1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG: LÝ THUYẾT THIẾT LẬP CHƯƠNG TRÌNH NGHỊ SỰ (AGENDA SETTING)

31 609 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự Agenda setting theory là lý thuyết truyền thông có tầm ảnh hưởng quan trọng đến các nhân tố của truyền thông từ các cơ quan truyền th

Trang 1

BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO -* -

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

LÝ THUYẾT THIẾT LẬP CHƯƠNG TRÌNH

NGHỊ SỰ (AGENDA SETTING)

Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Văn Kiền

Nhóm sinh viên thực hiện:

Hoàng Minh Anh TT47A1-0536 Trần Thị Ngọc Anh TT47C1-0467 Nguyễn Thị Thùy Dương TT47A1-0544 Tăng Lê Nhã Hân TT47A1-0551

Hà Nội, tháng 6 năm 2021

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU 3

I Lịch sử nghiên cứu và khái niệm của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự: 4

2 Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting Theory): 5

II Nội dung, đặc điểm chính của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự: 7

2 Giả thiết về Thiết lập chương trình nghị sự và hai cấp độ: 9

III Phân tích về thuyết thiết lập chương trình nghị sự trong thực tiễn truyền thông

1 Ảnh hưởng của truyền thông quốc tế và trong nước đến bầu cử ở Mỹ và Việt

1.2 Ảnh hưởng của truyền thông Việt Nam lên sự thay đổi trong thái độ của người dân với 2 lần đề cử tổng thống của tỷ phú Donald Trump: 18 1.3 Nhánh hành pháp thứ tư ở Mỹ: Sự chi phối của các tập đoàn truyền

2 Thái độ và chiến lược truyền thông của Mỹ và phương Tây đối với những

2.2 Tên lửa Trung Quốc và Hoa Kỳ: Cùng một hiện tượng nhưng hai cái

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda setting theory) là lý thuyết truyền thông có tầm ảnh hưởng quan trọng đến các nhân tố của truyền thông từ các cơ quan truyền thông đến công chúng và cả những nhà hoạch định chính sách Đặc biệt, trong bối cảnh ngày nay khi Internet có mặt ở khắp mọi nơi, mạng xã hội trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của cả những người trẻ và người già, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự lại càng được vận dụng dễ dàng và nhanh chóng hơn bao giờ hết

Do vậy, trong tiểu luận này, từ việc nghiên cứu các lý luận về thuyết thiết lập chương trình nghị sự, chúng em sẽ phân tích sự chi phối và tác động của truyền thông quốc tế

và Việt Nam trong một số trường hợp tiêu biểu khác nhau nhằm chỉ rõ hiệu quả đa dạng của thuyết thiết lập chương trình nghị sự Cụ thể, bài tiểu luận sẽ có 3 phần chính:

I Lịch sử nghiên cứu và khái niệm của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự

II Nội dung, đặc điểm chính của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự

III Phân tích về thuyết thiết lập chương trình nghị sự trong thực tiễn truyền thông tại Việt Nam và thế giới

Bài tiểu luận này là sản phẩm cuối kỳ được đúc kết sau một thời gian dài học tập

và tiếp thu kiến thức từ thầy, anh chị và các bạn Mặc dù còn nhiều thiếu sót, chúng em mong bài làm phần nào đáp ứng được những kỳ vọng của thầy Thời gian qua, cả lớp

và thầy đã cùng nhau trải qua một học kỳ vất vả nhưng cũng rất thành công dù có sự xuất hiện đột ngột của dịch bệnh COVID-19 Nhóm em xin chân thành cảm ơn thầy và chúc thầy cùng gia đình thật nhiều sức khỏe để cùng bọn em hoàn thành tiếp những chặng đường phía trước Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

NỘI DUNG

I Lịch sử nghiên cứu và khái niệm của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự:

1 Những nghiên cứu ban đầu và sự ra đời:

Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự được đặt nền móng từ năm 1922, khi Walter Lippmann- một nhà văn, phóng viên và nhà bình luận chính trị người Mỹ bày tỏ mối quan tâm của ông về vai trò quan trọng mà các phương tiện truyền thông đại chúng

có thể làm trong việc ảnh hưởng đến bối cảnh của một số hình ảnh nhất định trong tâm

trí công chúng, đề cập trong tác phẩm “Public Opinion” (1922) với một chương có tựa

