MỞ ĐẦU: I, Lý do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết,công nghiệp hóa nền nông nghiệp là con đường tốt nhất để bắt đầu một cuộc chiến lược phát triển ở các nước Châu Á gió mùa trong đó có
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế
ĐỀ TÀI: Phân tích học thuyết tăng trưởng kinh tế ở các
nước Châu Á - gió mùa của Harry Toshima? Liên hệ lý thuyết này với quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông
thôn ở Việt Nam?
Giảng viên hướng dẫn : cô Nguyễn Thị Giang
Sinh viên thực hiện : Mai Thị Vân Anh
Lớp : K23NHC
Mã sinh viên : 23A4010028
Hà nội, ngày 10 tháng 01 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU: 1
I, Lý do chọn đề tài: 1
II, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 1
III, Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 1
IV, Cấu trúc của tiểu luận: 2
NỘI DUNG: 2
Chương 1: Khái quát lý luận 2
1.1, Học thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á- gió mùa của Harry Toshima 2
1.2, Giá trị của học thuyết: 4
Chương 2: Phân tích thực trạng: quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam 5
2.1, Những thành tựu đạt được: 5
2.2, Những khó khăn gặp phải: 7
Chương 3: Giải pháp 10
3.1, Các giải pháp đưa ra: 10
3.2, Liên hệ sinh viên: 12
KẾT LUẬN: 13
Trang 3MỞ ĐẦU:
I, Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết,công nghiệp hóa nền nông nghiệp là con đường tốt nhất để bắt đầu một cuộc chiến lược phát triển ở các nước Châu Á gió mùa trong đó có Việt Nam để tiến tới một xã hội có cơ cấu kinh tế công- nông- dịch vụ Ngoài việc tiếp thu các học thuyết kinh tế khác thì việc nghiên cứu
về học thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á- gió mùa của Harry Toshima thật sự là cần thiết và quan trọng Nó có thể giúp các nước Châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng vận dụng ngay vào tình hình thực tiễn của nước mình với một khí hậu gió mùa để có định hướng phát triển ngành nông nghiệp đúng đắn, phù hợp Vì vậy việc học tập và nghiên cứu học thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á- gió mùa của Harry Toshima luôn có vai trò to lớn đối với mỗi người để không chỉ hiểu hơn về nền nông nghiệp của đất nước mà còn biết vận dụng và phát triển nó vào thực tiễn công nghiệp hóa nền nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam
II, Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn chú trọng đến việc nghiên cứu học thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á- gió mùa của Harry Toshima, từ đó liên hệ tới thực tiễn quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam Nhận ra những vấn đề còn tồn tại của nền nông nghiệp Việt Nam và đưa ra biện pháp khắc phục hiệu quả, thúc đẩy sự nghiệp phát chung của cả nước
III, Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là học thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á- gió mùa của Harry Toshima, kết hợp với việc sử dụng
phương thống hóa để nhìn nhận vào thực tiễn nông nghiệp Việt Nam và đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề
Trang 4IV, Cấu trúc của tiểu luận:
Bài tiểu luận gồm 3 phần lớn là mở đầu, nội dung và kết luận xoay
quanh vấn đề: Phân tích học thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á - gió mùa của Harry Toshima và liên hệ lý thuyết này với quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam Ngoài phần bìa, mục lục và mở đầu phía trên, nội dung dưới đây bao gồm ba chương chính: chương 1: khái quát
lý luận về nội dung và giá trị của học thuyết nghiên cứu; chương 2: phân tích thực tiễn quá trình công nghiệp hóa nông nghiêp, nông thôn Việt Nam dựa trên học thuyết vừa nghiên cứu; chương 3: đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề
và liên hệ với sinh viên hiện nay Cuối cùng, bài tiểu luận sẽ được kết thúc với phần kết luận và tài liệu tham khảo
NỘI DUNG:
Chương 1: Khái quát lý luận
1.1, Học thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á- gió mùa của Harry Toshima
