1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CU TRUC GII TRONG GIA DINH VA CNG DN

22 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 671,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với việc khảo sát mối quan hệ giới trong gia đình nông hộ ở ba xã thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang gồm 240 bản hỏi đại trà, 10 cuộc phỏng vấn sâu và một cuộc thảo luận nhóm được thực

Trang 1

CẤU TRÚC GIỚI TRONG GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐỒNG Ở NÔNG THÔN TỈNH

TIỀN GIANG

TRẦN KHÁNH HƯNG

(Bài viết nằm trong khuôn khổ đề tài “Nhận diện những mô thức ứng xử kinh

tế của nông hộ châu thổ sông Cửu Long ngày nay” do PGS.TS Trần Hữu

Quang chủ nhiệm, triển khai năm 2014-2015)

TÓM TẮT

Quan hệ giới trong gia đình là chủ đề được quan tâm nghiên cứu đặc biệt trong lĩnh vực xã hội học và nhân học Một dòng phân tích quan trọng trong chủ đề này là nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng tồn tại khá dai dẳng giữa vợ và chồng trong các hộ gia đình ở Việt Nam Với việc khảo sát mối quan hệ giới trong gia đình nông hộ ở ba xã thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (gồm 240 bản hỏi đại trà, 10 cuộc phỏng vấn sâu và một cuộc thảo luận nhóm được thực hiện năm 2014 và 2015), bài viết lập luận rằng (1) mối quan hệ giới trong các trường hợp khảo sát là sự đối ngẫu các đặc tính xã hội của nam giới và nữ giới (2) Sự đối ngẫu ở cấp độ nông hộ là cơ sở tạo nên diện mạo về giới của cộng đồng nông thôn tỉnh Tiền Giang (3) Sự đối ngẫu này không phải là một cấu trúc cố định mà có những chuyển biến qua thời gian Về phương pháp, bài viết cũng hàm ý rằng mối quan hệ giới có thể được hiểu tốt hơn bằng cách mở rộng phân tích ra các lãnh địa khác bên ngoài phạm vi gia đình

Từ khóa: cấu trúc giới, nông hộ, cộng đồng nông thôn

GENDER STRUCTURE OF FAMILIES AND COMMUNITIES IN RURAL OF TIỀN GIANG PROVINCE

Gender relation in family is animportant research issue in sociology and anthropology The mainstream analysis on this issue has emphasized the persistent inequality between wives and husbands in Vietnamese families By investigating gender relations in farmer households in three communes, Cai Lậy district, Tiền Giang province (through the analysis

of 240 questionnaires, 10 in-depth interviews, and one focus group interview conducted in

2014 and 2015), this paper argues that: (1) gender relations in these cases involved a binary opposition of male and femalesocial characteristics (2) The binary in farmer households underlines Tiền Giang rural communities’ gender relations (3) This binary was not a stable structure, but a changeable one For methodology, this paperalso implies that gender relations should be apprehended more fully by extending the analysis beyond domain of family

Key words: gender structure, farmer household, rural community

1 GIỚI THIỆU

Gia đình thường là đối tượng được quan tâm đặc biệt trong việc nghiên cứu xã hội dù với tư cách một định chế hay một đơn vị phân tích Trong đó, mối quan hệ theo chiều ngang của vợ-chồng và theo chiều dọc giữa các thế hệ được xem là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại của gia đình Khi xem xét các quan hệ này theo góc độ giới, người ta thường đặt trọng tâm vào mối tương quan giữa vai trò của người chồng và người vợ Ở Việt Nam, một cách tiếp

Trang 2

cận khá phổ biến và quan trọng đối với chủ đề này là nhấn mạnh đến tính bất bình đẳng trong vai trò của cả hai mà phần ưu thế thường nghiêng về phía người chồng Việc quy giản mối quan hệ giữa vợ-chồng thành chỉ còn giữa nữ giới-nam giới tuy một mặt giúp nhấn mạnh khía cạnh giới trong phân tích, nhưng mặt khác có khả năng đưa đến việc xem xét hai vai trò này như hai thái cực đối lập, thậm chí mâu thuẫn nhau; tức là nhìn các vai trò như thể rất cố định và có tính cấp bậc Ngoài ra, vì định chế gia đình gần như có tính phổ quát nên việc quá tập trung vào phạm vi gia đình khi phân tích mối quan hệ vợ-chồng có thể làm mờ

đi những hệ quả về phương diện cộng đồng do mối quan hệ này tạo ra (hoặc ngược lại, những yếu tố cộng đồng định hình trở lại mối quan hệ vợ-chồng trong gia đình)

Bài viết này là một sự nỗ lực nhằm bổ khuyết hai vấn đề trên Dữ liệu của bài viết bao gồm các thông tin từ bản hỏi đại trà và phỏng vấn sâu được thực hiện tại ba xã nông nghiệp Phú Nhuận, Mỹ Thành Bắc và Phú Cường thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào năm 2014

và 20151 Qua các trường hợp được khảo sát, bài viết lập luận bước đầu rằng (1) mối quan

hệ giới trong gia đình nông hộ tỉnh Tiền Giang là sự đối ngẫu các đặc tính xã hội của nam giới và nữ giới (2) Sự đối ngẫu ở cấp độ nông hộ là cơ sở tạo nên diện mạo về giới của cộng đồng nông thôn tỉnh Tiền Giang (3) Tuy nhiên, sự đối ngẫu này không phải là một cấu trúc cố định mà có những biến chuyển qua thời gian

2 VÀI NÉT CHÍNH TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỚI TRONG GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

Trong khoảng 10 năm trở lại đây (2006-2016), mối quan hệ giới trong gia đình được nghiên cứu bài bản với nhiều cuộc khảo sát ở cấp độ địa phương hoặc có quy mô trên bình diện cả nước2 Một trong những câu hỏi được quan tâm xuyên suốt là có hay không sự bất bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam Nhiều công trình chia sẻ quan niệm về bình đẳng giới như là sự ngang nhau giữa vợ và chồng về tiếng nói và quyền quyết định đối với những công việc của gia đình (Vũ Thị Cúc, 2007; Đỗ Thị Lệ Hằng, 2008; Trần Thị Cẩm Nhung, 2009; Vũ Thị Thanh, 2009; Lê Thị Hồng Hải, Phạm Thanh Vân, 2012; Lê Thị Thục, 2014) hay theo cách gọi khác là “làm chủ gia đình” (Lê Ngọc Văn, 2008; Lê Thi, 2009) Dù có nhiều tranh luận nhưng phần lớn các cuộc khảo sát cho rằng có tình trạng bất bình đẳng giới giữa

vợ và chồng với phần ưu thế nghiêng về người chồng, nhưng tình trạng này đang có xu hướng được cải thiện với việc phụ nữ tham gia ngày càng nhiều và dần trở thành một trụ cột trong các hoạt động quan trọng của gia đình.Mối quan hệ vợ-chồng thường được khảo sát theo ba tiêu chí có liên quan trực tiếp đến đời sống gia đình, bao gồm: sự phân công lao động, việc đứng tên các tài sản quan trọng như bất động sản và mức đóng góp tài chính cho gia đình

