3 Chương 2: Thực trạng nền kinh tế Việt Nam – Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển ảnh hưởng như thế nào đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Việt Nam .... Những
Trang 1KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: ECO06A – Lịch sử các học thuyết kinh tế
ĐỀ TÀI: Phân tích các đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển Những đặc trưng đó ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước này như thế
nào? Liên hệ thực tiễn Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn : Nguyễn Thị Giang Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thanh Thư
Mã sinh viên: : 23A4020383
Hà nội, ngày 12 tháng 1 năm 2022
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Phương pháp nghiên cứu 1
4 Cấu trúc của tiểu luận 2
NỘI DUNG 2
Chương 1: Khái quát lý luận 2
1.Khái quát về các nước đang phát triển 2
2 Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế 3
Chương 2: Thực trạng nền kinh tế Việt Nam – Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển ảnh hưởng như thế nào đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Việt Nam 5
1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam hiện nay 5
2 Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Việt Nam như thế nào? 6
3 Đánh giá nền kinh tế Việt Nam năm 2021 7
3 Mục tiêu kinh tế Việt Nam trong những năm tới 10
Chương 3: Giải pháp phục hồi và phát triển kinh tế Việt Nam 11
1 Đối với Nhà nước 11
2 Đối với Doanh nghiệp 11
3 Đối với mỗi cá nhân 12
KẾT LUẬN 13
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, Việt Nam là một trong những quốc gia nằm trong nhóm các nước đang phát triển, chúng ta đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 sẽ trở thành nước phát triển có thu nhập cao Chặng đường phát triển kinh tế để đưa một nước đang phát triển lên một nước phát triển trải qua vô vàn những khó khăn thử thách Từ nay đến lúc đó, chúng ta còn 23 năm nữa, 23 năm cho những cố gắng nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta cho sự nghiệp phát triển đất nước Thế nhưng năm 2021 qua đi, một năm đầy thách thức, khi mà dịch bệnh Covid - 19 vẫn tiếp tục kéo dài, sự xuất hiện của những biến chủng mới, đặc biệt là biến thể Delta làm cho quá trình phục hồi kinh tế có dấu hiệu chậm lại, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Hầu như các nước đang phát triển đều phải hứng chịu tổn thất nặng nề mà biến thể Delta gây ra, khi mà độ bao phủ vaccine chưa cao, chưa có tiềm lực sản xuất vaccine, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế thấp, đời sống người dân còn nhiều hạn chế Tại Việt Nam, nhiều tỉnh, thành phố là đầu tàu kinh tế, trọng điểm sản xuất công nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang GDP quý III/2021 giảm 6,17% so với cùng kỳ (mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay) Đứng trước những khó khăn thử thách đó, chúng ta cần phải làm gì để khắc phục hậu quả, khôi phục lại nền kinh tế để phấn đấu đưa đất nước trở thành nước phát triển theo mục tiêu đã đề ra, bên cạnh đó những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển ảnh hưởng như thế nào đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam ở thời điểm hiện tại
Nhận thấy tính cấp thiết và tầm quan trọng của đề tài, nên tôi quyết định đi
tìm hiểu nghiên cứu đề tài: “Phân tích các đặc trưng cơ bản của các nước đang
phát triển Những đặc trưng đó ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các nước này như thế nào? Liên hệ thực tiễn Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài đi tìm hiểu thực trạng nền kinh tế Việt Nam để từ đó tìm ra giải pháp khôi phục và phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn những năm sắp tới
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu: phân tích, so sánh, tổng hợp, logic,
Trang 44 Cấu trúc của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận thì nội dung tiểu luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát lý luận
- Chương 2: Thực trạng nền kinh tế Việt Nam – Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển ảnh hưởng như thế nào đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp để khôi phục và phát triển kinh tế Việt Nam
NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát lý luận
1.Khái quát về các nước đang phát triển
1.1 Phân loại các quốc gia
Trong những năm gần đây, việc phân loại các quốc gia cũng có những thay đổi, tùy theo những tiêu chí đánh giá, các tổ chức sử dụng các chỉ số khác nhau để
đo lường, phân loại sự phát triển của các quốc gia
Ngân hàng Thế giới phân loại các nền kinh tế trên thế giới dựa vào số liệu ước tính tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người của năm trước Theo công bố ngày 01/7/2012, Ngân hàng Thế giới phân loại thu nhập theo GNI bình quân đầu người theo bốn mức cụ thể như sau:
- Thu nhập thấp: 1.025 đô la hoặc ít hơn
- Thu nhập trung bình thấp: từ 1.026 đô la đến 4.035 đô la
- Thu nhập trung bình cao: từ 4.036 đô la đến 12.475 đô la