Harry Toshima là nhà kinh tế Nhật Bản, ông đã đưa ra học thuyết tăng trưởng kinh tế của các nước Châu Á- gió mùa Theo ông, mô hình tăng trưởng của Lewis không có ý nghĩa thực tế với tình trạng dư thừa lao động trong nông nghiệp gió mùa Bởi vì nền nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động trong các đỉnh cao thời vụ và chỉ thừa lao động trong mùa "nông nhàn" Nên Harry Toshima đã đưa ra mô hình tăng trưởng kinh tế mới đối với các nước đang phát triển ở Châu Á- gió mùa
Trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động trong nông nghiệp có thể tăng lên bằng cách giảm tình trạng thiếu việc làm trong những thời kỳ nhàn rỗi, bằng cách tăng vụ, đa dạng hóa vật nuôi, cây trồng như trồng thêm rau, quả, cây lấy củ, cây ăn quả, mở rộng chăn nuôi gia súc,
Trang 5gia cầm, nuôi và đánh bắt cá, trồng cây lâm nghiệp Từ đó nông dân sẽ có thêm việc làm, thu nhập tăng lên, họ sẽ có điều kiện để thâm canh, tăng vụ như đầu tư thêm giống mới, phân hóa học, thuốc trừ sâu, công cụ, kỹ thuật lao động mới
Lý thuyết này cũng giải thích tình trạng nghèo khổ của các nước Châu Á- gió mùa: nền kinh tế các nước Châu Á gió mùa chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp lúa nước chịu ảnh hưởng sâu sắc của điều kiện khí hậu gió mùa Khí hậu gió mùa chia một năm thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa (mùa canh tác) và mùa khô (mua nhàn rỗi) Như vậy, lao động trong nông nghiệp không được sử dụng một cách đầy đủ: thiếu lao động trong các đỉnh cao thời vụ và thừa lao động trong mùa nhàn rỗi Vì vậy, hiệu quả sử dụng lao động thấp, làm cho năng suất lao động thấp và thu nhập cũng thấp theo
Và Harry Toshima cũng chỉ ra để tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả công việc thì khu vực nông nghiệp cần có sự hỗ trợ của nhà nước về các mặt như hệ thống kết cấu hạ tầng vật chất và hạ tầng xã hội nông nghiệp nông thôn, giúp đỡ về cải tiến các tổ chức kinh tế nông thôn như Hợp tác xã nông nghiệp, tổ chức dịch vụ nông thôn, tổ chức tín dụng
Năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên, tạo điều kiện cho việc di dân từ nông thôn ra thành thị để phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ
Từ đó làm cho cung thị trường lao động thu hẹp và tiền lương thực tế trong ngành nông nghiệp tăng lên Khi đó, các nông trại chuyển sang cơ giới hóa trong nông nghiệp, làm năng suất lao động tăng nhanh, tổng sản phẩm quốc dân và GNP bình quân đầu người cũng tăng
Khi đó, sự quá độ từ nền kinh tế nông nghiệp chuyển sang nền kinh tế công nghiệp được hoàn thành Nền kinh tế tiếp tục chuyển sang giai đoạn sau
là sự quá độ từ công nghiệp sang dịch vụ Từ đó, ông kết luận nông nghiệp hóa là con đường tốt nhất để bắt đầu một chiến lược phát triển kinh tế ở các
Trang 6nước châu Á- gió mùa, tiên tới một xã hội có cơ cấu kinh tế nông- công
nghiệp- dịch vụ hiện đại
1.2, Giá trị của học thuyết:
Đối với thế giới và các nước châu Á:
Nông nghiệp hóa là con đường tốt nhất để bắt đầu một cuộc chiến lược phát triển ở Châu Á gió mùa, tiến tới một XH có cơ cấu kinh tế công – nông – dịch vụ
Lý thuyết này gợi ra rằng: trước hết phải tập trung vào phát triển nông nghiệp và sử dụng lao động nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả Mặt khác, phải phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, tạo ra thị trường của nông nghiệp và dịch vụ nông nghiệp
Các nước châu á gió mùa cần nắm rõ đặc điểm khí hậu của mình mà từ
đó có những giải pháp tăng vụ phù hợp, đầu tư nhiều hơn máy móc công nghệ vào nông nghiệp truyền thống để mang lại năng suất cao hơn, thúc đẩy kinh tế chung của cả nước phát triển
Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ người nông đúng đắn và kịp thời để cải thiện đời sống và công việc nông nghiệp của họ, từ đó góp phần thay đổi và phát triển khu vực nông thôn
Đối với Việt Nam:
Nhà nước cần chú trọng phát triển công nghiệp hóa nông nghiệp để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người nông dân, góp phần cải thiện đời sống, đổi mới bộ mặt nông thôn
Nhìn vào tính chất nhiệt đới gió mùa của nước ta và những mùa nông nhàn để có những biện pháp khắc phục hiệu quả