Cụ thể, khi xem xét sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình, Lê Thị Thục (2014) với nghiên cứu ở nông thôn Vĩnh Phúc cho rằng trong bối cảnh công nghiệp hóa, sự phân công này vẫn còn theo mô hình giới truyền thống và mang tính cấu trúc-chức năng nhằm khai thác lợi thế của mỗi giới Trong khi đó, Vũ Thị Thanh (2009) với khảo sát ở nông thôn Hà Nội và Lê Thi (2009) với khảo sát ở khu vực thị tứ của Hưng Yên và Hà Nội cùng quan điểm rằng sự phân công lao động giữa vợ-chồng dù vẫn còn phản ánh những khuôn

1 Tác giả bài viết trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Hữu Quang, chủ nhiệm đề tài nghiên cứu “Nhận diện những

mô thức ứng xử kinh tế của nông hộ châu thổ sông Cửu Long ngày nay” do Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ (mã số I3.1-2012.13), đã cho phép tác giả sử dụng một phần dữ liệu của đề tài để phân tích trong bài viết này

2 Như chương trình Điều tra gia đình Việt Nam năm 2006 do Vụ Gia đình - Ủy Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em phối hợp với Tổng Cục Thống kê, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện dưới sự hỗ trợ của UNICEF; và chương trình Điều tra cơ bản về thực trạng bình đẳng giới và tác động của chính sách đối với phụ nữ và nam giới nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam (2004-2006) do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện

Trang 3

mẫu truyền thống nhưng đã ngày càng bình đẳng hơn, thể hiện qua việc ranh giới phân định công việc giữa vợ và chồng đã không còn thật đậm nét Như thế, trong phạm vi khảo sát ở Bắc Bộ, cả ba công trình đều không xem sự phân công lao động theo giới là (hay còn là) yếu tố trực tiếp dẫn tới sự bất bình đẳng giới

Loại trừ yếu tố phân công lao động, hai yếu tố được cho là góp phần đáng kể dẫn đến sự bất bình đẳng giữa vợ-chồng trong gia đình là việc đứng tên đối với các tài sản bất động sản

và mức đóng góp kinh tế cho gia đình Nhìn chung, các công trình nghiên cứu cho thấy hai

xu hướng có phần trái ngược nhau của hai tiêu chí này, đó là sự bất bình đẳng giới vẫn còn diễn ra phổ biến trong việc sở hữu tài sản bất động sản nhưng tình trạng này đã được cải thiện đáng kể trong việc đóng góp thu nhập cho gia đình của vợ và chồng Về đứng tên sở hữu tài sản, việc người đứng tên sở hữu chủ yếu là nam giới đã làm hạn chế quyền quyết định của phụ nữ đối với những tài sản có giá trị trong nhà, từ đó làm giảm tiếng nói của họ trong gia đình (Trần Thị Hồng 2009; Trần Thị Cẩm Nhung 2009) Xét về nhân khẩu học, “sự bất bình đẳng” này xảy ra phổ biến ở nông thôn, trong những gia đình mà trình độ học vấn của đôi vợ chồng thấp, công việc thường là lao động giản đơn, và mức đóng góp thu nhập của người vợ thấp hơn của người chồng (Trần Thị Hồng 2009: 25) Ngoài ra, ưu thế của người chồng trong việc sở hữu tài sản còn là do truyền thống kế thừa tài sản theo dòng phụ

hệ của người Việt (Lê Thị Hồng Hải, Nguyễn Hữu Minh, An Thanh Ly 2012) Lê Thị Thục (2014) cũng ghi nhận hiện trạng sở hữu tài sản tương tự nhưng cho rằng đang có xu hướng thay đổi với việc phụ nữ tự mình hoặc cùng chồng đứng tên sở hữu các tài sản bất động sản ngày càng nhiều Về đóng góp kinh tế, nhiều công trình cho thấy cả vợ và chồng đều tham gia tạo thu nhập cho gia đình (Trần Thị Vân Anh 2007; Đỗ Thị Lệ Hằng 2008; Lê Ngọc Văn 2008; Trần Thị Anh Thư 2010) Trần Thị Vân Anh (2007: 14) với số liệu điều tra cả nước cho rằng mức đóng góp thu nhập của người vợ có tương quan thuận với trình độ học vấn của họ, cũng như với các nhóm nghề lãnh đạo và buôn bán Còn với khảo sát ở Bắc

Bộ, Đỗ Thị Lệ Hằng (2008: 41) ghi nhận rằng phụ nữ đóng góp thu nhập chủ yếu qua công việc trồng trọt và chăn nuôi Dù có sự khác biệt trong nhận định các yếu tố tác động nhưng những công trình này gần như xem việc cải thiện mức đóng góp thu nhập cho phụ nữ là nền tảng để nâng cao vị thế của họ trong gia đình

Việc đứng tên sở hữu tài sản bất động sản và mức đóng góp thu nhập cho gia đình dẫn đến

“mô hình quyền lực” giữa vợ và chồng, cụ thể là quyền quyết định trong gia đình - điều được xem là biểu hiện trực tiếp của sự bất bình đẳng giới Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng quyền quyết định trong gia đình ở Việt Nam vẫn nghiêng về phía người chồng (Vũ Thị Cúc 2007; Lê Thi 2009; Trần Thị Cẩm Nhung 2009; Vũ Thị Thanh 2009; Lê Thị Hồng Hải, Phạm Thanh Vân 2012; Lê Thị Thục 2014) Tuy nhiên, sự tham gia bàn bạc và ra quyết định của người vợ ngày càng nhiều hơn ở một số lĩnh vực (Vũ Thị Cúc 2007; Trần Thị Cẩm Nhung 2009) và gia đình ở Việt Nam không chỉ còn một mô hình người đàn ông làm chủ gia đình (Lê Ngọc Văn 2008) Khi vai trò trụ cột trong gia đình bị suy giảm, người chồng có chiến lược ứng xử nhằm khẳng định nam tính, gồm nỗ lực tạo thu nhập, sẵn sàng làm việc nhà và

mở rộng các mối quan hệ để gia tăng uy tín xã hội (Lê Thị Hồng Hải, Nguyễn Hữu Minh, An Thanh Ly 2012)

Bên cạnh mối quan hệ giữa vợ và chồng, mối quan hệ giới giữa các thế hệ cũng được quan tâm nghiên cứu, chủ yếu về kỳ vọng giáo dục và nghề nghiệp của cha mẹ dành cho con cái Nguyễn Văn Tiệp (2015) với khảo sát ở Đồng bằng sông Cửu Long cho rằng không có sự thiên vị về giới trong việc học hành của con cáiở các gia đình được khảo sát, mà nguyên nhân là do truyền thống bình đẳng xã hội và bình đẳng giới tại đây Việc cho con cáihọc đến đâu không có tương quan với trình độ học vấn của cha mẹ mà được tính toán dựa vào nguồn lực kinh tế của hộ gia đình Trong khi đó, Lỗ Việt Phương (2011) với việc tổng quan

Trang 4

tài liệu đã cho rằng chưa thể kết luận về sự tồn tại của định kiến giới trong việc hướng nghiệp cho con cái, nhưng lại tiềm ẩn bất bình đẳng về cơ hội đi học giữa con trai và con gái