đề “The world Outside and the Pictures in Our Heads” (Thế giới bên ngoài và những

hình ảnh trong đầu chúng ta)1 Theo như Lippmann thì các phương tiện truyền thông là nguồn chính của những hình ảnh, những viễn cảnh đó trong đầu chúng ta về thế giới ngoài kia với các vấn đề xã hội, một thế giới mà đối với hầu hết công chúng là ngoài tầm với và khó có thể nhận ra được Những gì chúng ta biết về thế giới, hay "những bức tranh trong đầu chúng ta", phần lớn dựa trên những gì các phương tiện truyền thông truyền tải tới chúng ta

Từ đây, Lippmann đã chỉ ra được cách các phương tiện truyền thông đại chúng

có thể thiết lập một chương trình nghị sự có thể ảnh hưởng đến quan điểm của công chúng Tuy nhiên, ông không hề sử dụng bất cứ thuật ngữ "lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự" nào trong cuốn sách của mình Mặc dù vậy, không thể phủ nhận chính ông đã tạo ra nền tảng cho lý thuyết này

Sau phát hiện của Lippmann, thuật ngữ "lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự" lần đầu tiên được đặt ra bởi Maxwell McCombs và Donald L.Shaw vào năm 19722 McCombs - người được biết đến rộng rãi trong lĩnh vực truyền thông đại chúng vì những phát hiện và thành tựu của ông trong nghiên cứu thiết lập chương trình nghị sự trong gần bốn thập kỷ3 Ông đã thiết lập chương trình nghị sự từ một giả thuyết thành công đến một lý thuyết phát triển cao về nghiên cứu truyền thông đại chúng, đồng thời thừa

1 Lippmann, W (1922) Public opinion Transaction Publishers

2 McCombs, M.E (1997) New frontiers in agenda setting: Agendas of attributes and frames Mass

Communication Review, 24, 4-24 McCombs, M.E., & Shaw, D.L (1972) The agenda-setting function of mass

media Public Opinion Quarterly

3 Max McCombs, the University of Texas at Austin, https://journalism.utexas.edu/faculty/max-mccombs, truy cập ngày 10/06/2021

Trang 5

nhận và mở rộng những hiểu biết của Walter Lippmann có trong “Public Opinion” rằng

những gì chúng ta biết, phần lớn dựa trên những gì các phương tiện truyền thông quyết định cho chúng ta biết

Nghiên cứu đầu tiên của ông, Chapel Hill, được thực hiện với cộng sự của ông,

Donald Shaw, trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1968 với hai ứng cử viên là Richard Nixon và Hubert Humphrey Họ đã tiến hành nghiên cứu với đối tượng là các cử tri chưa quyết định lá phiếu của mình Nếu thuyết thiết lập chương trình nghị sự thực sự

có ảnh hưởng tới nhóm cử tri này thì giả thuyết nghiên cứu sẽ hợp lý và khách quan hơn Khi tiến hành phân tích nội dung của các bản tin chính trị đăng tải trên truyền thông Mỹ trong cùng một thời gian, McCombs và Donald Shaw đã phát hiện ra rằng, giữa sự phán đoán của cử tri về những vấn đề quan trọng trước mắt và những vấn đề được các hãng truyền thông đưa tin nhiều đều có mối quan hệ tương quan sâu sắc Bằng cách điều tra chức năng của thiết lập chương trình nghị sự của các phương tiện truyền thông đại chúng, họ đánh giá mối quan hệ giữa những vấn đề mà cử tri trong một cộng đồng cho rằng là quan trọng và những nội dung thực tế của các thông điệp mà các nhà truyền thông đã sử dụng trong suốt cuộc chiến dịch tranh cử Họ đi đến kết luận rằng: các phương tiện truyền thông đại chúng đã có ảnh hưởng đáng kể tới những điều mà cử tri cho rằng nó là chính là vấn đề trọng tâm của chiến dịch4 McCombs và Shaw sau đó

tiếp tục nghiên cứu Charlotte để thiết lập trật tự thời gian, đây là điều kiện thứ hai cần

thiết để xác định ảnh hưởng cơ bản của các thông điệp truyền thông Nó dựa trên nghiên cứu của hội đồng được thực hiện tại Charlotte trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1972 Nghiên cứu được thiết kế để chứng minh rằng, chương trình nghị sự của các phương tiện truyền thông đi trước và ảnh hưởng đến công chúng Đây là một bước ngoặt, trong

đó giả thuyết của họ trên thực tế đã trở thành một lý thuyết đang phát triển

2 Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting Theory):

Kể từ khi nghiên cứu ban đầu Chapel Hill của McCombs với đồng nghiệp

Donald Shaw của ông đặt ra thuật ngữ "thiết lập chương trình nghị sự" vào năm 1968,