Nhà nước cần có chính sách giá cả, chính sách tiền lương, thuế và đầu tư hợp lý để hỗ trợ khuyến khích lĩnh vực nông nghiệp phát triển
Trang 7Công nghiệp hóa- hiện đại hóa nền nông nghiệp nhưng không bác bỏ hoàn toàn nông nghiệp truyền thống, mà phải biết kết hợp chúng một cách hợp lý và hiệu quả
Chương 2: Phân tích thực trạng: quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
2.1, Những thành tựu đạt được:
Những năm qua, trong thành công chung của cả nước có sự đóng góp hết sức quan trọng của ngành nông nghiệp, của bà con nông dân và cộng đồng doanh nghiệp Nông nghiệp vẫn luôn khẳng định vai trò bệ đỡ, góp phần ổn định đời sống người dân trong những lúc khó khăn Nông nghiệp, nông dân
và nông thôn đã có đóng góp rất quan trọng, trên nhiều khía cạnh vào ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, duy trì tăng trưởng, phục hồi và phát triển kinh tế
Theo số liệu thống kê ngành nông nghiệp trong năm 2021 vừa qua, giá trị gia tăng toàn ngành tăng 2,9%, trong đó nông nghiệp tăng trên 3,18%, lâm nghiệp tăng trên 3,85%, thủy sản tăng trên 1,85%, tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,02%, số xã đạt chuẩn nông thôn mới 68,2%, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt 48,6 tỷ USD đó là những con số đáng mừng của ngành, góp phần giúp cho GDP của cả nước vẫn tăng trong tình hình đại dịch Covid-19 đầy thử thách
Thứ nhất, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi với khí
hậu nhiệt đới gió mùa cho phép nước ta phát triển một nền nông nghiệp đa dạng về cơ cấu cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với từng vùng miền trên
cả nước
Môi trường sinh thái ở nông thôn hiện nay đã được đầu tư quan tâm bảo
vệ, môi trường nông thôn từng bước được bảo vê, phục hồi và phát triển tạo
Trang 8điều kiện cho nông nghiệp phát triển một cách bền vững
Thứ hai, lao động nông nghiệp nước ta dồi dào có khả năng học hỏi
nhanh và sáng tạo ra những máy móc phục vụ sản xuất cùng với truyền thống
và tập quán cần cù chịu khó của người nông dân trong sản xuất nông nghiệp
sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt đông nông nghiệp
Thứ ba, sản xuất vẫn được duy trì, phát triển, đảm bảo đủ nguồn cung
lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Toàn ngành đã
nỗ lực phấn đấu hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu Chính phủ giao
Thứ tư, nông nghiệp đã phát triển trên cơ sở phát huy lợi thế từng vùng
miền, sản xuất hàng hóa chuyển dịch theo hướng hiện đại, công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản phát triển nhanh, công nghệ cao được quan tâm áp dụng để giảm chi phí và nâng cao giá trị gia tăng
Khoa học công nghệ ngày càng được ứng dụng vào sản xuất nông
nghiệp, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng của ngành Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khoa học và công nghệ đã đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp… Ngoài ra, hoạt động chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ đã hỗ trợ các địa phương xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý phát huy giá trị, lợi thế cho nông sản, đặc biệt là các sản phẩm vùng miền
Thứ năm, nông dân đã phát huy vai trò chủ thể của mình, tích cực
chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ, tham gia chuỗi giá trị, nhất là trong xây dựng nông thôn mới Thu nhập của người dân nông thôn ngày càng tăng, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng được nâng cao
Thứ sáu là về nông thôn, chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới gắn với mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã về đích trước 1,5 năm so với mục tiêu Quốc hội giao Nông thôn khang trang, xanh, sạch đẹp hơn, hạ tầng thiết yếu về giao thông, thủy lợi, văn hóa giáo dục y tế được quan tâm đầu tư đồng bộ Trong 5 năm (2016 – 2020), chương trình xây dựng
Trang 9nông thôn mới đã đánh dấu một bước chuyển căn bản về chất, như: Hạ tầng nông nghiệp, nông thôn phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt vùng nông thôn Giai đoạn 2020-2021, ước có trên 63% số xã đạt chuẩn nông thôn mới;