ở những gia đình nghèo hoặc các gia đình ở nông thôn

Phần tổng quan mang tính sơ lược trên đây cho thấy khi khảo sát mối quan hệ giới trong gia đình ở Việt Nam, các công trình được dẫn ra chủ yếu tập trung khảo sát một số phương diện trong phạm vi đời sống gia đình, rồi xem xét tương quan giữa những phương diện này với các tiêu chí về nhân khẩu học Trong khuôn khổ đánh giá về sự bất bình đẳng giới, dù

đa phần không đề cập nhưng các công trình trên có khuynh hướng tiếp cận vấn đề theo thuyết phân bổ nguồn lực tương đối (relative resource theory), với luận điểm chủ yếu là người có đóng góp nguồn lực nhiều hơn, bao gồm trình độ học vấn, thu nhập, uy tín và loại nghề nghiệp, thường là người có quyền quyết định trong công việc gia đình và từ đó sẽ trội hơn trong tương quan quyền lực với những người còn lại (Trần Thị Cẩm Nhung 2009: 32) Cách tiếp cận phân bố nguồn lực tương đối về cơ bản đã giúp ích rất nhiều để trả lời cho câu hỏi có hay không sự bất bình đẳng giới trong mối quan hệ vợ-chồng trong gia đình Tuy nhiên, với thao tác so sánh, cách tiếp cận này có nguy cơ quy giản mối quan hệ vợ-chồng thành hai cực cố định và đối lập nhau Về mặt lý thuyết, cách tiếp cận phân bổ nguồn lực tương đối sẽ hoàn thiện hơn khi được bổ sung thêm cách nhìn về vai trò giới cũng như tính đến các “tư tưởng về giới” với tư cách là những yếu tố văn hóa của cộng đồng (Trần Thị Cẩm Nhung 2009: 33) Bởi nếu không, những nhận định của người nghiên cứu hoàn toàn độc lập với các quan niệm chung của cộng đồng, như việc người dân không nhận thấy tình trạng “bất bình đẳng giới” (Lê Thị Thục 2014: 23) hay “bạo hành gia đình” (Trần Thị Anh Thư 2010: 84) mà họ được cho là đang sống trong đó (xem thêm Trần Hạnh Minh Phương 2016) Việc xem xét các yếu tố văn hóa dẫn đến hệ quả về phương pháp là cấp độ phân tích cần được mở rộng từ gia đình ra cộng đồng Bởi một vài yếu tố có thể có tương quan mạnh với quan hệ giới ở cấp độ gia đình nhưng lại không có vai trò đáng kể ở cấp độ cộng đồng (xem thêm Hoàng Bá Thịnh 20093); cũng như các quan hệ giới trong gia đình có thể chịu sự quy định từ những quan niệm mang tính cấu trúc về giới của cộng đồng (Silvasti 2003; dẫn theo Phạm Văn Bích 20114) Như thế, việc xem xét thêm các yếu tố văn hóa cũng như lồng ghép hai cấp độ phân tích gia đình và cộng đồng là một công việc có ý nghĩa, hứa hẹn mang lại những cách nhìn khác về mối quan hệ giới trong gia đình ở Việt Nam

3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết này được thực hiện dựa vào việc khảo sát đời sống nông hộ tại ba địa bàn thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, bao gồm ấp Phú Thuận - xã Phú Nhuận, ấp 2 - xã Mỹ Thạnh Bắc và ấp 5 - xã Phú Cường5 Ở cả ba địa phương này, trồng trọt là ngành kinh tế chính,

3 Qua khảo sát vạn đò ở Quảng Ninh và Thừa Thiên-Huế, Hoàng Bá Thịnh (2009) cho rằng không phải lúc nào bình đẳng giới cũng đi liền với mức sống và trình độ học vấn cao, ít nhất là với những trường hợp được khảo sát

5 Trong đề tài “Nhận diện những mô thức ứng xử kinh tế của nông hộ châu thổ sông Cửu Long ngày nay” do Trần Hữu Quang chủ nhiệm, việc khảo sát được tiến hành tại hai tỉnh Tiền Giang và An Giang, mỗi tỉnh gồm ba

xã Dân cư của các địa bàn được chọn hầu hết là người Việt nhằm kiểm soát biến số tộc người trong quá trình phân tích Các trường hợp được chọn ở hai tỉnh đều là những địa phương nông nghiệp, nhưng bối cảnh sản xuất ở hai nơi có nhiều điểm khác nhau Trong khuôn khổ có giới hạn, bài viết này chọn phân tích mối quan hệ giới ở các địa bàn thuộc tỉnh Tiền Giang Vì ở đây, diện tích ruộng đất của mỗi hộ tương đối nhỏ, việc luân canh cây lúa và màu tương đối phổ biến, cũng như việc hợp tác sản xuất giữa các hộ mang tính tự phát và phần nào còn gắn với cấu trúc cộng đồng (như bài viết này cố gắng chỉ ra) Trong khi đó ở An Giang, diện tích đồng ruộng rộng hơn, cơ chế liên kết sản xuất giữa các nông hộ, công ty bảo vệ thực vật, kỹ sư nông nghiệp (hình thức cánh

Trang 5

trong đó lúa là cây trồng phổ biến nhất Ngoài ra cây màu cũng là loại cây trồng quan trọng mang lại thu nhập cho các nông hộ, nhất là dưa hấu Với nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo, địa phận của ba địa phương này hoặc được bao quanh, hoặc bị chia cắt bởi các con sông và kênh Ấp 2 - xã Mỹ Thành Bắc và ấp Phú Thuận - xã Phú Nhuận là địa bàn có mức

độ chuyên canh cây lúa cao, trong khi ấp 5 - xã Phú Cường có mức độ trồng màu tương đối nhiều Do mức độ chuyên canh cây lúa và cây màu khác nhau nên mức độ phát triển kinh tế của ba địa bàn cũng khác nhau; xã Phú Cường là địa phương khá hơn về kinh tế, kế đến là

xã Phú Nhuận và sau cùng là xã Mỹ Thành Bắc

Các dữ liệu trong bài viết này được thu thập chủ yếu qua ba kĩ thuật chính là điều tra bản hỏi đại trà, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Việc điều tra bản hỏi đại trà được tiến hành vào tháng 9/2014, khoảng đầu vụ Đông-Xuân Ở ba địa bàn này, 240 hộ đã được chọn theo nguyên tắc xác suất dựa theo danh sách dân cư của địa phương (mỗi địa bàn 80 hộ) Người thay mặt gia đình (không phải toàn bộ là chủ hộ) tham gia trả lời bản hỏi gồm 143 nam và 97

nữ, hầu hết đã lập gia đình và đang sống cùng vợ hoặc chồng mình (220 người) Đa phần các hộ sống nhờ vào nghề nông (197 hộ, chiếm 82%)6 Bên cạnh đó, tác giả bài viết cũng có

sử dụng tư liệu từ 10 cuộc phỏng vấn sâu và một cuộc thảo luận nhóm nam giới được thực hiện vào tháng 12/2014 Các mẫu phỏng vấn sâu được chọn ra có chủ đích từ mẫu khảo sát đại trà tùy theo đặc điểm của hộ, bao gồm 2 nữ và 8 nam7 Việc phỏng vấn sâu cũng bao gồm kỹ thuật phỏng vấn hồi cố về những chi tiết liên quan đến lịch sử cộng đồng Tên của những người này đã được thay bằng tên giả trong bài viết, nhưng các thông tin về nhân khẩu là xác thực để hỗ trợ cho việc phân tích Kĩ thuật thảo luận nhóm được tiến hành ở ấp Phú Thuận - xã Phú Nhuận, gồm 5 người, là những người có ruộng liền kề nhau và cùng liên kết sản xuất với nhau8 Do hộ trồng lúa trong tổng mẫu khảo sát đại trà cũng như phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm chiếm số lượng lớn nên việc phân tích trong bài được đặt trọng tâm vào những hộ này

