dệt may Việt Nam

Trong nhiều năm qua, ngành Dệt may Việt Nam đã có những bước phát triển ấn tượng và vươn lên trở thành một trong số các ngành công nghiệp mũi nhọn của cả nước, đóng góp 10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc và tạo công ăn việc làm cho gần 3 triệu lao động, chiếm 25% tổng số lao động trong ngành công nghiệp, chiếm 5% tổng số lao động của Việt Nam Doanh thu dệt may từ thị trường trong nước tăng mạnh từ 300 triệu USD lên khoảng 4,5 tỷ USD sau 20 năm Từ chỗ phát triển để phục vụ nhu cầu nội địa là chính, đến nay dệt may Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 3 cả nước cũng như đứng thứ 3 thế giới về kim ngạch xuất khẩu với giá trị xuất khẩu đạt gần

Trang 11

40,82 tỷ USD trong năm 2019, tăng 11,35% so với năm 2018 Khoảng 90% sản xuất dệt may của Việt Nam là để phục vụ xuất khẩu

Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng từ 14,74% trong năm 2001 lên mức kỷ lục là 19,23% trong năm 2003 Tỷ trọng này có xu hướng giảm dần và chỉ còn 13,41% trong năm

2019 Trong khi đó, tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của toàn thế giới liên tục gia tăng qua các năm từ 0,61% trong năm 2001 lên 2,07% trong năm 2010, 3,54% trong năm 2015 và đạt mức kỷ lục 4,92% trong năm 2019 Các thị trường xuất khẩu dệt may chính của Việt Nam là Hoa Kỳ (chiếm 45,21% thị phần xuất khẩu dệt may của Việt Nam), EU (13,18%), Nhật Bản (12,15%), Hàn Quốc (10,2%) và Trung Quốc (4,48%)

Những thành tựu trong những năm qua đã khẳng định vị trí của Việt Nam trong lĩnh vực dệt may trên thị trường thế giới và cho thấy dệt may là một ngành có lợi thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế Điều này được khẳng định thông qua kết quả tính toán hệ số lợi thế so sánh biểu lộ của dệt may Việt Nam RCA của ngành Dệt may Việt Nam liên tục gia tăng từ 2,5 trong năm 2001 lên mức kỷ lục 4,32 trong năm 2010, sau đó có xu hướng giảm dần và chỉ còn 3,03 trong năm 2019 Hệ số RCA > 2 cho thấy, Việt Nam có lợi thế so sánh trong lĩnh vực dệt may Về cơ bản, RCA nằm trong khoảng từ 2 - 4 trong giai đoạn 2001 - 2019 cho thấy, lợi thế so sánh của ngành Dệt may Việt Nam đạt mức trung bình Riêng trong 3 năm (2009-2011) ngành Dệt may có lợi thế so sánh ở mức cao với RCA > 4

Ngày đăng: 08/02/2022, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w