8 CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VỀ VIỆC LÀM CỦA KEYNES ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆC LÀM TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN ĐỐI PHÓ VỚI DỊCH COVID-19 .... Trong đó có thể nhắc đến nhà kinh tế học
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT VIỆC LÀM CỦA KEYNES VÀ Ý NGHĨA
LÝ THUYẾT VIỆC LÀM CỦA KEYNES TRONG GIAI ĐOẠN VIỆT NAM ĐỐI PHÓ
VỚI DỊCH BỆNH COVID-19
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Giang Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thanh Tâm Lớp : K23-TCA
Mã sinh viên : 23A4010571
Hà Nội, ngày 12 tháng 01 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ VIỆC LÀM CỦA JOHN MAYNARD KEYNES 3 1 Vài nét về John Maynard Keynes 3
2 Bối cảnh ra đời 3
3 Lý thuyết về việc làm của J.M Keynes 4
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN ĐỐI PHÓ VỚI DỊCH BỆNH COVID-19 8
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VỀ VIỆC LÀM CỦA KEYNES ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VIỆC LÀM TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN ĐỐI PHÓ VỚI DỊCH COVID-19 10
1 Chính phủ Việt Nam đã đưa ra những chính sách tạm thời để giải quyết vấn đề việc làm trong giai đoạn đối phó với dịch 10
2 Biện pháp lâu dài để khắc phục nền kinh tế 11
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, cùng với sự sáng tạo của con người đã làm nên rất nhiều sự thay đổi trên thế giới, đưa nhân loại tiến xa hơn Trong nhiều năm trở lại đây, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy những bước tiến vượt bậc về khoa học kỹ thuật, về dịch vụ, về sản xuất, Nhưng đằng sau thành tựu đó thì vẫn còn tồn tại không ít những vấn đề đáng quan tâm và lo ngại như: tệ nạn xã hội, khủng bố, ô nhiễm môi trường, việc làm và tình trạng thất nghiệp,
Nhưng có lẽ vấn đề được quan tâm hàng đầu và là vấn đề thiết thực hơn cả là vấn đề việc làm trong nền kinh tế thị trường Đây là vấn đề nằm trong top 10 vấn đề mang tính toàn cầu hiện nay cần được giải quyết Chính vì vậy từ các giai đoạn trước, đã có những nhà kinh tế học quan tâm và nghiên cứu về vấn đề này Trong đó có thể nhắc đến nhà kinh tế học người Anh-J.M Keynes, ông đã nghiên cứu và đưa ra những lý thuyết về vấn
đề việc làm của mình Việc lựa chọn vấn đề việc làm để nghiên cứu là rất cần thiết bởi vấn đề việc làm là vấn đền rất quan trọng đối với nền kinh tế thị trường, nó còn là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của mọi người và kéo theo sự phát triển của xã hội
Và đặc biệt vấn đề việc làm lại càng đáng được quan tâm hơn nữa khi mà dịch bệnh Covid đang diễn biến rất phức tạp và chưa có dấu hiệu dừng lại Nhiều nước trên thế giới
bị ảnh hưởng nghiêm trọng ở nhiều lĩnh vực từ dịch bệnh, vấn đề việc làm cùng không nằm ngoại lệ Vì vậy vấn đề việc làm đã là một vấn đề đáng quan tâm, nay nó càng được quan tâm nhiều hơn, đòi hỏi chính phủ cũng như các nhà kinh tế phải có những đánh giá, phân tích để đưa ra những biện pháp phù hợp với tình hình hiện nay Việt Nam cũng nằm trong số đó, là một nước đang trên đà phát triển, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, vậy nên càng phải chú trọng hơn trong vấn đề giải quyết việc làm
Nhận thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của vấn đề việc làm trong nền kinh tế thị trường, em quyết định chọ đề tài: “ Phân tích lý thuyết việc làm của Keynes và ý nghĩa
lý thuyết việc làm của Keynes trong giai đoạn Việt Nam đối phó với dịch bệnh Covid-19” làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 42 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu: giúp mọi người có cái nhìn tổng quan về lý thuyết về việc là của Keynes, từ lý thuyết này thì rút ra những ý nghĩa của lý thuyết việc làm đối với Việt
Nam trong giai đoạn đối phó với dịch bệnh Covid – 19