Đối với công đoạn phân tích, đầu tiên, một phần các câu hỏi trong bản khảo sát đại trà liên quan đến quan niệm về kinh tế và đời sống nông thôn được đưa vào phân tích nhân tố để xác định các yếu tố nổi bật có ảnh hưởng đến đời sống của các cộng đồng được khảo sát

Kế đến, các dữ liệu thống kê và dữ liệu định tính khác sẽ được vận dụng để dựng lại bức tranh về mối quan hệ giới có liên hệ với các yếu tố vừa được phát hiện, cũng như đặt trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp của các địa phương, chủ yếu tập trung vào công việc trồng lúa Với đặc điểm là kết quả khảo sát tại một thời điểm cụ thể, việc phác họa chỉ giúp tái hiện một lát cắt có thể được xem là rất mỏng so với sự diễn tiến của đời sống nông thôn trên thực tế Do đó, các dữ liệu hồi cố sẽ được dùng để có sự lý giải sâu hơn cho những gì mà các số liệu chưa thể phản ánh Hai giai đoạn được đưa vào xem xét là từ sau năm 1975 đến cuối những năm 1990; và từ những năm 1990 đến năm 2014 đối với các nhân tố để chỉ ra

có những biến đổi nào đã xảy ra và với mức độ ra sao Bởi ở các địa bàn khảo sát, vào đầu những năm 1990, việc cơ giới hóa, sử dụng nhiều giống lúa cũng như dùng thuốc trừ sâu, đồng mẫu lớn) đã khá phổ biến Theo đó, tác giả tiên liệu rằng mối quan hệ giới trong gia đình và cộng đồng ở đây sẽ rất khác hoặc thay đổi rất nhiều so với truyền thống, cũng như các yếu tố tác động sẽ phức tạp hơn

6 Số hộ sống hoàn toàn bằng nghề nông là 71 hộ (30%), có nghề nông là chính 113 hộ (47%), nghề nông và nghề phi nông gần bằng nhau 13 hộ (5%), nghề phi nông là chính 20 hộ (8%) và hoàn toàn làm phi nông 23 hộ (10%)

7 Mẫu phỏng vấn sâu ban đầu được chọn theo tiêu chí đặc điểm hộ gia đình, nhưng để ngỏ việc ai trong hộ sẽ tham gia trả lời phỏng vấn, việc này tùy vào hoàn cảnh và cách sắp xếp công việc của mỗi nhà Kết quả là nam giới luôn là người thay mặt gia đình để tiếp phỏng vấn viên Dù họ đi vắng, chỉ có vợ ở nhà thì họ cũng được gọi

về để trả lời Hai trường hợp nữ trên đây có một người góa chồng, còn một người có chồng đi làm xa vài ngày mới về nhà một lần Đây là một chi tiết thú vị và quan trọng cho thấy phần nào cấu trúc giới ở ba cộng đồng được khảo sát

8 Đáng tiếc chúng tôi đã không tổ chức một cuộc thảo luận nhóm cho nữ giới như là nhóm đối chứng Khuyết điểm này phần nào được khắc phục bằng cách tận dụng các cuộc phỏng vấn sâu nữ giới và những cuộc trò chuyện với người dân tại địa bàn trong các đợt khảo sát

Trang 6

phân bón vào canh tác bắt đầu nở rộ, đánh dấu sự thay đổi căn bản hoạt động sản xuất nông nghiệp tại những nơi này

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Ba phạm vi phân tích được gợi ý từ thao tác phân tích nhân tố các mệnh đề

Như đã chỉ ra ở trên, việc khảo sát mối quan hệ giới trong gia đình cần được liên hệ với các yếu tố văn hóa vốn là nguồn cung cấp ý nghĩa và cũng là không gian cho các thực hành về giới Trong bài viết này, để xác định các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng đến đời sống của các cộng đồng được khảo sát, chúng tôi đã tiến hành phân tích nhân tố đối với kết quả trả lời 28 mệnh đề9 trong bản khảo sát đại trà có liên quan đến quan niệm về kinh tế và đời sống nông thôn10 Các mệnh đề này tuy không thể phản ánh toàn bộ các khía cạnh của đời sống nông thôn và chỉ là quan điểm của người trả lời, nhưng cũng gợi ra một số phương diện có ý nghĩa đối với các cộng đồng được khảo sát Chúng tôi nhận thấy có ba nhân tố nổi bật nằm bên dưới các câu trả lời mà chúng tôi tạm gọi tên là quan niệm trọng nam, tính cố kết trong dòng họ-cộng đồng và niềm tin vào số phận Cụ thể, nhân tố quan niệm trọng nam gồm các mệnh đề: nên để đàn ông quyết định hầu hết các công việc trong gia đình, người vợ phải phục tùng người chồng, phụ nữ không giỏi kinh doanh bằng nam giới, nếu vợ không nghe lời thì chồng có thể đánh vợ Nhân tố cố kết trong dòng họ-cộng đồng gồm các mệnh đề: nên cưới hỏi với người cùng xã, cần có sự đồng ý của người trưởng họ đối với việc cưới gả trong gia đình, nên hợp tác làm ăn với người cùng dòng họ Nhân tố niềm tin vào số phận gồm các mệnh đề: thành công hay thất bại là do số may rủi, giàu nghèo là do số phận, cần phải coi ngày và cúng kiếng để ăn nên làm ra (xem Bảng 1)

9 Các mệnh đề bao gồm: m1-Giàu nghèo là do số phận; m2-Dù gì đi chăng nữa, tôi cũng sẽ không bỏ nghề nông ; m3-Trong làm ăn buôn bán, nên ưu tiên hợp tác với người cùng xã; m4-Không nên bán ruộng đất trong làng xã cho người ngoài; m5-Nên cưới hỏi với người cùng xã hơn là với người ngoài; m6-Dù khó khăn đến đâu, gia đình tôi cũng phải giữ lấy ruộng đất; m7-Muốn mua bán ruộng đất, phải được sự đồng ý trước của cô bác trong dòng họ; m8-Thành công hay thất bại là do số may rủi của mỗi người; m9-Giá cả nông sản thường bị tư thương ép giá; m10-Trong công việc làm ăn, chỉ nên hợp tác với người trong cùng dòng họ; m11-Nhà phải có con trai để nối dõi tông đường; m12-Bà con thân thuộc thường đáng tin cậy hơn là người ngoài; m13-Việc cưới

gả trong gia đình cần phải được sự đồng ý của người trưởng họ (trưởng tộc); m14-Đồng tiền là nguồn gốc sinh

ra tội lỗi; m15-Làm nghề nông thì không thểlàm giàu được; m16-Người kinh doanh là người chỉ biết chạy theo đồng tiền; m17-Người vợ lúc nào cũng phải phục tùng người chồng; m18-Phải biết coi ngày và cúng kiếng thì mới ăn nên làm ra; m19-Nhà nước không nên hạn điền, mà nên để cho nông dân được tự do mua thêm ruộng đất; m20-Nếu có điều kiện, tôi sẵn sàng bỏ nghề nông để chuyển sang nghề khác; m21-Phụ nữ thường không giỏi kinh doanh bằng nam giới; m22-Thương lái tư nhân làm ăn giỏi hơn công ty nhà nước; m23-Hầu hết những quyết định lớn trong gia đình nên để đàn ông quyết định; m24-Nhà nước không nên hạn chế thời hạn giao quyền

sử dụng đấtcho nông dân; m25-Nếu vợ không biết nghe lời chồng thì không nên trách chồng đánh vợ; m26-Nên

