HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế ĐỀ TÀI : Phân tích luận điểm của Paul Samuelson: “Sau khi đã tìm hiểu kỹ về Bàn tay vô hình chúng
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: Lịch sử các học thuyết kinh tế
ĐỀ TÀI : Phân tích luận điểm của Paul Samuelson:
“Sau khi đã tìm hiểu kỹ về Bàn tay vô hình chúng ta không nên quá say mê với vẻ đẹp của cơ chế thị trường, coi đó là hiện thân của sự hoàn hảo, là tinh túy của sự hài hòa nằm ngoài tầm tay của mọi người” Liên hệ thực tiễn với các khuyết tật của
kinh tế thị trường tại Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Giang
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Hà Lớp : K21HTTTB
Mã sinh viên : 21A4040020
Hà nội, ngày 13 tháng 1 năm 2021
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : Phân tích luận điểm của Paul Samuelson 3
1.1 Khái quát về Paul Samuelson 3
1.2 Lý thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith 3
1.3 Lý thuyết bàn tay hữu hình của Keynes 4
1.4 Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp của Paul Samuelson 5
1.4.1 Ba vấn đề của một tổ chức kinh tế 5
1.4.2 Cơ chế thị trường 6
1.4.3 Vai trò chính phủ trong kinh tế thị trường 7
Chương 2: Thực trạng nền kinh tế và các khuyết tật nền kinh tế thị trường tại Việt Nam 9
2.1 Thực trạng nền kinh tế tại Việt Nam 9
2.2 Các khuyết tật nền kinh tế thị trường tại Việt Nam 9
2.2.1 Độc quyền 9
2.2.2 Phân phối thu nhập 10
2.2.3 Ô nhiễm môi trường 12
2.2.4 Khủng hoảng kinh tế 14
Chương 3: Đề ra một số giải pháp đối với Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay 15
3.1 Độc quyền 15
3.2 Phân phối thu nhập 15
3.3 Ô nhiễm môi trường 16
3.4 Khủng hoảng kinh tế 17
KẾT LUẬN 18
Trang 3
MỞ ĐẦU
Để đảm bảo được sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo đời sống của dân chúng, các quốc gia luôn định hướng phát triển kinh tế theo một hướng nhất định Trong số đó, chúng ta có thể nghe được nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường và chắc hẳn cũng đã từng nghe đến nền kinh tế hỗn hợp Điểm đặc sắc của nền kinh tế hỗn hợp là cơ chế hoạt động của nó, vừa tư nhân hóa vừa có sự can thiệp của nhà nước Luận điểm “Sau khi đã tìm hiểu kỹ về Bàn tay vô hình chúng ta không nên quá say mê với vẻ đẹp của cơ chế thị trường, coi đó là hiện thân của sự hoàn hảo, là tinh túy của sự hài hòa nằm ngoài tầm tay của mọi người” của Paul Samuelson mang đến nhiều giá trị cho nền kinh tế thị trường và đặc biệt là vận dụng vào nền kinh tế Việt Nam
Mục tiêu của bài tiểu luận nhằm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về luận điểm của Paul Samuelson Từ đó nêu ra ý nghĩa của việc nghiên cứu các lý thuyết này đối với Việt Nam
Nội dung bài tiểu luận được chia làm 3 phần:
Chương 1: Phân tích luận điểm của Paul Samuelson
Chương 2: Thực trạng nền kinh tế và các khuyết tật nền kinh tế thị trường tại Việt Nam
Chương 3: Đề ra một số giải pháp đối với Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay
Phương pháp nghiên cứu dựa trên các học thuyết của các nhà kinh tế học, cùng với các phương pháp nghiên cứu : Kinh tế vĩ mô, thống nhất, logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp khái quát hóa và hệ thống hóa
Trang 4Chương 1 : Phân tích luận điểm của Paul Samuelson
1.1 Khái quát về Paul Samuelson
Paul Anthony Samuelson (1915-2009) là một nhà kinh tế học người Mỹ, đại
biểu của trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp và có đóng góp to lớn ở một loạt lĩnh vực của kinh tế học Ông là người Mỹ đầu tiên nhận được Giải Nobel Kinh
tế (1970)
Ông học tại Đại học Chicago khi mới 16 tuổi khi cả thế giới đang trong vực sâu của cuộc Đại khủng hoảng, ông nhận bằng tiến sĩ về kinh tế tại Harvard Sau khi tốt nghiệp,ông trở thành trợ lý giáo sư kinh tế tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) khi mới 25 tuổi và trở thành giáo sư ở tuổi 32
Năm 1966, ông được tặng danh hiệu Institute Professor, danh hiệu giảng viên cao nhất của MIT
Những tư tưởng của trường phái chính hiện đại thể hiện khá rõ nét trong tác phẩm “Kinh tế học “ của Samuelson
1.2 Lý thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith
Theo Adam Smith, một chế độ kinh tế bình thường phải dựa trên cơ sở sản xuất
và trao đổi hàng hóa và một nền kinh tế hàng hóa bình thường phải dựa trên cơ sở
tự do cạnh tranh
Liên minh trao đổi là đặc tính vốn có của con người Nó tồn tại vĩnh viễn với loài người Ông cho rằng mỗi người trong quá trình trao đổi sản phẩm không ai xuất phát từ lợi ích công mà xuất phát từ lợi ích cá nhân của mình Lợi thế cá nhân chính
là mục đích, là động lực xuất phát Khi chạy theo lợi ích cá nhân thì lợi ích công cộng cũng được hình thành bởi một bàn tay vô hình dẫn dắt mọi người phục vụ cho lợi ích công, phục vụ cho lợi ích xã hội Bàn tay vô hình đó không nằm trong ý muốn ban đầu của con người
Bàn tay vô hình đó chính là các quy luật kinh tế khách quan chi phối hành động của con người Adam Smith gọi hệ thống các quy luật khách quan đó làmột trật tự thiên định Ông chỉ ra các điều kiện cần thiết để cho các quy luật hoạt động là: phải
có sự tồn tại và phát triển sản xuất trao đổi hàng hóa, nền kinh tế phải phát triển trên
cơ sở tự do kinh tế, tự do mậu dịch Quá trình ấy được thực hiện bởi chính quá trình
Trang 5cạnh tranh giữa các lợi ích cá nhân Không ai cần kế hoạch, không ai cần mệnh lệnh, thị trường sẽ tự động giải quyết tất cả
Theo ông quan hệ giữa người và người là quan hệ phụ thuộc về kinh tế chỉ có CNTB mới là XH bình thường, nó được xây dựng trên cơ sở các quy luật tự nhiên Ông cho rằng các chế độ XH trước đó là không bình thường Từ đó ông cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, nhà nước chỉ có chức năng bảo vệ quyền
sở hữu tư bản, đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài, chống tội phạm trong nước Nhà nước chỉ nên can thiệp vào các chức năng kinh tế khi nó vượt ra ngoài khả năng của các chủ doanh nghiệp Ông cho rằng chính sách kinh tế tốt nhất của nhà nước là tự
do kinh tế
Phương pháp lý luận của ông có tính rõ rệt khoa học và tầm thường:
- Khoa học: quan sát các mối liên hệ bên trong, các phạm trù kinh tế hoặc cơ cấu bị che lấp của hệ thống kinh tế tư sản
- Tầm thường: lý luận của ông còn nhiều mâu thuẫn, ông đặt các mối quan hệ
trên như mối liên hệ bề ngoài của hiện tượng cạnh tranh
1.3 Lý thuyết bàn tay hữu hình của Keynes
Nhà kinh tế học Keynes đã đưa ra lý thuyết nền kinh tế thị trường, theo Keynes,
sự tăng lên của sản xuất sẽ dẫn đến sự tăng lên của thu nhập, do đó làm tăng tiêu dùng Song do khuynh hướng “tiêu dùng giới hạn" nên tiêu dùng tăng chậm hơn so với thu nhập Vì vậy cầu tiêu dùng giảm tương đối, sự giảm cầu tiêu dùng sẽ kéo theo sự giảm sút của hàng hoá, từ đó làm cho tỷ suất lợi nhuận giảm xuống Và khi
tỷ suất lợi nhuận nhỏ hơn hoặc bằng lãi suất thì các chủ doanh nghiệp sẽ không có lợi trong việc vay vốn để đầu tư, họ sẽ không đầu tư vào sản xuất kinh doanh nữa Điều này sẽ dẫn đến nền kinh tế từ chỗ trì trệ, khủng hoảng và làm cho nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng Để khắc phục tình trạng đó, nhà nước cần phải can thiệp vào nền kinh tế và thị trường, phải huy động được các nguồn tư bản nhàn rỗi để mở mang các hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân, làm cho nhu cầu về cầu tăng lên, giá cả hàng hoá tăng, tăng hiệu quả của tư bản đầu tư Điều đó khuyến khích mở rộng đầu tư làm cho sản xuất tăng nhanh nhờ đó mà có điều kiện đẩy lùi khủng hoảng và tình trạng thất nghiệp
Trang 6Keynes và trường phái của ông cho rằng Nhà nước can thiệp vào kinh tế cả tầm
mô và vĩ mô Ở tầm vĩ mô, Nhà nước sử dụng các công cụ như lãi suất, chính sách tín dụng, điều tiết lưu thông tiền tệ, lạm phát, thuế, bảo hiểm, trợ cấp, đầu tư phát triển, Ở tầm vi mô, Nhà nước trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ công cộng
Trường phái Keynes cho rằng sự can thiệp của Nhà nước là tuyệt đối không một
cá nhân nào có thể thay thế
1.4 Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp của Paul Samuelson
Luận điểm của Paul Samuelson khẳng định “vẻ đẹp của cơ chế thị trường” nhưng ông cho rằng không nên quá say mê, tin tưởng vào nó vì bản thân cơ chế thị trường cũng có thể đưa nền kinh tế đến với những sai lầm
Nếu như các nhà kinh tế trường phái cổ điển và tân cổ điển say mê với “bàn tay
vô hình” và “cân bằng tổng quát” của thị trường, trường phái Keynes say sưa với
“bàn tay hữu hình”của nhà nước thì P.Samuelson chủ trương phân tích nền kinh tế dựa trên cả “2 bàn tay” của thị trường và nhà nước
Ông cho rằng “điều hành nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay”
Theo đó, đưa ra lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp :
1.4.1 Ba vấn đề của một tổ chức kinh tế
Theo Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế
- Sản xuất hàng hóa gì? với số lượng bao nhiêu?
- Sản xuất hàng hóa như thế nào? Ai là người sản xuất, sản xuất bằng nguồn lực nào?
- Sản xuất cho ai? Ai là người được hưởng các thành quả của những nỗ lực kinh tế, hay sản phẩm quốc dân được phân chia như thế nào?