Để làm tốt nhiệm vụ này thì cần phải làm rõ được nội dung cơ bản của lý thuyết về việc làm của Keynes, nắm được tình hình về vấn đề việc làm ở Việt Nam từ trước đến
nay, đặc biệt chú trọng vào giai đoạn đối phó với dịch bệnh Covid – 19
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: lý thuyết về việc làm của Keynes và những vấn đề việc làm
ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: vấn đề việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn dịch bệnh
Covid-19 bùng phát
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: học thuyết Mác – Lênin về hình thái kinh tế-xã hội
Phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp logic kết hợp với lịch sử, phương pháp đối chiếu để nghiên cứu và làm rõ vấn đề
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận: bài nghiên cứu giúp người đọc có thể nắm được những nội dung của lý thuyết về việc làm của Keynes, những vấn đề cơ bản về vấn đề việc làm từ trước cho đến nay
Ý nghĩa thực tiễn: bài nghiên cứu làm rõ được ý nghĩa của học thuyết về việc làm của Keynes trong giai đoạn Việt Nam đối phó với dịch bệnh Covid-19, liên hệ về vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện nay, từ đó rút ra những bài học, đưa ra những biện pháp thích hợp để đất nước ngày càng phát triển
Trang 5CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ VIỆC LÀM CỦA JOHN MAYNARD KEYNES
1 Vài nét về John Maynard Keynes
John Maynard Keynes (1883–1946) sinh ra trong một gia đình trí thức điển hình và được đào tạo trong một môi trường thuận lợi ở Anh Bố là giảng viên giảng dạy Logic học và kinh tế chính trị học, mẹ làm thị trưởng Cambridge (1932)
Năm 14 tuổi, ông vào đại học Eton và tốt nghiệp với “điểm ưu toàn diện” và được quyền vào trường Hoàng gia ở Cambridge
Năm 1909, làm trợ lý giảng dạy tại trường Cambridge sau đó trở thành giáo sư nổi tiếng ở đó
Là một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, tín dụng và lưu thông tiền tệ, làm cố vấn cho nhà vua và chính phủ Anh về ngân khố quốc gia
Năm 1911, ông là tổng biên tập tạp chí “Kinh tế” và tạp chí “Hội kinh tế học Hoàng gia”
Ông là nhà kinh tế nổi tiếng ở Anh và thế giới tư bản, là nhà khoa học cần cù, nghiêm túc, có năng lực bẩm sinh
2 Bối cảnh ra đời
Lý thuyết về việc làm được trích ra từ tác phẩm: “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” tác phẩm đã diễn đạt toàn diện nhất tư tưởng kinh tế của Keynes, được giới kinh tế học phương Tây đánh giá như một cuộc cách mạng trong kinh tế học bởi sự mới mẻ trong tư tưởng kinh tế cũng như bởi sự quan tâm tới tính khả thi của các chính sách kinh tế và sự can thiệp vào tổng cầu
Bối cảnh ra đời tác phẩm chính là cuộc đại khủng hoảng kinh tế (1929-1933) Trước
đó, các nhà kinh tế cho rằng, mỗi khi có khủng hoảng kinh tế, giá cả và tiền công sẽ giảm đi; các nhà sản xuất sẽ có động lực đẩy mạnh thuê mướn lao động và mở rộng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi Nhưng Keynes lại quan sát cuộc khủng hoảng và nhận thấy: tiền công không hề giảm, việc làm cũng không tăng, và sản xuất mãi không được
Trang 6phục hồi Từ đó, Keynes cho rằng thị trường hoàn hảo như các nhà kinh tế học cổ điển vẫn thường quan niệm là không phù hợp nữa
3 Lý thuyết về việc làm của J.M Keynes
Theo J.M.Keynes: việc làm là một phạm trù:
+ Cụ thể hóa tình trạng nền kinh tế, không chỉ xác định tình hình thị trường lao động, sự vận động của thất nghiệp mà còn bao gồm cả tình trạng sản xuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập
+ Việc làm là cơ sở quan trọng cho việc điều tiết nền kinh tế
Các khái niệm trong lý thuyết việc làm:
+ Thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư
+ Khuynh hướng tiêu dùng và tiết kiệm
+ Số nhân đầu tư
+ Lãi suất
+ Hiệu quả giới hạn của tư bản
Thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư
Các biến số: Sản lượng (Q), Thu nhập (R), Tiêu dùng (C), Tiết kiệm (S), Đầu tư (I)
Các biến số trên phụ thuộc vào quyết định của cá nhân và có quan hệ chặt chẽ với nhau: Q = C + I; R = C + S; Vì Q = R => S = I
Khuynh hướng tiêu dùng và khuynh hướng tiết kiệm
Theo ông, khuynh hướng tiết kiệm ngày càng gia tăng, nó mang tính chất tâm lý, biểu hiện trong từng cá nhân, tổ chức xã hội và ngay cả trong các doanh nghiệp Khuynh hướng tiết kiệm được biểu hiện như sau: Khi sản xuất tăng lên thì thu nhập tăng lên, thu nhập chia làm hai bộ phận là tiêu dùng và tiết kiệm Khi thu nhập tăng thì bộ phận tiêu dùng có thể tăng tuyệt đối và giảm tương đối Khuynh hướng tiết kiệm trong tiêu dùng
cá nhân làm cho cầu tiêu dùng cá nhân tăng chậm hơn là cung Cầu đầu tư cũng có khả năng tăng chậm hơn do cầu tiêu dùng tăng chậm, lãi suất ngân hàng thường cố định ở mức tương đối cao trong khi tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút Vì thế tổng cầu
Trang 7giảm sút so với tổng cung Nhìn chung khuynh hướng tiêu dùng và tiết kiệm đều phụ
thuộc vào tâm lý chủ quan của con người
Trong thời đại của J.M Keynes đã có thay đổi lớn trong tính chất và vai trò của cầu, giá cả không còn là cơ chế lý tưởng xác lập cân bằng giữa cung và cầu Cầu luôn luôn tụt lại so với cung do người ta có xu hướng “muốn tiêu dùng một phần thu nhập ít hơn dần khi thu nhập thực tế tăng.” Do đó phát sinh “cầu bị gác lại,” cung trở nên thừa và điều này tạo điều kiện giảm đầu tư vào sản xuất, tức là thất nghiệp và khủng hoảng xuất
hiện
Để chống suy thoái và thất nghiệp, ông đề ra giải pháp là tăng mức cầu, vì tổng cầu tăng ảnh hưởng đến tổng cung sẽ làm giảm suy thoái và thất nghiệp Cách làm tăng tổng cầu là cần có sự can thiệp của nhà nước bằng cách sử dụng công cụ tài khóa là chủ yếu (thuế, chi ngân sách) Theo J.M Keynes, phần chi của chính phủ là công cụ chính yếu bởi vì khi chi tiêu, Chính phủ tăng chi tiêu làm kích thích mang tính dây chuyển để làm tăng tổng cầu nói chung Sự tăng tổng cầu tác động đến tổng cung cũng theo một tác động dây chuyền
Số nhân đầu tư (K)
Là quan hệ giữa gia tăng thu nhập(dR) với gia tăng đầu tư(dI) (sự gia tăng đầu tư sẽ
làm thu nhập gia tăng bao nhiêu lần)
Công thức:
K=𝑑𝑅 𝑑𝐼 Theo Keynes, mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo cầu bổ sung về công nhân và
tư liệu sản xuất, có nghĩa là việc làm gia tăng, thu nhập gia tăng Thu nhập tăng sẽ là tiền
đề cho tăng đầu tư mới Như vậy, số nhân đầu tư có tác động dây chuyền, nó khuếch đại thu nhập quốc dân lên Nó chỉ rõ sự gia tăng đầu tư sẽ kéo theo sự gia tăng thu nhập lên bao nhiêu Qua đó cho thấy thu nhập và đầu tư có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Từ những phân tích trên Keynes đi đến kết luận: việc đầu tư của chính phủ có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế: trước tiên là giải quyết việc làm từ đó tăng thu nhập, tăng sản lượng quốc gia,
Lãi suất
Trang 8Là phần thưởng cho việc không sử dụng tiền mặt trong một thời gian nào đó: “Là khoản thù lao cho việc mất khả năng chuyển hoán trong một thời gian nhất định Phụ thuộc vào 2 nhân tố:
+ Khối lượng tiền tệ: Lãi suất có quan hệ tỉ lệ nghịch với khối lượng tiền tệ trong lưu thông Vì vậy cần tăng cung tiền để giảm lãi suất => kích thích đầu tư
+ Sự ưa thích giữ tiền mặt: Lãi suất tăng khi dân chúng muốn giữ tiền mặt nhiều hơn
là gửi tiền vào ngân hàng Do 3 động lực sau quyết định:
Giao dịch: dùng tiền vào các giao dịch hàng ngày
Dự phòng: đề phòng cho việc chi tiêu đột xuất
Đầu cơ: nhằm kiếm lợi do hiểu rõ tương lai của thị trường chứng khoán
Lãi suất có vai trò quan trọng đối với việc làm thông qua hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Như vậy điều tiết lãi suất là vấn đề quan trọng để giải quyết việc làm
Hiệu quả giới hạn của tư bản