ưu tiên bán nông sản cho thương lái trong xã hơn là thương lái từ nơi khác tới; m27-Nếu có điều kiện, tôi sẵn sàng dời lên đô thị để sinh sống; m28-Làm ăn với người đồng hương thường thuận lợi hơn là với người khác

10 Mỗi mệnh đề có ba lựa chọn trả lời là “không đồng ý”, “không ý kiến” và “đồng ý” Các mệnh đề này trước tiên được kiểm tra độ tin cậy bằng cách tính hệ số Cronbach’s Alpha của tổng thể các mệnh đề, cũng như giữa từng mệnh đề với tổng thể Kết quả có 15 mệnh đề đảm bảo đủ độ tin cậy (có điểm lớn hơn 0,3) để đưa vào phân tích nhân tố với hệ số Cronbach’s Alpha là 0,828 Thao tác phân tích nhân tố được thực hiện hai lần Ở mỗi lần, những mệnh đề có hệ số tải nhân tố (factor’s loading) dưới 0,5 sẽ được loại ra (Trong lần phân tích nhân tố đầu tiên, mệnh đề m8: “Thành công hay thất bại là do số may rủi của mỗi người” với hệ số tải nhân tố là 0,498 vẫn được giữ lại) Kết quả phân tích nhân tố còn lại mười mệnh đề, được nhóm thành ba nhân tố, đảm bảo điều kiện

về hệ số tải nhân tố và sự thích hợp của thao tác phân tích nhân tố (hệ số KMO) là 0,826 Do ở kết quả ban đầu, các mệnh đề chỉ tập trung vào một nhân tố nên chúng tôi đã tiến hành xoay trục (Varimax with Kaiser Normalization) để có ba nhân tố với các mệnh đề được phân bố đồng đều hơn và phân tích dựa trên kết quả xoay trục này

Trang 7

Bảng 1 Các nhân tốnổi bật trong đời sống của các cộng đồng nông thôn tỉnh Tiền Giang

Nhân tố:

Nội dung các mệnh đề

Quan niệm trọng nam dòng họ-cộng Tính cố kết

đồng

Niềm tin vào số phận

m23 Hầu hết những quyết định trong gia đình nên để đàn ông

m25 Nếu vợ không biết nghe lời chồng thì không nên trách

m13 Việc cưới gả trong gia đình cần phải được sự đồng ý của

m10 Trong công việc làm ăn, chỉ nên hợp tác với người trong

Nguồn: Tác giả tổng hợp và xử lý từ số liệu khảo sát năm 2014

Ba nhân tố này có thể được quy chiếu đến các chiều kích xã hội vốn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau là gia đình (quan niệm trọng nam), dòng họ-cộng đồng (tính cố kết trong dòng họ-cộng đồng) và đời sống tâm linh (niềm tin vào số phận) Theo đó, việc xem xét mối quan hệ giới gắn với các yếu tố văn hóa trong trường hợp này có nghĩa là đặt mối quan hệ giới trong các địa hạt phân tích vốn có ý nghĩa với đời sống ở nông thôn là gia đình, dòng họ-cộng đồng và đời sống tâm linh Đồng thời, việc cần làm tiếp theo là tìm xem các đặc trưng trong mối quan hệ giới ở các chiều kích xã hội này có liên hệ gì với nhau; và nếu các đặc trưng ấy

có sự tương đồng và chi phối lẫn nhau thì có thể đặt ra giả thuyết về tính cấu trúc trong mối quan hệ giới ở các địa bàn được khảo sát

Ngoài ra, tỉ lệ lựa chọn ở các mệnh đề phân theo giới tính cũng cung cấp một số gợi ý cho việc phân tích (xem bảng 2) Với nhân tố đầu tiên, cả hai nhóm nam và nữ đều có sự phân cực đối với quan niệm về quyền quyết định của nam giới trong nhà (m23) Trên thực tế, như

sẽ được phân tích dưới đây, quyền quyết định này không tập trung ở người chồng hay người vợ mà đa số là cả hai cùng bàn bạc và ra quyết định, dù ở một vài lĩnh vực, vai trò của nười chồng có phần chiếm ưu thế hơn Kế đến, hai nhóm có phần khác biệt ở hai mệnh

đề là vợ phải phục tùng chồng (m17), với sự phân cực ở nhóm nam và đa số đồng ý ở nhóm nữ; và nữ giới không giỏi kinh doanh bằng nam giới (m21), với sự phân cực ở nhóm

nữ và đa số không đồng ý ở nhóm nam Điều này gợi ý rằng nữ giới có thể là nhóm bảo lưu quan niệm trọng nam nhiều hơn so với nam giới Cuối cùng, cả hai nhóm cùng không đồng tình về việc chồng có quyền đánh vợ (m25) như là biểu hiện rõ nhất của bạo lực gia đình Với nhân tố thứ hai, đa số ở cả hai nhóm đều không đồng ý với việc chỉ nên cưới hỏi với người cùng xã (m5); trong khi lại có sự phân cực với quan niệm chỉ nên hợp tác làm ăn với người cùng dòng họ (m10); cũng như phần lớn cho rằng cần có sự đồng ý của trưởng họ với việc cưới gả trong gia đình (m13) Như thế, tính cố kết dòng họ dường như nhấn mạnh đến quan hệ huyết thống hơn là quan hệ hôn nhân, và quan hệ dòng họ cũng là cơ sở cho việc hợp tác làm ăn trong cộng đồng Ở hai nhân tố này, số liệu thống kê chưa thể hiện rằng

có sự khác biệt nào giữa hai nhóm nam và nữ Còn đối với nhân tố niềm tin vào số phận thì

Trang 8

giữa hai giới có sự khác biệt nhất định Ở các mệnh đề thuộc nhân tố này (m1, m8, m18),

tỉ lệ đồng ý của cả nam và nữ đều quá bán, trong đó tỉ lệ ở nữ giới có phần trội hơn so với ở nam giới, và sự chênh lệch này có ý nghĩa về mặt thống kê12 Điều này cho thấy đời sống tâm linh là một phương diện tương đối quan trọng trong đời sống của các cộng đồng nông thôn

Bảng 2 Tỉ lệ lựa chọn phân theo giới tính ở các mệnh đề của ba nhân tố (đơn vị: %)