4 L Shaw và M.E.McCombs, The emergence of American Political Issues: The Agenda Setting Function of the

Press, West Publishing

Trang 6

lý thuyết này được phổ biến và phát triển rất nhiều, hơn 400 nghiên cứu về thiết lập chương trình nghị sự đã được thực hiện trên toàn thế giới

Lý thuyết này giải thích mối liên hệ giữa sự nhấn mạnh mà các phương tiện truyền thông đại chúng đặt ra như một vấn đề và khán giả truyền thông hoặc phản ứng hoặc thuộc tính của công chúng đối với vấn đề đó.5

Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự bắt đầu như một lời giải thích về cách các phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến việc thay đổi mô hình hành vi chính trị trong các cuộc bầu cử.6 Sau đó, lý thuyết đã truyền cảm hứng và phát triển hàng trăm khám phá sau này về cách các phương tiện truyền thông đại chúng và đóng khung các vấn đề cho khán giả của họ Không chỉ giới hạn ở đó, cuộc thảo luận còn đề cập đến cách các phương tiện truyền thông đại chúng tạo màu cho một sự kiện cụ thể cho khán giả truyền thông của họ.7

Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự là lý thuyết quan trọng không chỉ về truyền thông đại chúng, mà còn mở rộng sang các nghiên cứu khoa học xã hội liên quan khác như truyền thông chính trị.8 Theo lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự, các phương tiện truyền thông đại chúng được cho là không có khả năng thiết lập chương trình nghị sự công cộng đặc biệt là trong các vấn đề ý kiến hoặc thái độ.9 Tuy nhiên, các phương tiện này có quyền truy cập đặc biệt trong việc đóng góp hoặc ảnh hưởng đến nhận thức, giá trị, sự tập trung và ưu tiên của khán giả Với ảnh hưởng đó, khán giả truyền thông có xu hướng hình thành ý kiến của riêng họ hoặc tập trung vào những vấn

đề được coi là xứng đáng để đưa vào chương trình nghị sự của họ

Tựu chung lại, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting Theory)

là một lý thuyết truyền thông, tập trung mô tả sự ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng trong việc xác lập tầm quan trọng của thông tin được gửi tới công chúng Theo đó, trong quá trình truyền thông, nếu những tin tức nào đó được nhắc tới

5 Littlejohn, S W., & Foss, K A (Eds.) (2009) Encyclopedia of communication theory (Vol 1)

6 Cohen, B.C (1963) The press and foreign policy Princeton, NJ: Princeton University Press

7 Matsaganis, M D., & Payne, J G (2005) Agenda Setting in a Culture of Fear The Lasting Effects of

September 11 on American Politics and Journalism American Behavioral Scientist, 49(3), 379-392

8 Reese, S D (1991) Setting the media's agenda: A power balance perspective Communication Yearbook, 14,

309-340

9 Cohen, B.C (1963) The press and foreign policy Princeton, NJ: Princeton University Press

Trang 7

thường xuyên, liên tục và được làm nổi bật thì công chúng sẽ tự động coi đó là tin tức

và thông tin quan trọng nhất được cung cấp cho họ.10

Điểm nổi bật của lý thuyết này là truyền thông đại chúng có một chức năng sắp đặt “chương trình nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơ quan báo chí - truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những

“chuyện đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng, bằng cách phủ cho các “chương trình” nét nổi bật khác nhau, từ đó có thể tác động và tạo ra sự dẫn đường, định hướng trong tương lai

II Nội dung, đặc điểm chính của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự:

1 Mô hình khái niệm:

Mô hình dưới đây giúp mô tả cơ chế thiết lập chương trình nghị sự, đồng thời qua đó làm rõ các loại hình nghị sự, và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của nó

Gatekeeper – người kiểm soát, là khái niệm để chỉ một chủ thể tham gia vào quá

trình đưa ra quyết định của sản phẩm truyền thông Thông thường, người kiểm soát truyền thông là một nhà báo hoặc biên tập viên được giao nhiệm vụ lọc thông tin trước khi nó được xuất bản, phát sóng hoặc đăng trên web.11 Đối với Internet, các công cụ tìm

10 Communication Theory, Agenda Setting Theory,

https://www.communicationtheory.org/agenda-setting-theory/#comment-787, truy cập 10/06/2021

11 Reference, What Is a Media Gatekeeper?,

https://www.reference.com/world-view/media-gatekeeper-8ad05306bf88ea8c, truy cập ngày 10/06/2021