- Thu nhập cao: 12.476 đô la hoặc cao hơn
Các nền kinh tế có mức thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp đôi khi được gọi là các nền kinh tế đang phát triển
1.2 Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển
Hiện nay, những nhà kinh tế đều tương đối thống nhất về những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển như sau:
Hầu hết đây là các nước thuộc địa, dưới sự thống trị của Tây Âu trước đây Nếu kinh tế chủ yếu là nền sản xuất nông nghiệp truyền thống, còn gọi là “xã hội nông nghiệp, nông thôn” Đó là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, phân tán, lao động
Trang 5thủ công lạc hậu (cày bừa đều bằng gỗ, hạt giống được gieo bằng tay, trâu, bò kéo trục đập lúa, nước mang về bằng những bình sứ đội trên đầu )
Dân số đa số sống ở nông thôn, lực lượng lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp chiếm tới 65 - 75% (tỷ lệ này ở các nước phát triển chỉ khoảng 10%); giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong GDP
Thiếu vốn và công nghệ hiện đại; kỹ thuật sản xuất công nghiệp lạc hậu – còn gọi là nền “công nghiệp lều gỗ”; quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, năng suất thấp, thu nhập GDP bình quân trên đầu người thấp (có nước chỉ bằng 1/100 của các nước phát triển); tỷ lệ tăng trưởng GDP thấp; tiết kiệm thấp nên tích lũy thấp (dưới 10% GDP)
Ngoại thương kém phát triển, thường là nhập siêu Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là hàng nguyên liệu và sơ chế
Dân số tăng nhanh 2,1%/năm (trong khi ở các nước phát triển tỷ lệ tăng dân
số là 0,5%/năm), dân số các nước đang phát triển chiếm ¾ dân số thế giới, mật độ dân số cao Trình độ văn hóa, giáo dục và dân trí thấp: tỷ lệ người lớn biết viết, biết đọc chỉ đạt 55%, trong khi đó các nước phát triển tỷ lệ đó trên 90%
Nhân dân có sức khỏe thấp, chế độ dinh dưỡng nghèo nàn, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cao (khoảng 50%) Tuổi thọ bình quân đầu người thấp (dưới 60 tuổi còn ở các nước phát triển là trên 70 tuổi), trong
đó các nước có thu nhập thấp như Ethiopia, Butan, Malawi tuổi thọ bình quân chỉ
là 45 tuổi
Về khoảng cách chênh lệch với các nước phát triển tới hàng chục, thậm trí tới trăm lần
2 Khái niệm về tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.1 Tăng trưởng kinh tế
Theo Ngân hàng thế giới (WB) trong “Báo cáo về phát triển thế giới năm 1991” cho rằng: tăng trưởng kinh tế chỉ là sự gia tăng về lượng của những đại lượng chính đặc trưng cho một trạng thái kinh tế, trước hết là tổng sản phẩm xã hội, có tính đến mối liên quan với dân số
Trong tác phẩm “Kinh tế học của các nước đang phát triển”, nhà kinh tế học
E Wayne Nafziger cho rằng: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hoặc
sự tăng lên về thu nhập bình quân đầu người của một nước
Trang 6Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tăng trưởng kinh tế, song có
thể định nghĩa một cách khái quát như sau: Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về
tổng sản phẩm xã hội và tăng thu nhập bình quân đầu người
Các quốc gia luôn quan tâm đến sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong một thời kỳ tương đối dài – tức là tăng trưởng kinh tế bền vững Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đối cao và ổn định trong thời gian tương đối dài (thường là một thế hệ từ 20 – 30 năm)
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế, song tăng trưởng kinh
tế phụ thuộc vào những yếu tố cơ bản là vốn, con người, kỹ thuật và công nghệ, cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị và quản lý của nhà nước
2.2 Phát triển kinh tế
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) trong “Sự thách thức của phát triển” năm 1991, phát triển kinh tế là sự tăng bền vững về các tiêu chuẩn sống bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục, sức khoẻ và bảo vệ môi trường
Cũng theo WB trong “Báo cáo về phát triển năm 1992 – Phát triển và môi trường”, phát triền kinh tế là nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe và bình đẳng về cơ hội
Nhà kinh tế học E Wayne Nafziger trong tác phẩm “Kinh tế học các nước đang phát triển” cho rằng: phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế kèm theo những thay đổi về phân phối sản lượng và cơ cấu kinh tế
Hiện nay, người ta định nghĩa khái quát phát triển kinh tế như sau: Phát triển
kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế đi kèm với sự tiến bộ của cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế và chất lượng cuộc sống
Mục tiêu của các quốc gia không chỉ dừng lại ở phát triển kinh tế mà cơ bản hơn là phát triển kinh tế bền vững Theo Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED): “Phát triển kinh tế bền vững là phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tạo mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Phát triển kinh tế phụ thuộc vào những yếu tố cơ bản là: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là hai thuật ngữ khác nhau nhưng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tăng trưởng kinh tế chưa phải là phát triển kinh tế,