Không đồng

ý Không ý kiến Đồng ý

m23 Hầu hết những quyết định trong gia đình nên để

0,7 1,0

54,5 51,5 m17 Người vợ lúc nào cũng phải phục tùng người chồng nam nữ 51,7

36,1

2,8 2,1

45,5 61,9 m21 Phụ nữ thường không giỏi kinh doanh bằng nam

giới

nam

nữ

61,5 44,3

6,3 7,2

32,2 48,5 m25 Nếu vợ không biết nghe lời chồng thì không nên

trách chồng đánh vợ

nam

nữ 71,3 61,9

4,9 3,1

23,8 35,1 m5 Nên cưới hỏi với người cùng xã hơn là với người

ngoài

nam

nữ 76,2 69,1

8,4 10,3

15,4 20,6 m13 Việc cưới gả trong gia đình cần phải được sự đồng

ý của người trưởng họ (trưởng tộc)

nam

nữ 37,1 33,0

3,5 6,2

59,4 60,8 m10 Trong công việc làm ăn, chỉ nên hợp tác với người

trong cùng dòng họ

nam

nữ

49,0 41,2

2,8 9,3

48,3 49,5

27,8

2,8 0,0

58,0 72,2 m8 Thành công hay thất bại là do số may rủi của mỗi

người

nam

nữ

26,6 14,4

4,9 2,1

68,5 83,5 m18 Phải biết coi ngày và cúng kiếng thì mới ăn nên làm

ra

nam

nữ 32,9 17,5

4,9 7,2

62,2 75,3

Nguồn: Số liệu khảo sát năm 2014

4.2 Mối quan hệ giới trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn

Tại ba địa bàn khảo sát, sản xuất nông nghiệp được xem là sinh kế chủ đạo (với 82% tổng mẫu có nguồn sinh sống chính dựa vào nghề nông) Đời sống kinh tế của nông hộ chủ yếu xoay quanh việc trồng lúa, hoa màu và làm thuê nông nghiệp13 Mỗi năm các nông hộ canh tác ba vụ, có thể hoàn toàn trồng lúa hoặc có xen canh cây màu14 Sự đặc thù trong sinh kế của nông hộ như thế có ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ giới xét ở ba phạm vi gia đình, dòng họ-cộng đồng và đời sống tâm linh Thông qua các số liệu thống kê và trường

11 Kiểm định Independent-samples T-test đối với hai nhóm nam và nữ cho thấy có sự khác biệt về niềm tin vào

số phận (sig trong kiểm định Levene là 0,023 và sig của kiểm định t là 0,020) Theo đó, giá trị trung bình ở nam

là -0,12; ở nữ là 0,18; và khác biệt trung bình của hai giới là -0,3

12

Sự khác biệt giữa nam và nữ ở mệnh đề “Giàu nghèo là do số phận” có sig là 0,036; mệnh đề “Thành công hay thất bại là do số may rủi của mỗi người” là 0,032; và mệnh đề “Phải biết coi ngày và cúng kiếng thì mới ăn nên làm ra” là 0,029 Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi không có đủ dữ liệu để lý giải nguyên nhân của sự khác biệt về đời sống tâm linh giữa hai nhóm giới tính nên chỉ dừng lại ở việc ghi nhận có sự khác biệt Việc phân tích nguyên nhân có lẽ cần một cuộc nghiên cứu bài bản hơn

13 Hoạt động chăn nuôi, chủ yếu là nuôi heo,ở các địa bàn vào thời điểm khảo sát không phổ biến (chỉ 1 hộ trong tổng mẫu), do trước đây giá heo hơi bị sụt giảm trong khi giá thức ăn lại tăng trong một thời gian dài khiến nhiều

hộ phải dừng hẳn công việc này vì thua lỗ Còn các ngành nghề tiểu thủ công tại đây khá nổi bật (với 47 hộ, chiếm 19,6%) Giữa các địa bàn cũng có sự khác nhau về loại hình công việc: ấp Phú Thuận - xã Phú Nhuận phổ biến với việc may gia công túi, giỏ gia dụng (được gọi là “tụng”); ấp 2 - xã Mỹ Thành Bắc nổi bật với nghề làm nhang; riêng ấp 5 - xã Phú Cường không có nghề tiểu thủ công nào nổi trội Công việc buôn bán có 24 hộ (chiếm 10%), chủ yếu là hàng quán ăn uống và tạp hóa Riêng hộ làm dịch vụ có 20 hộ (chiếm 8,3%); trong đó

có nhiều hộ làm dịch vụ liên quan đến nông nghiệp như cày xới đất thuê

14 Đối với hộ có trồng màu, thông thường người ta xen canh hai vụ lúa-một vụ màu hoặc hai vụ màu-một vụ lúa

để đảm bảo đất không bị thoái hóa, hoặc sâu bệnh theo cây màu có điều kiện phát triển do trồng màu liên tục, cũng như tận dụng lượng phân thừa còn lại trong đất sau các vụ màu Họ thường ưu tiên trồng màu vào các vụ Đông-Xuân để có năng suất cao

Trang 9

hợp phỏng vấn sâu, phần này của bài viết phác họa một vài phương diện cơ bản của mối quan hệ giới đặt trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp

4.2.1 Mối quan hệ giới trong phạm vi gia đình

Đối với các nông hộ, quá trình sản xuất nông nghiệp gồm nhiều công việc cần phải được thực hiện hàng ngày Ở từng khâu và loại hình công việc, các thành viên trong gia đình có

sự phân công lao động với nhau, trong đó có tính đến khía cạnh giới Nhìn chung, khi xem xét mức độ tham gia vào một số hoạt động sản xuất nông nghiệp cơ bản của gia đình, nam giới có phần chiếm ưu thế hơn so với nữ giới Cụ thể trong lĩnh vực trồng trọt, nam giới nổi trội ở hầu hết các khâu như làm đất, gieo cấy15, chăm sóc cây trồng, rải phân, phun thuốc, thu hoạch, với tỉ lệ chênh lệch ít nhất gần gấp đôi so với nữ giới Thậm chí, ở những khâu cần phải thuê mướn máy móc như làm đất và thu hoạch, tỉ lệ thuê mướn cũng nổi trội hơn

so với sự tham gia của lao động nữ Nữ giới chỉ thực sự nổi bật trong hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm Với các hoạt động hỗ trợ cho việc trồng trọt và chăn nuôi như vay vốn, bán sản phẩm, mua giống và vật tư, nam giới vẫn là người thực hiện nhiều hơn (xem Biểu đồ 1) Trên thực tế, gần 2/3 số nữ giới (207 trên 312 nhân khẩu đang lao động của tất cả các hộ được khảo sát) xem sản xuất nông nghiệp là nghề chính của mình Số còn lại ngoài làm nội trợ thì tham gia vào các công việc phi nông nghiệp, như làm công nhân, buôn bán nhỏ tại nhà (thường là bán tạp hóa), làm tiểu thủ công nghiệp như nấu rượu, may tụng, lột vỏ hạt điều Trong đó, nội trợ và tiểu thủ công nghiệp là hai hoạt động nổi trội hơn rất nhiều so với nam giới16 Ở đây, mức độ tham gia vào các hoạt động kinh tế trong gia đình giữa nam và

nữ chưa thể nói lên tính chất bất bình đẳng giới, bởi họ đảm trách những công việc khác nhau góp phần tạo thu nhập cho hộ