Trang 8

kiếm cũng có thể được hiểu với khái niệm Gatekeeper Không phải tất cả thông tin đều

có thể được truyền đến công chúng Người kiểm soát quyết định thông tin nào phù hợp

và thông tin nào có thể bị loại bỏ Đầu tiên, có những ảnh hưởng bên ngoài phương tiện truyền thông như thông cáo báo chí và hội nghị, cung cấp cho những người gác cổng thông tin để đưa vào chương trình nghị sự Những người gác cổng đánh giá cao những ảnh hưởng này bởi vì chúng cung cấp cho họ những nguồn quan tâm của công chúng Chúng cũng cho phép người gác cổng sản xuất tin tức một cách hiệu quả, vì họ cung cấp một lượng lớn thông tin về vấn đề này Các ảnh hưởng khác đến nội dung bao gồm các đặc điểm cá nhân của nhà báo và các cân nhắc về văn hóa Các đặc điểm của nhà báo, chẳng hạn như chủng tộc, giới tính và đảng phái chính trị ảnh hưởng đến loại câu chuyện họ viết, cũng như góc độ mà họ viết chúng Ngoài ra, đất nước và nền văn hóa

mà họ đang viết ảnh hưởng đến cách thức và cách họ viết Ví dụ, các nhà báo ở Hoa Kỳ

có xu hướng viết theo quan điểm của các giá trị và tiêu chuẩn hành vi của người Mỹ.12

Các thông tin được truyền đạt theo trình tự: Chương trình nghị sự truyền thông;

chương trình nghị sự công cộng; chương trình nghị sự chính sách Đây cũng chính là ba loại hình của chương trình nghị sự

Thứ nhất, chương trình nghị sự truyền thông, là các vấn đề được thảo luận trên

các phương tiện truyền thông, chẳng hạn như báo chí, truyền hình và đài phát thanh Kiểu thiết lập chương trình nghị sự này trả lời cho câu hỏi ai là người quyết định chương trình làm việc cho những người thiết lập chương trình làm việc và đó chính là người gác cổng

Thứ hai, chương trình nghị sự công cộng, là các vấn đề được thảo luận giữa các

thành viên của công chúng Nó đo lường cách công chúng thực sự phản ứng với vấn đề sau khi nó đã được đưa vào chương trình nghị sự

Thứ ba, chương trình nghị sự chính sách, là những vấn đề mà các nhà hoạch định

chính sách coi là quan trọng, chẳng hạn như các nhà lập pháp Việc thiết lập chương trình nghị sự chính sách xem xét cách các phương tiện thông tin đại chúng có khả năng tác động đến chính sách lập pháp như thế nào Cobb và Elder đã quan sát vào năm 1972

12 Jamie Baird, Agenda Setting And The Public Relations Industry, Pennsylvania State University, Penn State,

https://sites.psu.edu/jamiebaird/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 8/6/2021

Trang 9

rằng để có được một chính sách trong chương trình nghị sự, vấn đề đầu tiên được tạo ra bởi một số loại sự kiện kích hoạt và sau đó được mở rộng hơn nữa để thu hút sự ủng hộ của công chúng Họ cũng thảo luận về các vấn đề lập pháp có cơ hội thành công tốt nhất

là những vấn đề có ý nghĩa xã hội, không phức tạp và không được ưu tiên rõ ràng Các loại vấn đề này có thể được giới truyền thông đưa tin, và do đó được quan tâm đầy đủ

để đưa vào chương trình nghị sự của công chúng.13

Ngoài ra còn có chương trình nghị sự của công ty, chúng là những vấn đề được các tập đoàn lớn coi là quan trọng

Từ đây, ta có thể hiểu thứ tự truyền đạt này tức ban đầu các phương tiện truyền thông sẽ thiết lập chương trình nghị sự cho các thông tin mà họ coi là nổi bật, hay quan trọng Sau đó, công chúng sẽ bắt đầu thảo luận về chúng trước khi chương trình nghị sự chính sách được thiết lập bởi sự ảnh hưởng của truyền thông và công chúng đến các nhà hoạch định chính sách

Các thông tin trên bị chi phối bởi hai vấn đề: kinh nghiệm cá nhân cùng với

truyền thông liên cá nhân; Các chỉ số thực về độ quan trọng của một vấn đề nghị sự hoặc sự kiện Nói một cách đơn giản, các phương tiện truyền thông truyền thông điệp tới công chúng, tuy nhiên cách tiếp nhận, nhận thức thông tin đó của công chúng là khác nhau Nếu kinh nghiệm của cá nhân đủ nhiều về một vấn đề, thì nó sẽ ít bị chi phối bởi các phương tiện truyền thông Mặt khác, khi các phương tiện truyền thông thu hút sự chú ý của công chúng vào một vấn đề, nhưng thực tế vấn đề không thật sự đáng quan tâm thì hiệu quả của chương trình nghị sự này cũng bị giảm đi