Trang 71.4.2 Cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường là cơ chế tinh vi, phối hợp một cách không tự giác mọi người,
mọi hoạt động và mọi doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả thị trường
Những đặc trưng của cơ chế thị trường :
- Không phải là sự hỗn độn mà là một trật tự kinh tế
- Là phương tiện giao tiếp để tập hợp tri thức và hành động của hàng triệu cá nhân khác nhau Không có bộ não trung tâm, nó vẫn giải được những bài toán mà máy tính lớn nhất ngày nay không thể giải nổi
- Không ai thiết kế ra, xuất hiện tự nhiên và cũng thay đổi (luôn luôn thay đổi) như
xã hội loài người Không cá nhân hay tổ chức đơn lẻ nào có trách nhiệm sản xuất, tiêu dùng, phân phối hay định giá Thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và ng bán một thứ hàng hóa nào đó tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá
cả và số lượng hàng hóa
Các yếu tố cơ bản của cơ chế thị trường:
- Hàng hóa và dịch vụ: hàng hóa yếu tố đầu vào
- Cung cầu về hàng hóa trên thị trường : Sự biến đổi của giá cả dẫn đến biến đổi cung - cầu
- Giá cả của hàng hóa
Cơ chế thị trường chịu sự điều khiển của “hai ông vua” là người tiêu dùng và kĩ thuật Do đó chỉ người tiêu dùng không quyết định được sản xuất cái gì mà còn do: chi phí sản xuất, các qui định kinh doanh Vì thế thị trường đóng vai trò trung gian hòa giải sở thích người tiêu dùng và hạn chế của kĩ thuật
Đặc điểm của cơ chế vận hành:
- Cơ chế thị trường tự phát đảm bảo cân bằng cung cầu hàng hóa
- Lợi nhuận vừa là động lực vừa là mục tiêu của người sản xuất kinh doanh
Ưu điểm của cơ chế thị trường:
- Cơ chế thị trường giúp huy động có hiệu quả các nguồn lực
- Kích thích cải tiến kĩ thuật công nghệ, nâng cao năng suất lao đông nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất…
- Thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội
Trang 8- Làm cho khối lượng hàng hóa trên thị trường ngày càng phong phí đa dạng, nâng cao chất lượng sản phẩm…
Nhược điểm:
Cơ chế thị trường có thể gây nên các hiện tượng:
- Lạm phát, thất nghiệp
- Ô nhiễm môi trường: nhà sản xuất chạy đua theo lợi nhuận mà không quan tâm đến các tác động tiêu cực đến môi trường của công nghệ sản xuất
- Phân hóa giàu nghèo: cơ chế thị trường có thể đem lại sự phân phối thu nhập bất bình đẳng
- Khủng hoảng kinh tế
- Ảnh hưởng của độc quyền: sản lượng thấp, giá cả hàng hóa bị đẩy cao, hạn chế sự cải tiến kĩ thuật…
- Ngoài ra còn các khuyết tật của thị trường khác như: ngoại ứng (tích cực và tiêu cực, không có nhà cung ứng hàng hóa công cộng)
Để đối phó với những khuyết tật, sai lầm của cơ chế thị trường, nền kinh tế hiện đại cần phối hợp bàn tay vô hình của thị trường với bàn tay hữu hình của nhà nước như thuế khóa, chỉ tiêu, pháp luật…
1.4.3 Vai trò chính phủ trong kinh tế thị trường
Chính phủ (nhà nước) có 4 chức năng chính trong nền kinh tế thị trường :
- Chức năng thứ nhất là thiết lập khuôn khổ pháp luật
Chính phủ đề ra các quy tắc trò chơi kinh tế mà các doanh nghiệp, người tiêu dùng
và cả bản thân chính phủ cũng phải tuân thủ Điều này bao gồm quy định về tài sản, các quy tắc về hợp đồng và hoạt động kinh doanh, ban quản lý và nhiều luật lệ để xác định môi trường kinh tế
- Chức năng thứ hai là sửa chữa những thất bại của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả
+ Can thiệp hạn chế độc quyền (phá vỡ cạnh tranh hoàn hảo, cho phép một cá nhân hay tổ chức đơn lẻ có thể quy định giá cả hàng hóa từ đó làm biến dạng cầu và sản xuất, xuất hiện lợi nhuận siêu ngạch độc quyền và có thể được sử dụng vào những hoạt động vô ích, do đó làm giảm hiệu quả nền kinh tế)
Trang 9+ Can thiệp vào các tác động bên ngoài