Hơn nữa, khi xem xét quyền quyết định một số công việc trong gia đình - tiêu chí được xem

là biểu hiện trực tiếp cho sự (bất) bình đẳng giới - bao gồm việc làm ăn, mua sắm đồ đạc, việc học hành của con cái và giao tế trong gia đình-họ hàng, kết quả thu được là số hộ mà

cả hai vợ chồng cùng quyết định luôn chiếm tỉ lệ quá bán Còn đối với những hộ mà có chỉ

vợ hoặc chồng quyết định thì có sự phân công khá rõ ràng về lĩnh vực Trong phần đông số nông hộ, người chồng sẽ quyết định công việc làm ăn cũng như giao tế trong gia đình-họ hàng Còn người vợ phần nhiều sẽ lo việc học hành của con cái Số hộ có chồng hoặc vợ quyết định việc mua sắm đồ đạc trong nhà là như nhau Nam giới chỉ thực sự nổi bật trong việc giao tế với cộng đồng bên ngoài, với tỉ lệ ngang bằng với những hộ có cả hai vợ chồng cùng quyết định, và là tỉ lệ cao nhất ở lựa chọn “chủ yếu là chồng”quyết định (chiếm 42%) (xem Biểu đồ 2) Điều này dường như phù hợp với thái độ của nhóm nam và nữ khi được hỏi về quyền quyết định của nam giới trong gia đình cũng như việc vợ phải phục tùng chồng (xem lại Bảng 2)

Ngoài việc đánh giá sự bình đẳng giới trong nông hộ, có thể điều đáng quan tâm ở đây là dường như có ranh giới nào đó ngăn cách nữ giới với lĩnh vực trồng trọt, ngay cả khi họ bị đặt vào tình huống phải đảm nhận công việc đồng áng Sự ngăn cách này ít nhiều có liên hệ với nhân tố quan niệm trọng nam trong phạm vi gia đình Ngoài các số liệu thống kê, có thể nhận biết điều này rõ hơn qua một trường hợp đặc biệt là bà Đào (sinh năm 1956, xã Mỹ Thành Bắc) Chồng bà mất sớm, hiện bà phải nuôi hai người con gái đang đi học và mẹ

15 Người dân địa phương cho biết trước đây, việc gieo lúa thường do nam giới đảm nhận, còn cấy giặm là công việc của nữ giới Nhưng hiện nay, nông dân đã không còn gieo cấy mà chuyển sang sạ lan (sạ lúa bằng tay), sau

đó giặm lại cho đều Công việc này hầu như do nam giới thực hiện Còn ở hộ trồng dưa, công việc chủ yếu của

họ là đục lỗ và bỏ hạt, thường cả hai giới đều làm Theo đó, mục hỏi gieo cấy ở đây có tính chất là để hỏi khâu gieo trồng nói chung

16 Với 105 phụ nữ còn lại, số có nghề chính là làm công nhân chiếm 29%; cán bộ-công chức-nhân viên là 22%; nội trợ là 19%; tiểu thủ công nghiệp là 15%; dịch vụ phục nông nghiệp là 8%; và buôn bán ngoài nông nghiệp là 6%.Ở nhóm nam giới với đặc điểm mẫu tương tự, các tỉ lệ này lần lượt là 28%; 22%; 1%; 8%; 27% và 2%

Trang 10

chồng đã lớn tuổi Cuộc sống của gia đình phụ thuộc vào sáu công ruộng và việc nấu rượu của bà Do nhà không có nam giới nên bà đã nhờ những người anh em trai của mình đỡ đần công việc trồng lúa Người em trai út sống gần nhà bà thường giúp bà sạ lúa và ngủ lại ruộng để canh chừng thóc giống sau khi sạ, vì những công việc này có phần nặng nhọc và bất tiện với bà Còn người em rể thứ tư sống ở xã bên cạnh giúp tư vấn cho bà việc phun thuốc và cũng nhờ người này mà bà biết cách bón phân Hiện tại, mỗi lần cần phun thuốc hay bón phân, bà đều hỏi ý kiến người em này Với các khâu như làm đất và thu hoạch, bà đều thuê mướn máy móc theo thỏa thuận với những hộ có ruộng gần kề Thỉnh thoảng bà cũng thuê mướn nhân công để phun thuốc và sạ lúa Dù có hoàn cảnh đặc biệt nhưng trường hợp bà Đào lại phản ánh một mẫu hình phổ biến ở địa phương rằng nam giới luôn là người chiếm ưu thế trong lĩnh vực trồng trọt Hai người em của bà có thể đại diện cho hai kiểu diễn ngôn mà cộng đồng thường dùng để lý giải cho vị trí ưu thế của nam giới trong hoạt động nông nghiệp: nam giới có cơ thể khỏe mạnh hơn do đó có thể đảm đương những công việc đồng áng nặng nhọc hoặc được xem là bất tiện với phụ nữ; và nam giới là những người am hiểu, có thể vận dụng tốt các kĩ thuật canh tác để vụ mùa có năng suất cao Diễn ngôn đầu có thể đã từng đúng theo cách thức canh tác truyền thống (từ sau năm 1975 đến cuối những năm 1990) Những công việc đòi hỏi sức khỏe như làm đất, gieo sạ, điều tiết nước tưới tiêu đều do nam giới đảm trách17 Còn phụ nữ được cho là có tính tỉ mỉ và kiên nhẫn hơn, nên thường tham gia vào các khâu cấy giặm, làm cỏ và thu hoạch Việc thuê mướn nhân công chỉ diễn ra lúc thu hoạch khi cần phải hoàn thành công việc trong thời gian ngắn Từ cuối những năm 1990 - khi có sự cơ giới hóa cũng như việc sử dụng nhiều loại giống lúa, phân bón, thuốc trừ sâu, cũng như kể từ năm 2000 - khi việc trồng xen canh cây màu xuất hiện và trở nên phổ biến ở Tiền Giang cho đến nay, sự tham gia của nam giới vào hoạt động nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế nhưng không hoàn toàn dựa vào sức lực cơ bắp Bởi những khâu trước đây vốn cần nhiều sức lực như làm đất và thu hoạch thì nay đã có sự tham gia mạnh mẽ của phương tiện cơ giới; cũng như việc thuê mướn nhân công diễn ra ở hầu hết các khâu trong quá trình canh tác18 Thay vào đó, nam giới lại thực sự nổi bật ở những khâu rải phân, phun thuốc, cũng như việc mua giống và vật tư, nhất là trong việc trồng màu vốn đòi hỏi quy trình kĩ thuật công phu hơn Ở những khâu này, tỉ lệ tham gia của

họ gấp 4-5 lần so với của nữ giới (xem Biểu đồ 1) Đây là những khâu được nhấn mạnh trong canh tác nông nghiệp hiện nay Việc sử dụng giống lúa ngắn ngày, thay đổi cơ cấu cây trồng, cùng với việc rải phân, phun thuốc được xem là những biểu hiện cụ thể của việc áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật vào canh tác nông nghiệp Những hoạt động này cần

sự hiểu biết lẫn kinh nghiệm thực hành nếu muốn đạt kết quả tốt, và nam giới được xem là gắn liền với những khả năng đó19 Từ điểm này, giả thuyết có thể được đặt ra là về mặt biểu