2 Giả thiết về Thiết lập chương trình nghị sự và hai cấp độ:

Các nghiên cứu về thiết lập chương trình nghị sự cho thấy rằng các phương tiện truyền thông báo chí đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định công chúng nghĩ

gì Hiện nay, có hai giả thiết cơ sở về cách mà lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự ảnh hưởng đến công chúng

13 Jamie Baird, Agenda Setting And The Public Relations Industry, Pennsylvania State University, Penn State,

https://sites.psu.edu/jamiebaird/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 8/6/2021

Trang 10

Giả thiết thứ nhất, các cơ quan báo chí và nền truyền thông không phản ánh hiện

thực; họ chọn lọc và định dạng nó, thay vì chỉ tường thuật diễn biến của sự kiện.14 Tức

là sau khi chọn lọc những thông tin hiện đang nhận được nhiều sự quan tâm từ công chúng, các cơ quan truyền thông sẽ đào sâu thêm vấn đề, thêm các tiểu tiết, thậm chí đưa quan điểm của mình, từ đấy nhận được sự quan tâm từ công chúng và hình thành nên một chương trình nghị sự Bằng cách này, thông tin được điều chỉnh để phù hợp với những quan điểm phổ biến nhất của xã hội

Giả thiết thứ hai, truyền thông tập trung vào một số ít các vấn đề và chủ đề khiến

cho công chúng nhận thức rằng các vấn đề đó quan trọng hơn các vấn đề khác.15 Thay

vì cập nhận hết tất cả các tin tức từ tích cực đến tiêu cực xảy ra trong xã hội, các cơ quan báo chí lại tập trung vào một số các tin tức nhất định, chủ yếu là các tin tiêu cực bởi tính gây chú ý của nó Chẳng hạn như hiện nay, khi các tin tức mới nhất về dịch bệnh Covid-19 được cập nhật liên tục, làm chúng ta có xu hướng nghĩ rằng vấn đề lớn nhất trên thế giới bây giờ là dập dịch mà ít quan tâm đến các tin tức về ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, có lẽ vì hậu quả của nó diễn biến chậm hơn dịch bệnh

Việc các phương tiện truyền thông có thể tác động đến dư luận đã được thiết lập

rõ ràng thông qua các nghiên cứu thiết lập chương trình nghị sự Max McCombs và Donald Shaw (1972), đã chỉ ra rằng, ít nhất là khi đề cập đến các vấn đề quốc gia, bằng cách phớt lờ một số vấn đề và chú ý đến những vấn đề khác, các phương tiện thông tin đại chúng ảnh hưởng sâu sắc đến vấn đề nào mà người đọc, người xem và người nghe coi trọng Các nghiên cứu điển hình, phân tích nội dung, bán thực nghiệm và các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, ít nhất ở một mức độ nào đó, tin tức đưa tin là một yếu tố dự báo đáng kể về sự thay đổi trong dư luận

Nói đơn giản hơn, thiết lập chương trình nghị sự là sự chuyển tải sự quan tâm từ giới truyền thông sang công chúng, có nghĩa là phương tiện truyền thông ảnh hưởng đến mức độ quan trọng của công chúng khi phát hiện ra một vấn đề Các phương tiện truyền thông thường xuyên chú ý đến một vấn đề, làm tăng sự chú ý của công chúng về

vấn đề đó Quá trình chuyển đổi này được gọi là cấp độ đầu tiên của thiết lập chương

14 Psynso, Agenda-setting Theory, https://psynso.com/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 12/06/2021

15 Psynso, Agenda-setting Theory, https://psynso.com/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 12/06/2021

Trang 11

trình nghị sự Từ đây, cấp độ thứ hai của việc thiết lập chương trình nghị sự cũng hình

thành khi lý thuyết này được phát triển thêm Không chỉ có sự chuyển giao mức độ quan tâm của vấn đề, mà còn có sự chuyển giao của sự quan tâm đặc trưng của vấn đề Các phương tiện truyền thông quảng bá những khía cạnh nhất định của vấn đề hơn những khía cạnh khác, khiến chúng trở nên quan trọng hơn đối với công chúng

Ví dụ, khi vụ bê bối Clinton-Lewinsky nổ ra vào năm 1998, giới truyền thông đã bận tâm đến vấn đề này đến nỗi phải mất hơn một năm New York Times mới đăng một

sự kiện mà không có tên của Lewinsky được đề cập trong bất kỳ bài báo nào (Yioutas