Trang 7nhưng tăng trưởng kinh tế là yếu tố cơ bản nhất của phát triển kinh tế Nếu không
có tăng trưởng kinh tế thì sẽ không có phát triển kinh tế Phát triển kinh tế bao hàm trong đó có tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững hơn Vì vậy, các chuyên gia của
WB cho rằng: Tăng trưởng chưa phải là phát triển, song tăng trưởng lại là một cách
cơ bản để có phát triển và không thể nói phát triển kinh tế mà trong đó lại không có tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Thực trạng nền kinh tế Việt Nam – Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển ảnh hưởng như thế nào đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Việt Nam
1 Tổng quan nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Một là, kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển Tuy nhiên còn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, du lịch, xuất khẩu thô và các nguồn đầu tư vốn từ nước ngoài
Hai là, hệ thống kinh tế Việt Nam là một hệ thống kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần kinh tế như: kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản Nhà nước Những khu vực này có tốc độ tăng trưởng kinh tế không giống nhau khi mà nền kinh tế Nhà nước và nền kinh tế tập thể tăng trưởng chậm thì nền kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài tăng khá nhanh
Ba là, sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế còn khá cao Hiện nay, Nhà nước vẫn thực hiện việc điều chỉnh giá cả kiểu hành chính với một số mặt hàng thiết yếu như yêu cầu các công ty doanh nghiệp điều chỉnh mức đầu tư, giá cả xăng dầu, kiểm soát nguyên vật liệu như sắt, thép, xi măng
Bốn là, Việt Nam là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường Điều này đã được một số nền kinh tế thị trường tiên tiến công nhận, nhưng cho đến nay Hoa Kỳ vẫn chưa thừa nhận và xác định Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường
Năm là, kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực kinh tế chính: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; Công nghiệp (bao gồm cả công nghiệp khai thác dầu
mỏ, khoáng sản, công nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, điện nước, sản xuất và phân phối khí, ); Dịch vụ, thương mại, tài chính, du lịch, văn hóa, y tế, giáo dục
Trang 8Sáu là, quy mô của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2021 ước tính đạt 21 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2020, quy mô nền kinh tế số của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á năm 2021 tương đương Malaysia (đứng sau Indonesia, Thái Lan),
và nằm trong top 40 nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới
2 Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Việt Nam như thế nào?
Việt Nam là một nước đang phát triển, chúng ta cũng đã từng chịu nhiều ảnh hưởng từ những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Dù đã được cải thiện thông qua loạt những cuộc cải cách, nhưng nó vẫn làm chậm tiến trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nới rộng khoảng cách giữa quốc gia phát triển với quốc gia đang phát triển
Một là, Việt Nam là một nước đã từng là thuộc địa của Pháp Hơn 80 năm
Pháp thuộc, trong khoảng thời gian đó, thực dân Pháp đã thi hành nhiều chính sách cai trị hà khắc khiến cho nền kinh tế Việt Nam ngày càng trở nên nghèo nàn, lạc hậu và cột chặt vào nền kinh tế Pháp thời kỳ bấy giờ Điều đó làm chậm lại quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Việt Nam
Hai là, con người: Đây là nhân tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế bền
vững Đó phải là con người có sức khỏe, trí tuệ, có tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình lao động được tổ chức chặt chẽ
Các nước đang phát triển dân số tăng nhanh, mật độ dân số cao, trình độ văn hóa giáo dục và dân trí thấp Điều này, Việt Nam đã cải thiện được, tính đến thời điểm hiện tại, dân số Việt Nam là hơn 98 triệu dân, chiếm 1,25% dân số thế giới, đứng thứ 15 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các quốc gia và vùng lãnh thổ Tốc độ gia tăng dân số Việt Nam trong 20 năm qua (2000 - 2020) trong khoảng từ 0,9% - 1,1%/năm Rõ ràng chúng ta đã làm khá tốt công tác dân số, khống chế thành công tốc độ gia tăng dân số Trình độ dân trí được cải thiện khi tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15-60 đạt 97,85% tính đến năm 2020 Dân số trước đây chủ yếu sinh sống ở nông thôn, lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông, tay nghề thấp, chưa qua trường lớp đào tạo Sức khỏe nhân dân khoảng hơn 30 năm về trước thấp, tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cao Tuổi thọ trung bình giai đoạn 1970-2000 dao động khoảng 59,56-73 tuổi thấp hơn rất nhiều so với Hoa Kỳ và các nước Tây
Âu khác Đặc trưng này đã ảnh hưởng một phần rất lớn đến tiến trình phát triển kinh