Là tương quan giữa thu hoạch tương lai và chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Theo Keynes, mục đích của các doanh nhân khi đầu tư là bán có“thu hoạch tương lai” Đó là chênh lệch giữa số tiền bán hàng với phí tổn cần thiết để sản xuất ra hàng hóa Tương quan giữa “thu hoạch tương lai” và phí tổn cần thiết để sản xuất hàng hóa đó gọi là hiệu quả của tư bản (%)
Cùng với sự tăng lên của vốn đầu tư thì hiệu quả của tư bản giảm dần và Keynes gọi
đó là hiệu quả giới hạn của tư bản (%)
Có hai nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là:
Thứ nhất là, đầu tư tăng làm cho khối lượng hàng hóa tăng dẫn đến giá cả hàng hóa sản xuất thêm giảm
Trang 9Thứ hai là, cung về hàng hóa tăng làm cho giá cung tổng số tư bản tăng.Từ đó làm cho phí tổn sản xuất tăng và “thu hoạch tương lai” giảm vì thế hiệu quả tư bản giảm Như vậy tăng đầu tư sẽ dẫn đến làm giảm hiệu quả giới hạn của tư bản
+ Đường biểu diễn mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư và hiệu quả giới hạn tư bản gọi
là “đường cong đầu tư” hay “đường cong hiệu quả giới hạn của tư bản”
+ Giữa hiệu quả giới hạn và lãi suất có mối quan hệ mật thiết, nó hình thành nên giới hạn của những cuộc đầu tư: khi hiệu quả giới hạn của tư bản lớn hơn lãi suất thị trường thì người ta tiếp tục đầu tư, khi hiệu quả giới hạn của tư bản nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất người ta sẽ không đầu tư nữa
Việc tăng giảm đầu tư có ảnh hưởng tới việc làm do đó phải tác động tới hiệu quả của tư bản thông qua lãi suất, giá cả, đề giải quyết việc làm
Trang 10CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN ĐỐI
PHÓ VỚI DỊCH BỆNH COVID-19
Như chúng ta đã biết dịch bệnh Covid-19 xuất hiện ở nước ta vào cuối năm 2019, cho đến nay thì vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại mà thậm chí nó còn diễn biến phức tạp
Đại dịch Covid-19 tác động đến tất cả quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Tại Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là lao động và việc làm Kết quả thống kê cho thấy là quý II năm 2020 đánh dấu sự sụt giảm lực lượng lao động lên tới hơn 2 triệu người - mức giảm chưa từng có trong thập
kỷ vừa qua, lực lượng lao động giảm chủ yếu ở khu vực nông thôn và lao động nữ Quý
II năm 2020 cũng chứng kiến sự sụt giảm mạnh mẽ của lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm và tỷ lệ lao động thiếu việc làm tăng mạnh, tỷ lệ thất nghiệp thì cao nhất trong vòng 10 năm qua, trong đó tỷ lệ thất nghiệp tăng nhiều nhất ở nhóm lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật thấp Mất việc làm đồng nghĩa với việc người lao động bị mất nguồn thu nhập thường xuyên để nuôi sống bản thân và gia đình
Ta có thể nhận thấy những yếu tố có tác động đến thu nhập và việc làm của người lao động trong giai đoạn dịch bệnh bùng phát:
Thứ nhất là về xuất khẩu: Việt Nam là một nước chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô
và hàng hóa thâm dụng lao động, tình hình dịch bện diễn biến phức tạp làm cho lượng cầu trên thị trường thế giới giảm, ngoài ra việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội cùng dẫn đến việc giảm xuất khẩu Kinh tế thế giới suy thoái, giá giảm => lượng xuất khẩu có thể tăng nhưng kim ngạch xuất khẩu giảm => ảnh hưởng tiêu cực đến cầu về lao động
Thứ hai là về đầu tư: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chủ yếu đầu tư vào những lĩnh vực có lợi thế về lao động giá rẻ, thực hiện gia công sản phẩm cho khách hàng nước ngoài Vốn đầu tư trong nước thuộc các doanh nghiệp tư nhân, làng nghề sản xuất, gia công hàng xuất khẩu giảm do cầu trên thị trường thế giới giảm, giá giảm Dịch bệnh bùng phát dẫn đến cầu giảm => FDI và đầu tư ở các làng nghề, một số doanh nghiệp
tư nhân giảm => tác động tiêu cực đến cầu về lao động