& Segvic, 2003) 16 Điều này đương nhiên dẫn đến việc cả đất nước bị cuốn vào vụ bê bối, một ví dụ điển hình về việc thiết lập chương trình nghị sự cấp một Khi tin tức liên tục được nổ ra, ABC News và Washington Post đã tiến hành một cuộc khảo sát, trong

đó đối với “87% những người được khảo sát, việc khuyến khích đạo đức và giá trị sẽ là yếu tố trong quyết định bỏ phiếu của họ cho vị trí tổng thống”.17 Với cách mà tin tức được đưa ra, đạo đức của tổng thống đã trở thành một thuộc tính của vụ bê bối mà công chúng quan tâm nhất, một ví dụ về việc thiết lập chương trình nghị sự cấp hai

3 Cơ sở của lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự:

Trong mô hình truyền thông đại chúng, thông điệp từ nguồn bao giờ cũng mang tính khuynh hướng, khuynh hướng bị quy định bởi mục đích của thông tin truyền đi Là một lý thuyết truyền thông, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự được vận dụng để định hướng ý kiến công chúng theo khuynh hướng của thông tin, nói cách khác là tạo nên một vấn đề nghị sự trong lòng dư luận

Cơ sở tâm lý của việc dẫn dắt dư luận này là sự tập trung có chọn lọc của công

chúng Sự thật là, chúng ta không thể chú ý đến mọi thứ, đây là điều đã được chứng minh Khi được hỏi về một vấn đề nào đó, thay vì phân tích toàn diện dựa trên kho thông tin tổng thể, hầu hết các công chúng thường dựa vào những thông tin nhỏ đặc biệt nổi bật tại thời điểm phải đưa ra phán quyết Nói cách khác, công chúng dựa vào chương

16 Yioutas, J., Segvic, I (2003) Revisiting the Clinton/Lewinsky scandal: The convergence of agenda setting

and framing Journalism and Mass Communication Quarterly

https://journals.sagepub.com/doi/abs/10.1177/107769900308000306 Truy cập ngày 7/6/2021

17 Yioutas, J., Segvic, I (2003) Revisiting the Clinton/Lewinsky scandal: The convergence of agenda setting

and framing Journalism and Mass Communication Quarterly

https://journals.sagepub.com/doi/abs/10.1177/107769900308000306 Truy cập ngày 7/6/2021

Trang 12

trình nghị sự của các đối tượng và thuộc tính nổi bật trong tâm trí họ được các phương tiện thông tin đại chúng ấn định ở một mức độ đáng kể Khi đó, chương trình nghị sự này xác lập các thông tin, tiêu chí, suy nghĩ, đôi khi là duy nhất để họ đưa ra ý kiến.18

Khi công chúng đã có sự tập trung nhất định vào một số thông tin, bước tiếp theo công chúng sẽ làm là tiếp tục tìm hiểu thêm các thông tin đó, hoặc có xu hướng dừng lại để đọc các tin tức mới nhất về nó trong quá trình lướt web đọc báo Điều này, dần sẽ hình thành nên sự định hướng, mà bản chất của nó chính là sự tò mò, mong muốn cập nhật cái mới của con người, kết hợp với một khoảng thời gian đủ dài để hình thành nên

sự định hướng Con người vốn là một loài sinh vật có động lực bẩm sinh để hiểu môi trường xung quanh Như Leon Festinger nói, sự mất kết nối với thế giới xung quanh yêu cầu chúng ta cần phải thay đổi cách suy nghĩ hoặc thay đổi hành vi của mình để trở lại trạng thái hòa hợp hoặc kết nối Từ đó, định hướng là nhu cầu của các cá nhân để định hướng bản thân với môi trường xung quanh Trong trường hợp của lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự, chúng ta biết rằng các phương tiện truyền thông tin tức cung cấp định hướng này.19 Đúng như một trích dẫn nổi tiếng của Bernard C Cohen:

“Phương tiện truyền thông không cho chúng ta biết phải nghĩ gì, nó cho chúng ta biết phải suy nghĩ về điều gì”

Trên cơ sở này, các nhà đưa tin đã tạo hướng dư luận bằng cách đưa tin của mình như điều chỉnh giọng điệu nhanh, chậm; ngôn từ nghiêm trọng hay bình thường của các bản tin; tần suất của các bản tin hay thứ tự đưa tin để xác lập tầm quan trọng của vấn đề trong đầu công chúng, và dùng nó để kiểm soát khán giả, định hướng dư luận, thậm chí bất chấp thực tế có thể mức độ quan trọng là không đáng kể Ví dụ, vào những năm