Trang 9tế xã hội của Việt Nam, làm cho khoảng cách giữa Việt Nam và các nước phát triển dài thêm mấy chục năm nữa
Ba là, kỹ thuật và công nghệ Các nước đang phát triển thiếu công nghệ hiện
đại, kỹ thuật sản xuất công nghiệp lạc hậu Việt Nam là một nước có nền kinh tế phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, khi trong năm vừa rồi, nông nghiệp được coi là bệ
đỡ của nền kinh tế Nhưng sản xuất nông nghiệp nước ta còn khá thô sơ, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, năng suất thấp
Bốn là, cơ cấu kinh tế Nền kinh tế chủ yếu là nền sản xuất nông nghiệp lạc
hậu Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại thì tăng trưởng kinh tế càng nhanh và bền vững là một bài toán khó được đặt ra cho Việt Nam, chúng ta đang dần cải thiện
cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước
Năm là, thể chế chính trị và quản lý nhà nước Sự can thiệp sâu của nhà nước
vào nền kinh tế đôi khi lại là con dao hai lưỡi kéo nền kinh tế đi xuống khi những chính sách, điều luật ban hành còn tồn tại sai xót
Sáu là, vốn: một trong những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển
là thiếu vốn, và Việt Nam cũng vậy Chúng ta hầu hết đều dựa vào nguồn vốn vay, viện trợ hoặc đầu tư từ nước ngoài Trong những năm qua, bằng chính sách mở cửa,
ưu đãi và môi trường kinh doanh hấp dẫn, Việt Nam đã thu hút được một số lượng lớn dự án và nguồn vốn FDI Thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài là thế, nhưng việc tận dụng tối đa nguồn lực ấy lại là một câu chuyện khác Cũng như việc tăng hiệu quả sử dụng vốn vẫn là một bài toán nan giải đối với nền kinh tế Đôi khi, chúng ta chưa tận dụng triệt để nguồn vốn như nhiều dự án thi công còn bỏ ngỏ, chậm tiến độ, gây thất thoát ngân sách nhà nước, ảnh hưởng không nhỏ đến sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
3 Đánh giá nền kinh tế Việt Nam năm 2021
3.1 Những thành tựu đã đạt được của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2021
Bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2021 với nhiều gam màu sáng tối khác nhau, sau đây là một số điểm nổi bật nhất của nền kinh tế Việt Nam trong năm qua:
Một là, tăng trưởng kinh tế năm 2021 ước tính đạt 2,58% (quý I tăng 4,72%; quý II tăng 6,73%; quý III giảm 6,02%; quý IV tăng 5,22%) so với năm trước, đây được xem là một thành công lớn của nước ta trong việc phòng chống dịch bệnh, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là quý III/2021 nhiều địa phương kinh tế
Trang 10trọng điểm phải thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để chống dịch Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,05%, đóng góp 63,80%; khu vực dịch vụ tăng 1,22%, đóng góp 22,23% (hình 1)
Hai là, khu vực nông nghiệp tiếp tục phát huy vai trò “bệ đỡ” của nền kinh
tế Trong bối cảnh dịch bệnh, có những thời điểm chuỗi cung ứng và tiêu thụ sản nông sản bị đứt gãy, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì được mức tăng trưởng khá, đạt 2,9%, đóng góp 13,97% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế Đặc biệt, sự phát triển của khu vực nông nghiệp, đã góp phần quan trọng cho xuất khẩu nông sản năm 2021, đạt 48,6 tỷ USD (tăng 14,9% so với năm 2020), phá vỡ mọi kỷ lục trước đó Năm 2021, tiếp tục có 10 nhóm hàng chủ lực của ngành nông nghiệp có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, trong rổ hàng này,
có tới 6 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD
Ba là, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt mức kỷ lục mới, với tổng giá trị 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2020, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 336,25 tỷ USD (tăng 19% so với năm 2020), kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 332,25 tỷ USD (tăng 26,5% so với năm 2020), tiếp tục
là điểm sáng trong bức tranh kinh tế Việt Nam Cùng với việc tháng 12, ước xuất siêu đạt 1,5 tỷ USD, đã giúp cho kim ngạch ngoại thương của Việt Nam trong năm
2021 có sự đảo chiều ngoạn mục, xuất siêu cả năm ước đạt 4 tỷ USD Điểm sáng của ngoại thương năm 2021 là kết quả của sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch, đồng thời cũng là kết quả của sự nắm bắt thời cơ từ các Hiệp định thương mại (FTA) được các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng có hiệu quả
Bốn là, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội và vốn đầu tư nước ngoài đạt kết quả khả quan trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên diện rộng Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục phục hồi, vốn đăng ký mới
và tăng thêm giữ xu hướng tăng cho thấy nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư Việt Nam Ước tính năm 2021, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt 2.891,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm trước Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/12/2021 đạt 31,15
tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020 (Hình 2)