có 165/664 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, cao hơn so với mức 15 đơn vị của năm 2015 (tăng 150 đơn vị) Kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn ngày càng được hoàn thiện Cơ sở hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông, hạ tầng thủy lợi nông thôn phát triển nhanh về
cả số lượng và chất lượng Trong giai đoạn 2010-2019, cả nước đã xây dựng mới và nâng cấp được trên 206.743 km đường giao thông; Có trên 97% số xã
có đường giao thông từ trụ sở xã đến UBND huyện được nhựa, bê tông hóa; gần 80% số xã đã trải nhựa, bê tông đường ngõ xóm; trên 64% số đường trục chính nội đồng đươc cứng hóa đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận tiện
quanh năm… Hệ thống thủy lợi ngày càng hoàn thiện, đồng bộ góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao giá trị sản xuất và thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở các địa phương Hầu hết các tỉnh, thành phố trên cả nước có áp dụng hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng cạn
Và năm 2022 tới đây, ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cả nước phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng toàn ngành 2,8-2,9%; tốc độ tăng giá trị sản xuất đạt 2,9-3,0%; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 49 tỷ USD; tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42% và nâng cao chất lượng rừng; trên 73% số
xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới; 92,5% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh để luôn xứng đáng với câu nói của Thủ tướng Phạm Minh Chính: “Nông dân là trung tâm, nông nghiệp là động lực, nông thôn là nền tảng” Và đây chính là mấu chốt để nước ta thực hiện thành công nhiệm vụ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước nói chung,và công cuộc công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng
2.2, Những khó khăn gặp phải:
Trang 10Bên cạnh những kết quả đạt được, nền nông nghiêp Việt Nam vẫn tồn tại những khó khăn và nhược điểm chưa khắc phục được
Thứ nhất, thiên tai thường xuyên xảy ra hàng năm gây thiệt hại nặng nề:
bảo, lũ lụt, hạn hán,sự thay đổi khí quyển với hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ địa cầu ấm đần lên làm băng tan ở hai cực sẽ tạo nguy cơ ngập lụt ở những vùng thấp( như đồng bằng Sông Cửu Long)
Thứ hai, nhiều loại dịch bệnh như dịch rầy nâu, đạo ôn trên lúa đang gây
nhiều khó khăn cho việc sản xuất lúa ở nước ta vì hậu quả mà nó mang lại là rất nặng nề Không chỉ ngành trồng trọt mà ngành chăn nuôi cũng gặp không
ít các khó khăn như bệnh lở mồm long móng, heo tai xanh, cúm gia cầm liên tục bùng phát gây thiệt hại cho người chăn nuôi, chính vì vậy mà nông nghiệp Việt Nam luôn đứng trước những thách thức vô cùng lớn
Trong đó, dịch Covid-19 cũng ảnh hưởng trực tiếp tới các thị trường xuất khẩu của Việt Nam , làm đứt gãy các nguồn cung ứng – tiêu thụ nông sản toàn cầu, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất, xuất khẩu nông sản
Thứ ba, tính chất nhiệt đới gió mùa của nước ta làm tăng thêm tính chất
bấp bênh vốn có của nông nghiệp Trong thời gian qua trên khắp các vùng sản xuất nông nghiệp phía Bắc của nước ta đã trải qua những đợt rét gây ảnh hưởng không nhỏ cho ngành nông nghiệp như:Tại Lai Châu trong thời gian qua ngành chăn nuôi đã gặp nhiều khó khăn do các đợt rét đậm, rét hại làm cho số trâu, bò, dê, ngựa, lợn chết lên đến 1.456 con hay tại Hải Dương cũng các đợt rét này đã gây ảnh hưởng không chỉ đến tiến độ gieo trồng mà còn gây ra các bệnh như táp lá, vàng lá, rễ kém phát triển và làm cho mạ chết tập trung Và những mùa có điều kiện khắc nghiệt không phù hợp để trồng trọt hoặc cây trồng chưa vào mùa thu hoạch thì rất dễ gây ra tình trạng thiếu việc làm cho nông dân, hay nói cách khác là hiện tượng nông nhàn
Thứ tư, diện tích đất canh tác nông nghiệp mỗi năm mỗi giảm, trong khi
đó năng suất lao động nông nghiệp rất thấp, cơ cấu kinh tế nông thôn tuy có