1970, mối quan tâm của công chúng đã dấy lên bởi các bản tin về sự thiếu hụt xăng dầu

ở Đức khi không có bằng chứng thực tế nào về sự thiếu hụt.20

4 Hệ quả của lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự:

Thái độ và hành vi thường bị chi phối bởi nhận thức - những gì một người biết, nghĩ và tin Do đó, chức năng thiết lập chương trình nghị sự của các phương tiện thông

18 McCombs, Maxwell E Setting the agenda : the mass media and public opinion Publisher: Cambridge, UK:

Polity; Malden, MA: Blackwell Pub 2004 122

19 Psynso, Agenda-setting Theory, https://psynso.com/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 12/06/2021

20 Kepplinger và Roth 1979, Creating a Crisis: German Mass Media andOil Supply in 1973-74, Oxford

Academic, https://academic.oup.com/poq/article-abstract/43/3/285/1810961, truy cập ngày 05/06/2021

Trang 13

tin đại chúng bao hàm một ảnh hưởng lớn tiềm tàng mà các khía cạnh và hệ quả đầy

Đúng như vậy, các phương tiện truyền thông đại chúng còn làm được nhiều hơn

thế Trong News that Matters, Shanto Iyengar và Donald Kinder đã giải thích: “Bằng

cách tạo ra sự chú ý đến một số vấn đề trong khi phớt lờ những vấn đề khác, các tin tức trên TV (cũng như các phương tiện truyền thông khác) tạo ra ảnh hưởng đến những tiêu chuẩn đánh giá chính phủ, các vị tổng thống, chính sách và công chức” Điều này dễ dàng quan sát nhất trong các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ Năm 2016, khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, hai ứng viên Donald Trump và Hillary Clinton luôn được coi là hai nhân vật hàng đầu của các đảng tương ứng trước khi các ứng cử viên được đề cử được công bố, và mức độ phủ sóng của họ cao hơn đáng kể so với bất kỳ ứng cử viên nào khác từ một trong hai đảng Bên cạnh đó, trong thời gian diễn ra tranh cử, sự chênh lệch về thời lượng phát sóng trong ngày của những tin tức chính trị và những chương trình khác rất lớn Quay trở lại với những thông tin bầu cử, chính bởi vì các phương tiện truyền thông tin tức quyết định những gì sẽ đưa tin trong chương trình của họ nên điều

đó dẫn đến một sự thiên vị trong truyền thông Sự thiên vị này có sức ảnh hưởng đến niềm tin chính trị và quan trọng hơn là sức mạnh thay đổi suy nghĩ của mọi người khi

họ bước vào phòng bỏ phiếu, các cử tri sẽ có xu hướng ấn tượng và đánh giá cao hơn những người họ thường thấy trên truyền thông Một ứng cử viên tổng thống như Bernie Sanders có thể dễ dàng lập luận rằng chiến dịch tranh cử không thành công của ông là

do thiếu sự đưa tin của các phương tiện truyền thông chính thống Bởi so với Hillary Clinton và Donald Trump, sự phủ sóng trên các phương tiện truyền thông đại chúng của Bernie Sanders kém hơn hẳn Kết quả là, Hillary Clinton và Donald Trump là hai ứng viên được bỏ phiếu nhiều nhất và bước vào cuộc bỏ phiếu cuối cùng trước khi ông Donald Trump đắc cử nhiệm kỳ đó.22 Vậy, vấn đề đầu tiên đã xuất hiện, đó chính là sự thiên vị truyền thông

21 McCombs, Maxwell E Setting the agenda : the mass media and public opinion Publisher: Cambridge, UK:

Polity; Malden, MA: Blackwell Pub 2004 P.120

22 Justin Findlay, How Does The Media Influence The Outcome Of An Election?, World Atlas,

https://www.worldatlas.com/articles/how-does-the-media-influence-the-outcome-of-an-election.html, truy cập ngày 10/06/2021

Trang 14

Từ đây, chúng ta thấy được một số hệ quả tiếp theo của lý thuyết thiết lập chương

trình nghị sự Thứ hai là, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự có thể được lợi dụng