Tác động bên ngoài xảy ra khi doanh nghiệp hoặc con người tạo ra chi phí - lợi ích cho doanh nghiệp khác, hoặc người khác mà các doanh nghiệp hoặc con người đó không được nhận đúng những lợi ích mà họ cần phải trả
+ Đảm nhiệm việc sản xuất các hàng hóa công cộng: Hàng hóa công cộng là một loại hàng hoá mà khi một người đã dùng thì người khác vẫn có thể dùng được + Thu thuế: để đảm bảo hoạt động của Chính phủ
- Chức năng thứ ba là đảm bảo sự công bằng :
+ Công cụ quan trọng nhất: Thuế lũy tiến, người có thu nhập cao (giàu) thuế lớn hơn người có thu nhập thấp (nghèo)
+ Công cụ thứ hai: Hỗ trợ thu nhập bằng hệ thống thanh toán chuyển nhượng
+ Công cụ thứ ba: Trợ cấp tiêu dùng cho nhóm người có thu nhập thấp bằng cách phát tem phiếu mua thực phẩm, chăm sóc y tế có trợ cấp, giảm tiền nhà,
- Chức năng thứ tư là Tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô: Chính phủ sử dụng các
chính sách tiền tệ, tài chính tác động tới chu kỳ kinh doanh, giải quyết nạn thất nghiệp, chống trì trệ, lạm phát,
Kết luận : Trong nhiều trường hợp, sự can thiệp của Nhà nước cũng có những hạn chế như có nhiều vấn đề Nhà nước không lựa chon đúng, sự tài trợ của Chính phủ
có lúc kém hiệu quả, sự ảnh hưởng của chủ quan dẫn đến việc đưa ra những quyết định sai lầm, không phù hợp với quy luật khách quan, không phản ánh đúng sự vận động của thị trường Vì vậy theo Samuelson sự can thiệp của Nhà nước chỉ nên giới hạn "trong khuôn khổ khôn ngoan của cạnh tranh"
Vậy, phát triển kinh tế có hiệu quả là phải dựa vào cả "hai bàn tay":
+ Cơ chế thị trường (bàn tay vô hình): xác định giá cả, sản lượng trong nhiều lĩnh vực
+ Sự điều tiết của Chính phủ (bàn tay hữu hình): bằng các chương trình thuế, chi tiêu và luật lệ
Trang 10Chương 2: Thực trạng nền kinh tế và các khuyết tật nền kinh tế thị
trường tại Việt Nam
2.1 Thực trạng nền kinh tế tại Việt Nam
Sau rất nhiều thăng trầm trong lịch sử, đến nay có thể khẳng định rằng nền kinh
tế Việt Nam là một nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển Tuy
nhiên còn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, du lịch, xuất khẩu thô và các nguồn đầu
tư vốn của nước ngoài Hệ thống kinh tế Việt Nam là một hệ thống kinh tế hỗn hợp Chính phủ Việt Nam tự xã định và nhận định rằng Việt Nam là một kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường Điều này đã được một số nền kinh tế thị trường tiên
tiến công nhận, nhưng cho đến nay Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản vẫn chưa thừa nhận và
xác định Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường Việt Nam là một nước có
nhiều thành phần kinh tế như: kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản Nhà nước, Và những khu vực này có
tốc độ tăng trưởng không giống nhau khi mà nền kinh tế Nhà nước và nền kinh tế
tập thể tăng trưởng chậm thì nền kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài tăng
khá nhanh
Hiện nay, quy mô nền kinh tế Việt Nam đang nắm trong top 40 nền kinh tế lớn
mạnh nhất thế giới và đứng ở vị trí thứ 4 trong ASEAN Với năm vừa qua 2020,
GDP đầu người đat mức 3.500USD/năm đã đưa Việt Nam vươn lên top 10 quốc gia
tăng trường cao nhất the giới, là 1 trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế
giới hiện nay
2.2 Các khuyết tật nền kinh tế thị trường tại Việt Nam
2.2.1 Độc quyền
Ở nước ta hiện nay đang tồn tại khá nhiều ngành nghề, lĩnh vực chịu sự độc
quyền của nhà nước Các doanh nghiệp này kinh doanh theo mô hình khép kín vừa
thực hiện các khâu cuối Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới, chính vì vậy chúng ta cần có những thay đổi trong công tác quản lý
cũng như điều hành kinh tế, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh
nghiệp phát triển một cách thuận lợi hơn Tuy nhiên hiện nay chúng ta vấn ưu ái