17 Theo ông Văn (sinh năm 1964, xã Phú Nhuận), trong canh tác truyền thống, việc bón phân, phun thuốc hầu như rất ít được thực hiện do sự khan hiếm của các mặt hàng này

18

Một điểm đáng chú ý là việc thuê mướn máy móc và nhân công trên thực tế giúp giảm công sức lao động của nam giới hơn là nữ giới Điều này thể hiện khá rõ khi so sánh sự phân công lao động ở những nông hộ có diện tích đất khác nhau Chẳng hạn ở khâu làm đất, đối với hộ có từ 10 công đất trở xuống, tỉ lệ giữa lao động nam, lao động nữ, nhân công thuê mướn và máy móc lần lượt là 41%; 14%; 8% và 32%; còn với hộ có trên 10 công đất, tỉ lệ lao động nam gần như không đổi (41%), trong khi lao động nữ và nhân công thuê mướn tăng (lần lượt là 17% và 13%), còn thuê mướn máy móc giảm (26%) (Những hộ có nhiều ruộng đất thường tự trang bị máy cày hoặc máy xới cho gia đình thay vì đi thuê mướn Tại ba địa bàn khảo sát, tổng số máy cày và máy xới được ghi nhận là 15 chiếc, trong đó 13 chiếc là thuộc sở hữu của những hộ có 10 công đất trở lên) Ở khâu thu hoạch, tỉ lệ máy móc được thuê mướn của hai loại hộ này gần như không đổi (do hầu hết đều phải mướn máy gặt đập liên hợp ở nơi khác), nhưng lao động nữ và nhân công thuê mướn ở hộ có trên 10 công đất có xu hướng tăng, trong khi lao động nam giảm Cũng vậy, ở các khâu gieo cấy, chăm sóc cây trồng, rải phân-phun thuốc, khi diện tích đất càng nhiều thì tỉ lệ nhân công thuê mướn càng cao, tỉ lệ lao động nữ gần như không đổi hoặc có tăng thêm, còn tỉ lệ lao động nam lại giảm

19 Trong nhiều trường hợp phỏng vấn, nam thông tín viên thường tỏ ra am hiểu kĩ thuật hơn nữ giới Như trường hợp ông Văn (sinh năm 1964, xã Phú Nhuận), ông cho rằng ít có phụ nữ hiểu biết được như nam giới trong nghề nông lẫn làm ăn Do đó, người chồng phải nắm quyền trong gia đình và đối với vợ mình Ông cũng dạy những người con gái đã lập gia đình của mình phải nghe lời của chồng như vậy Về số liệu thống kê, tỉ lệ nam giới cho

Trang 11

hiện, nam giới vẫn giữ vị trí ưu thế trong hoạt động nông nghiệp; còn về tính chất, vị trí của nam giới so với nữ giới đã có sự dịch chuyển trong những thập kỷ qua: từ lao động chính chủ yếu dựa vào sức mạnh thể lực sang lao động chính chủ yếu dựa vào việc làm chủ tri thức kĩ thuật canh tác Xét theo phương diện ngược lại, sự xuất hiện của tri thức và thực hành kĩ thuật canh tác hiện đại một mặt thay đổi tỉ lệ tham gia lao động của các thành viên nông hộ, mặt khác lại củng cố trật tự giới trong hoạt động canh tác của nông hộ20

Biểu đồ 1 Phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp của nông hộ tỉnh Tiền Giang

Nguồn: Số liệu điều tra của đề tài năm 2014

Ở một khu vực thuần nông, vị trí ưu thế của nam giới trong việc trồng trọt - dù là về thể lực hay khả năng làm chủ kĩ thuật canh tác - có lẽ cũng khiến người ta duy trì mong muốn sinh con trai để sớm có người đỡ đần gia đình trong việc đồng áng21 Ngoài ra, theo cách tính phụ hệ, con trai sẽ là người được thừa kế ruộng đất từ ông bà cha mẹ22 Việc tiếp nhận tài sản bất động sản như thế cũng có nghĩa là thừa hưởng cả nghề làm nông và những kinh nghiệm canh tác của các thế hệ trước Những người con trai trong trường hợp này trở thành biểu tượng cho sự nối dài công việc làm nông của thế hệ cha mẹ Bên cạnh đó, do các mảnh ruộng có vị trí nằm kề nhau tạo thành những cánh đồng có chung hệ thống thủy lợi và giao thông, nên việc thừa kế ruộng đất cũng đồng nghĩa với việc bắt đầu tham gia và duy trì mối quan hệ với những gia đình có ruộng liền kề vốn đã tồn tại từ nhiều thế hệ trước

Là hình ảnh của sức mạnh thể lực, tri thức kĩ thuật canh tác,sự nối tiếp nghề nông cũng như các quan hệ làng xóm, nam giới một mặt thường được gắn với vai trò chủ hộ, mặt khácđược gắn với không gian bên ngoài của ruộng đồng23 Còn nữ giới thường sẽ về nhà rằng việc được huấn luyện thêm về kĩ thuật và trao đổi kinh nghiệm sản xuất, làm ăn là rất cần thiết chiếm 80%, còn nữ giới là 56% Số cho rằng không cần thiết ở nam giới chỉ chiếm 7%, còn ở nữ giới là 24%

20 Sự chuyển dịch này hàm ý việc nhấn mạnh vai trò nào hơn ở nam giới qua các giai đoạn, sức mạnh thể lực hay việc làm chủ tri thức kĩ thuật canh tác Bởi trước đây nông hộ vẫn có những kĩ thuật canh tác (như cho ruộng ngập nước và thả vịt vào để diệt rầy, hoặc dùng dây trâm bầu để rẩy một thứ nước chiết xuất từ các loại cây có độc tính để diệt sâu), cũng như thể lực vẫn rất cần trong việc sản xuất nông nghiệp hiện nay Hơn thế, một thực

tế nữa là cả hai loại diễn ngôn này vẫn cùng tồn tại và phổ biến ở các địa bàn vào thời điểm khảo sát

21 Mong muốn này hiện nay vẫn còn khá phổ biến Khi được hỏi mệnh đề “Nhà phải có con trai để nối dõi tông đường”, 67% nữ và 64% nam trả lời đồng ý, trong khi số không đồng ý ở nữ chiếm 31% và ở nam là 35% Với trường hợp bà Đào được thuật lại ở trên, bà chỉ có hai người con gái, nhà cũng không có đàn ông coi sóc ruộng vườn, nên bà thường gọi hai cô con gái của mình là “thằng” để ngụ ý về mong muốn có con trai của mình, thậm chí là khi trả lời phỏng vấn có ghi âm với người khảo sát

22 Đối với hộ có nhiều ruộng đất, họ cũng chia cho con gái, nhưng thường số ruộng đất này sẽ ít hơn so với cho con trai Còn với hộ có ít ruộng đất, họ sẽ ưu tiên chia cho các con trai với lý do là những người con này còn phải

lo cho gia đình Đặc biệt họ thường chia phần nhiều hơn cho con trai út để người con này lo việc hương hỏa về sau

23 Trong 240 hộ được khảo sát, số nam chủ hộ là 197 người và số nữ chủ hộ là 43 người Trong những nam chủ

hộ, số làm nghề nông là chính chiếm 89%, tỉ lệ này ở nữ chủ hộ là 75%

Ngày đăng: 08/02/2022, 16:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w