để các cá nhân, tổ chức“dắt mũi dư luận” Ngày nay, cùng với sự phát triển của Internet

và mạng xã hội, việc thiết lập chương trình nghị sự trở nên dễ dàng hơn trong thế giới tin tức, nhưng những tin tức chúng ta coi hàng ngày liệu nó có đủ chính xác, đủ thông tin để công chúng đánh giá sự việc, để rồi công chúng mơ hồ mà tin vào nó? Phổ biến thông tin sai lệch - ngay cả khi nội dung, trong trường hợp vô hại, có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người Nhất là trong bối cảnh đại dịch toàn cầu COVID-19, vấn đề này trở nên nghiêm trọng hơn bao giờ hết Trong một loạt các video được đăng trực tuyến, người dùng mạng xã hội - hầu hết là người Mỹ - giải thích rằng đeo khẩu trang có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe Kết quả là sau đó, hàng trăm cuộc biểu tình phản đối đeo khẩu trang đã diễn ra làm phức tạp thêm tình hình dịch bệnh tại Mỹ, cũng như một số nước châu Âu khác.23

Ở một số quốc gia, những tin đồn về tình trạng khan hiếm lương thực sắp xảy ra đã khiến người dân tích trữ nguồn cung từ sớm khi có dịch và gây ra tình trạng thiếu hụt thực tế Tại Hoa Kỳ, một người đã tử vong do ăn phải sản phẩm làm sạch bể cá có chứa chloroquine sau khi đọc các báo cáo về một giả thuyết chưa được chứng minh rằng hydroxychloroquine có thể điều trị được COVID-19 Tại Cộng hòa Hồi giáo Iran, hàng trăm người đã chết sau khi uống rượu methanol mà các thông báo trên mạng xã hội cho rằng đã chữa khỏi bệnh coronavirus cho những người khác Đây là loại thông tin sai lệch nguy hiểm mà WHO đã cảnh báo về sự nghiêm trọng của vấn đề.24

Thứ ba, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự khiến truyền thông đại chúng

không làm đúng vai trò đưa tin của mình Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự là lý thuyết cho phép các hãng truyền thông và báo chí làm việc để cung cấp đến công chúng những nội dung có mục đích, được chọn lọc hoặc hạn chế cho người xem vì những lý

do nhất định Đôi khi lý do để làm điều này là vì lý do kinh tế, là vì việc đưa tin chịu ảnh hưởng bởi một tổ chức có quyền lực hơn như một doanh nghiệp hoặc chính phủ nhằm mục đích đánh lạc hướng người xem về nội dung khác Mặc dù nhiệm vụ của các

23 Alijani Ershad, Online videos falsely claim that face masks can cause CO2 poisoning, The Observers,

https://observers.france24.com/en/20200930-fake-videos-wearing-mask-could-lead-co2-poisoning, truy cập ngày 9/6/2021

24 World Health Organization, Immunizing the public against misinformation,

https://www.who.int/news-room/feature-stories/detail/immunizing-the-public-against-misinformation, truy cập ngày 08/06/2021

Trang 15

cơ quan truyền thông là cung cấp thông tin lành mạnh và trung thực cho công chúng, nhưng nhiều khi các doanh nghiệp, chính phủ, hoặc thậm chí chính các cơ quan truyền thông ở nhiều quốc gia đã thao túng phương tiện truyền thông để lọc thông tin mà họ không muốn công chúng biết và điều này gây ra thiết lập chương trình nghị sự Ở Mexico, đã có vô số ví dụ về cách chính phủ cố gắng kiểm soát những gì công chúng nhìn thấy và buộc thiết lập chương trình nghị sự Một ví dụ là cách một phóng viên nổi tiếng từ Mexico, Carmen Aristegui không được phép cung cấp tin tức vì cô ấy và nhóm của mình tập trung vào các vụ bê bối tham nhũng mà chính phủ đang phạm phải Đây

là một ví dụ về cách chính phủ cố gắng áp dụng việc thiết lập chương trình nghị sự bằng

dư luận và quan hệ công chúng Tuy nhiên, kéo theo đó là những hệ quả mà lý thuyết này đem lại là sự thiên vị truyền thông, sự lợi dụng để “dắt mũi dư luận” hay sự đưa tin thiếu trung thực của truyền thông Dù chỉ được tóm gọn trong vài câu chữ, nhưng đây chính là những tác động có thể khiến một xã hội loài người suy tàn hay phát triển Do

đó, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự phải thật sự được vận dụng một cách trung thực, có đạo đức bởi các phương tiện truyền thông đại chúng, được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của những cơ quan có thẩm quyền Lý thuyết nên được để lại để tạo ra một “ hiệu ứng domino” tích cực, nơi các phương tiện truyền thông có thể tác động đến mọi người về các chính sách có lợi của Nhà nước, và đóng vai trò như một trợ giúp cho việc đưa tin thông minh

25 Dudley Althaus And José de Córdoba, Mexican Journalist Carmen Aristegui Fired by Radio Station, The

Wall Street Journal, station-1426502138, truy cập ngày 10/06/2021

Ngày đăng: 08/02/2022, 15:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w